Âm mưu xâm lược của nhà Tống với triều Lý

by Moc Lam Quan

Tuy bị thất bại dưới tay vua Lê Hoàn nhưng nhà Tống vẫn chưa từ bò âm mưu cũng như ý đồ thôn tính và xâm lược nước ta. Trong thâm tâm, vua quan nhà Tống vẫn muốn rửa mối hận thất bại năm xưa bằng việc đánh chiếm nước ta một lần nữa.

Mưu đồ xâm lược của nhà tống - Tống thải tổ

Chân dung Tống Thái Tổ (969 – 976) (ảnh wikipedia)

Ngay buổi đầu độc lập, vào cuối thế kỷ X, với chiến công oanh liệt của quân dân nhà Tiền Lê, đứng đầu là Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (năm 981), đã đánh tan đạo quân xâm lược này, giữ vững vẹn toàn nền độc lập của dân tộc khiến nhà Tống phải giữ quan hệ thân thiện với nước ta trong suốt gần một thế kỷ. Tuy bị thất bại như vậy nhưng nhà Tống vẫn chưa từ bò âm mưu cũng như ý đồ thôn tính và xâm lược nước ta. Trong thâm tâm, vua quan nhà Tống vẫn muốn rửa mối hận thất bại năm xưa bằng việc đánh chiếm nước ta một lần nữa. Nếu đánh thắng và thôn tính được Đại Việt lần này thì nhà Tống sẽ thực hiện được “một công đôi việc” cà về đối nội lẫn đối ngoại đang đặt ra lúc đó.

Vốn từ một nước nhỏ ở trung tâm Trung Hoa, nhà Tống đã lần lượt thôn tính các nước xung quanh, rồi phát triển thành một đế chế hùng mạnh. Ở phía Tây và Nam, nhà Tổng đã dùng vũ lực đánh chiếm các nước Kinh Nam (vùng Hồ Nam), Vũ Bình, Hậu Thục (Tứ Xuyên), Nam Hán (Quảng Đông) và dụ hàng một loạt nước như Nam Đường (Giang Tây), Ngô, Việt (vùng Chiết Giang) và Mân (vùng Phúc Kiến), v.v… Nhưng ở phía Bắc thì nhà Tống lại rơi vào tình trạng hết sức khó khăn, thường xuyên bị các nước Liêu và Hạ uy hiếp. Liêu vốn là một nước nằm ở vùng Mãn Châu (Hà Bắc) thuộc tộc người Khiết Đan. Tộc Khiết Đan là tộc mạnh nhất của các ngoại tộc ở phía Bắc và tộc người này đã đánh chiếm được 16 châu của Trung Quốc, rồi lập ra nước Đại Liêu vào năm 937.

Khi vương triều Tống thiết lập thì hai nước Tống và Liêu trở thành lân bang. Năm 979, nước Tống đánh nước Liêu nhưng bị thất bại. Thấy tiến xuống phía Nam dễ, Tống Thái Tông quyết định cho quân đánh Đại Cồ Việt, nhưng đã bị thất bại thảm hại bởi chiến công của Lê Hoàn vào năm 981. Sau thất bại này, nhà Tống không dám nghĩ đến biên thuỳ phía Nam, mà tập trung vào mặt Bắc, lo mối họa Liêu và Hạ. Năm 986, Tống lại đem quân đánh Liêu nhưng vẫn bị thất bại. Năm 1004, Liêu đem quân đánh Tống, Liêu không thắng nhưng nhà Tống đã phải ký hoà ước với Liêu, mỗi năm nhà Tống phải nộp cho Liêu 20 vạn tấm lụa và 10 vạn lạng bạc. Nằm ở phía Tây Bắc nước Liêu, Hạ là một nước có từ thời nhà Đường, chiếm vùng Cam Túc và Ninh Hạ ngày nay. Lúc đầu nhà Hạ giúp Tống đánh Bắc Hán, sau lại theo Liêu chống Tống và được Liêu phong cho chúa làm “Hạ quốc chủ” (năm 986). Từ năm 1032, Hạ trở thành một nước mạnh, bên ngoài thì Hạ tỏ ra thần phục nhà Tống nhưng thực tế lại là đối thủ luôn uy hiếp Tống. Trong vòng 10 năm (1034 – 1044), liên tiếp xảy ra chiến tranh Tống – Hạ. Đối với Hạ, nhà Tống hàng năm cũng phải nộp 72.000 lạng bạc, 153.000 tấm lụa và 3.000 cân chè. Tuy được nhà Tống đối xử như vậy, nhưng cả hai nước Liêu và Hạ vẫn đưa yêu sách và chiến tranh giữa Tống – Liêu – Hạ vẫn còn xảy ra vào những thập kỷ sau (từ năm 1068 đến 1085), khiến nhà Tống vô cùng lao đao và còn phải tiếp tục cắt thêm đất cho Liêu ở Hà Đông tới 700 dặm nữa. Để đối phó liên tục với hai thế lực luôn đe dọa là Liêu và Hạ ở phương Bắc như vậy và mặt khác để khắc phục tình trạng khó khăn trong nước là dập tắt những phong trào nổi dậy của nông dân thì vào thời điểm này nhà Tống chưa thể có tâm trí nào để nghĩ tới Đại Việt ở phương Nam nên đành tạm gác ý đồ xâm lược.

