Âm mưu xâm lược Đại Việt của đế chế Nguyên Mông

by Moc Lam Quan

Âm mưu xâm lược Đại Việt từ lâu đã nằm trong kế hoạch chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Trong triều Nguyên – Mông, Đại việt đã phải 3 lần chống trả với sự xâm lược của phương Bắc.

Âm mưu xâm lược Đại Việt - quân Mông Cổ

Quân Mông Cổ (ảnh spiderum)

1. Âm mưu xâm lược Đại Việt

Âm mưu đánh chiếm Đại Việt từ lâu đã nằm trong kế hoạch chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Vừa mới lên ngôi Hân được một năm, năm 1252 Mông Ke (Mông Kha) đã ra lệnh cho em là Hốt Tất Liệt (Khubilai) đem quân đánh chiếm vùng Vân Nam, Trung Quốc. Năm 1253, Hốt Tất Liệt và Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai) vượt sông Kim Sa, đánh chiếm thủ đô nước Đại Lý. Vua nước Đại Lý là Đoàn Hưng Trí phải bỏ trốn rồi bị bắt ở Thiệm Xiển và đầu hàng quân Mông cổ. Đến năm 1256, toàn bộ vùng Vân Nam bị chia thành phù huyện đặt dưới sự thống trị của đế quốc Mông cổ.

Nước Đại Lý mất và trở thành bàn đạp để quân Mông Cổ tiến đánh Đại Việt và đánh nhà Tống từ hướng Tây Nam. Mông Ke – Chúa Mông cổ, chính thức đưa đại quân đánh Tống vào năm 1257. Mông Ke vạch kế hoạch chia quân Mông cổ làm 4 hướng tiến công: Đại quân gồm 4 vạn người đánh xuống Tử Xuyên do Mông Ke dẫn đầu, Hốt Tất Liệt chỉ huy 1 cánh quân đánh chiếm Châu Ngạc (Vũ Xương, Hồ Bắc), Tôgatrai đem 1 cánh quân vượt hạ lưu Trường Giang đánh vào Kim Sơn. Còn cánh quân của Ngột Lương Hợp Thai được lệnh từ Đại Lý đánh thẳng xuống Đại Việt.

Cánh quân này sẽ đánh vào châu Ung (Nam Ninh, Quảng Tây), châu Quế (Quế Lâm, Quảng Tây) tiến lên gặp các cánh quân ở châu Ngạc, sau khi chiếm được Đại Việt.

Cánh quân của Ngột Lương Hợp Thai như vậy sẽ trở thành một mũi dao đâm vào sau lưng nước Tống. Cánh quân này phải thực hiện hai nhiệm vụ: đánh chiếm Đại Việt và từ đây đánh lên Nam Tống. Quân Mông cổ quyết tâm chiếm bằng được đất Đại Việt để còn nhàm thực hiện kế hoạch to lớn và lâu dài của chúng là tấn công xuống các nước khác ở Đông Nam Á. Sách sử của triều Nguyên cho biết: “Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ định kế lâu dài”1Nguyên sử, a. 121, Ngột Lương Hợp Thai truyện.

2. Nhà trần củng cố lực lượng

Sau khi thành lập, ngoài việc tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh nhằm bảo vệ vương ừiều và nền độc lập dân tộc. Năm Kỷ Hợi (1239), vua Trần Thái Tông xuống chiếu chọn dân đinh người nào khoẻ mạnh sung làm lính, định ra ba bậc: thượng, trung và hạ. Tiếp đó, năm Tân Sửu (1241), Nhà nước lại chọn người có sức khoẻ, am hiểu võ nghệ để sung làm quân Túc vệ thượng đô.

Tuy vậy, phải sau 20 năm, quân đội nhà Trần mới được tổ chức quy củ, chu đáo. Mùa xuân năm Bính Ngọ (1246), các quân được quy định như sau: những người khoẻ mạnh sung làm quân Tứ Thiên (bốn vệ Thiên Thuộc: tiền, hậu, tả, hữu), Tứ Thánh (bốn vệ Thánh Dực) và Tứ Thần (bốn vệ Thần Sách). Mỗi quân hiệu Túc vệ được chọn dân đinh từ một số lộ nhất định. Trai đinh các lộ Thiên Trường (Nam Định) và Long Hưng (Thái Bình) sung làm quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần; trai đinh các lộ Hồng (Hài Dương) và lộ Khoái (Hưng Yên) sung làm quân Tả hữu Thánh Dực. Người lộ Trường Yên (Ninh Bình), Kiến Xương (Nam Thái Bình) sung làm quân Thánh Dực, Thần Sách. Còn người của các lộ khác thì sung làm cấm quân trong cấm vệ. Những người sức khoẻ hạng ba thì sung làm Trạo nhi (phu chèo thuyền chiến)2Toàn thư, tập II, sđd, tr. 21.

Năm Đinh Mão (1267), vua Trần Thánh Tông cho định quân ngũ, mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 người, chọn người trong tôn thất họ Trần giỏi võ nghệ, tinh binh pháp để trông coi. Sang đời Trần Anh Tông, năm Mậu Tuất (1298) lại cho đặt thêm các quân hiệu: Chân thượng đô, Thuỷ dạ xoa đô, Chân kim đô. Quân lính đều thích chữ Chân Kim vào trán. Đến năm Tân Hợi (1311) lại đặt thêm quân hiệu Toàn kim cương đô, cũng thích ba chữ ở trán theo lệ quân Chân thượng đô.

Năm Quý Sửu (1313) nhà Trần cho duyệt định Vũ quân, đổi quân Vũ Tiệp làm quân Thiết Ngạch, lấy Đại Liêu ban Trần Thanh Ly làm Vũ Vệ Đại tướng quân để quản lĩnh. Sang đời Trần Dụ Tông, năm Giáp Thân (1344) cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để đuổi bắt trộm cướp. Đặc biệt, năm Kỷ Sửu (1349) nhà Trần cho đặt Bình Hải quân để trấn giữ trấn Vân Đồn (Quảng Ninh).

Đời Trần Duệ Tông, năm Giáp Dần (1374), có một đợt tuyển quân lớn, chọn dân đinh sung vào quân ngũ: hạng nhất sung vào Lan đô, rồi đến hạng nhì, hạng ba. Người thấp bé nhưng mạnh khoẻ cũng được sung lên hạng trên. Đặt thêm các quân hiệu Uy Tiệp, Bào Tiệp, Long Dực, Thần Dực, Điểu Hậu. Ai cũng phải xăm vào trán để làm dấu ghi. Quân Túc Vệ thì trán xăm hoa, quân mới đặt thêm thì xăm chữ đan. Các lộ Thiên Trường, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Bình và Thuận Hoá đều có quân hiệu, đặt Đại đội trưởng và Đại đội phó để cai quản.

Quân các lộ có nhiệm vụ phòng giữ các địa phương trong nước và những nơi quan trọng, hiểm yếu. Nhà Trần đặt các phiên hiệu quân các lộ gồm: Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần (thuộc Sơn Nam); Tả Thánh dực, Hữu Thánh dực (thuộc Hải Dương); Thánh Dực, Thần Sách (thuộc Thanh Hoá và Sơn Nam hạ); Bình Hải quân (ở lộ Yên Quảng – Quảng Ninh)… Theo quy định năm 1344, mỗi lộ đặt 20 đô phong đoàn để bắt trộm cướp.

Ngoài quân Túc Vệ ờ kinh đô và quân các lộ do Nhà nước tổ chức, các quý tộc tôn thất họ Trần được phép có quân đội riêng. Tham gia các đội quân này phần lớn là gia nô, nô tỳ ở trong các điền trang, thái ấp của các vương hầu, quý tộc họ Trần. Những đội quân này thường được gọi là quân Vương hầu Gia đồng. Theo An Nam chí lược, quân Vương hầu Gia đồng cũng đặt thành các đô như: Đô Toàn Hầu, Đô Dược Đồng, Đô Sơn Lão… Lực lượng này cũng khá đông đảo. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản tuy còn nhỏ tuổi mà đã có một đội quân gồm các gia nô và thân thuộc đến hơn nghìn người. Khi có chiến tranh, các vương hầu cũng có quyền tuyển mộ đinh tráng ở các lộ làm lính dưới quyền mình. Thậm chí Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật còn thu nạp được cả những binh sĩ người Tống quy phục, lập thành đội quân Thát Đát nổi tiếng chiến đấu giỏi, đã lập được nhiều chiến công trong kháng chiến chống quân Nguyên.