Trong thời gian từ sau thất bại năm 981 đến bắt đầu thời Tống Thần Tông (1068 – 1085), quan hệ bang giao giữa hai nước Tống và Đại Việt phần lớn đều giữ thái độ hữu hảo, mặc dù không phải không có cơ hội đánh xuống Đại Việt, nhưng nhà Tống đều phải bỏ qua. Không những thế mà ngay cả khi phía Đại Việt có vài việc xảy ra ở bên đất Tống, nhà Tống biết nhưng cũng đều làm ngơ và còn tò thái độ xử sự rất mềm mòng. Những sự việc như vậy xảy ra vào vài chục năm đầu của triều Lý. Năm 1022, dưới triều vua Lý Thái Tổ của Đại Việt, dân ở Đại Nguyên lịch thuộc Khâm Châu và Như Hồng (đất Tống) tới quấy trấn Triều Dương (Hải Ninh, Quảng Yên – Quảng Ninh ngày nay). Vua Lý Thái Tổ đã sai Dực Thánh vương đi đánh. Dực Thánh vương đem quân vào tận đất Khâm Châu, đốt phá trại Như Hồng, đốt kho đụn ở đó rồi mới đưa quân về 1Toàn thư, quyển II, tập I, sđd, tr. 256. Năm 1028, có việc bất bình ở biên giới, phò mã Thân Thừa Quý của nhà Lý đã đem quân vào đất Tống … Thừa Quý bắt dân Tổng đem về.

Viên coi Ung Châu bàn hoà. Vua Lý Thái Tổ ưng thuận2Tục tư trị thông giám trường biên, dẫn theo Hoàng Xuân Hãn, trong Lý Thường Kiệt, Bản dịch Nxb. Văn học, Hà Nội, 1995, tr. 86. Năm 1034, dưới triều vua Lý Thái Tông, dân phía nhà Lý là Trần Công Vĩnh đem hơn 600 người vào đất Tổng, vua Lý Thái Tông đã sai hơn 1.000 quân tới biên giới đuổi bắt. Vua Tống Nhân Tông sợ sinh sự đã hạ chiếu trả những người đào vong ấy về cho nhà Lý và dặn “đừng giết chúng”3Tống sứ, dẫn theo Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 86. Năm 1050, viên coi Ung Châu đã dụ hơn 3.000 dân cùng các tù trưởng Vi Thiệu Tự, Vi Thiệu Khâm ở châu Tô Mậu. Vua Lý Thái Tông của Đại Việt đã đòi lại, vua Tống liền trả và dặn “phải ước thúc biên dân, kèo chúng xâm phạm nhau”4Tống sử, sđd, tr. 87.

Đấy là do tình thế chưa cho phép nghĩ đến phương Nam nên nhà Tống phải tỏ thái độ nhún nhường và làm ngơ, chứ thực ra vua tôi nhà Tống lúc nào cũng nghĩ tới và mong muốn chiếm được đất Giao Chỉ – một xứ sở hàng năm có biết bao của ngon vật lạ đem cống phú cho nhà Tống.

Không chỉ là xứ sở hấp dẫn bởi những sản vật quý mà còn hấp dẫn vì Giao Chi nằm ở vị trí quan trọng trên tuyến đuờng thông thương giữa Trang Quốc và các nước Nam Dương. Nhưng vì lúc ấy tình hình trong nước chưa cho phép xâm lược nên vua Tống phải có đối sách mềm mỏng với Đại Việt. Khi ấy, để đối phó với phương Bắc và cứu vãn những nguy cơ xã hội sắp bùng nổ trong nước, nhà

Tống đã phải kiệt quệ về tài chính. Cho đến đời vua Tống Thần Tông thì quốc khố trở nên trống rỗng. Đình thần trong triều đề nghị vua Tống thi hành những cải cách nhằm cứu vãn tình thế. Nhưng những cải cách đề ra dưới đời vua Tống Nhân Tông không thực hiện được. Đến năm 1068, khi Tống Thần Tông lên ngôi thì những nguy cơ khủng hoảng xã hội của nhà Tống đã trở nên trầm trọng.

Bang giao thời nhà lý

Bản đồ Nhà Tống và nước Đại Việt ( ảnh sưu tầm)

Tống Thần Tông thấy các vua triều trước Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông nhu nhược không làm được gì tốt hơn để cứu vãn nguy cơ của xã hội đang ngày càng trầm trọng nên ông đã chọn Vương An Thạch – một nho thần có biệt tài về kinh tế làm Tể tướng. Vương An Thạch đã ban hành một số tân pháp mang tính cải cách về tài chính và quân sự nhằm làm bớt gánh nặng cho dân, dồi dào quốc quỹ và tăng binh lực. Tân pháp của Tể tướng họ Vương ban hành vào lúc ấy, ít nhiều đã mang lại lợi ích cho dân, hoà hoãn phần nào mâu thuẫn giai cấp và tăng cường thêm được lực lượng quốc phòng. Nhung khi xuống thi hành ở cơ sở thì tân pháp này đã bị quan lại thực thi ở nhiều nơi lợi dụng cướp đoạt thêm ruộng đất của nông dân khiến cho đời sống người dân vẫn bị khổ cực và rồi họ lại nổi lên đấu tranh chống lại chính quyền thống trị. Trong khi đó, bên ngoài ở mặt Bắc, hai nước Liêu – Hạ vẫn uy hiếp. Trước tình hình đó, không còn con đường nào khác, Tống Thần Tông và Vương An Thạch quyết định đánh xuống Đại Việt. Với mục đích lập chiến công bên ngoài để làm lạc hướng đấu tranh của quần chúng bên trong và “nếu tháng thế Tống sẽ tăng và nước Liêu – Hạ sẽ phải nể”5Hoàng Xuân Hân, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 103. Nhưng, để yên bề phương Bắc quay về biên thuỳ Đại Việt ở phương Nam, Vương An Thạch đã phải chủ trương nhượng đất cho Liêu “muốn lấy thì phải cho đi đã”6Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 111 và đã được vua Tống ưng thuận cấp “700 dặm đất Hà Đông cho Liêu”7Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 111. Khi biên thuỳ mặt Bắc tạm yên, Tống Thần Tông và Vương An Thạch cùng quần thần trong triều đình nhà Tống mới rành tay quay về biên thuỳ Đại Việt, thực hiện ý đồ “đánh lấy nước yếu để dọa nước mạnh”. Đến đây, Đại Việt lại một lần nữa trở thành mục tiêu xâm lược chính của nhà Tống.

Thực hiện ý đồ sâu sa sẵn có, vua tôi nhà Tống lần này chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt rất khôn ngoan, thận trọng và chu đáo. Lúc ấy, thành Ung Châu nằm ở nơi tiếp giáp của hai con sông Tả Giang và Hữu Giang (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay); cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu (Quảng Đông) và các trại biên giới vùng Đông Bắc Đại Việt như Hoành Sơn, Thái Bình,

Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long đã được nhà Tống cho xây dựng thành một căn cứ hậu cần và quân sự vững chắc cho việc xuất quân xâm lược. Vùng đất gần sát biên giới Đại Việt là Quảng Tây thì triều đình nhà Tống đã có chiếu dụng Thổ đinh, cứ 3 đinh bắt một.

Nhưng viên Lưu Di phụ trách vùng này tâu mới chi mộ được “bảy phần mười số cũ”8Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 111. Đến đây, âm mưu và ý đồ xâm lược Đại Việt của vua tôi nhà Tống đã rõ ràng. Cuộc chiến tranh xảy ra giữa vương triều Tống và vương triều Lý của Đại Việt năm 1075 – 1077, có nguồn gốc sâu xa từ bên trong bản thân chế độ phong kiến nhà Tống, để giải quyết những vấn đề bế tắc về chính trị và xã hội của nhà Tống đương thời. Xâm lược Đại Việt chẳng qua là nhằm mục đích đánh lạc hướng đấu tranh của quần chúng đang nổi lên trong nước, dùng chiến công bên ngoài để uy hiệp quần chúng bên trong và cũng để trấn áp thêm những phe phái đối lập trong triều.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: 

You may also like