Khi cần thiết, vua Trần có thể điều động quân của các vương hầu. Mùa thu năm Giáp Thân (1284), để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, nhà Trần đã có cuộc hội quân lớn ở Vạn Kiếp gồm hơn 20 vạn người trong đó ngoài quân của triều đình còn có quân của các vương hầu như Hưng Vũ vương Hiếu, Minh Hiếu vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Hiện…

Nhà Sử học Phan Huy Chú cho rằng, số quân buổi đầu nhà Trần, mỗi quân là 2.400 người. Tổng cộng các quân cấm Vệ và các lộ lúc bình thường khoảng 10 vạn người. Thế mà khi có chiến tranh điều động được số quân nhiều như thế, là vì lúc có việc, cứ chiếu số lấy hết những đinh tráng ra lính… Lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì đều hết sức chống cự. “Thế là đời Trần, nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh”3Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, H, 1961, tập IV, Binh chế chí, tr. 5-6.

Trần Quốc Tuấn - ngoại giao nhà Trần

Trần Quốc Tuấn (ảnh minh họa)

Để có thể thực hiện điều đó, nhà Trần cũng như nhà Lý, thực hiện chính sách Ngụ binh ư nông. Thư tịch bấy giờ cho biết: “Việc lấy quân không có số nhất định, chi chọn dân đinh nào khoẻ mạnh thì lấy. Cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ làm một đô, lại chọn 2 người nhanh giỏi dạy tập vũ nghệ. Khi nào có việc điều động thì gọi ra, khi không có việc thì trở về làm ruộng”4Lê Tắc, An Nam chí lược, quyển XIV.

Năm Giáp Thìn (1244), nhà Trần “định lương bổng của các quan làm việc trong ngoài và quân Túc Vệ”5Toàn thư, tập II, sđd, tr. 20. Nhà sử học Phan Huy Chú cho biết: “Nhà Trần theo phép nhà Lý, binh Túc Vệ đều cấp bồng hàng năm, số bổng bao nhiêu không rõ. Còn binh các đạo thì chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương”6Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chi, sđd, tập IV, tr. 20.

Quân đội thời Trần do những người tôn thất giỏi võ nghệ, tinh binh pháp trông coi và luyện tập khá chu đáo. Nhà Trần rất coi trọng luyện tập võ nghệ và duy trì, phát huy tinh thần thượng võ cho quân sĩ, đặc biệt là những người ở hương Thiên Thuộc được sung vào đội Cấm quân. Theo lệ cũ của họ Trần, quân sĩ Thiên Thuộc không được học văn nghệ vì là sợ khí lực kém đi. Năm Tân Tỵ (1281), vua Trần cho lập nhà học ở phủ Thiên Trường nhưng lại cấm không cho trai đinh ở hương Thiên Thuộc (tức trai đinh ở vùng Nam Định, Thái Bình) vào học. Quy định này được duy trì khá nghiêm ngặt. Chứng cớ là năm Quý Hợi (1323), vua Trần Minh Tông ngự đến nhà Thái học (ở Thăng Long) có người tên là Mộc vốn xuất thân ở trong quân Thiên Thuộc đã thi đỗ Thái học sinh nhưng vua vẫn hạ chiếu trả về quân tịch và chi được làm Lại điểm trong quân Thiên Đinh, về sau ông này dự thi võ (môn đấu trượng) lại đỗ bậc cao và được dùng vào hàng tướng võ. Coi trọng vũ thuật là lối sống của trai tráng các tầng lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ.

Thượng hoàng Nhân Tông đã từng nói: “Nhà ta vốn là người ở vùng Hạ Bạn, đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích rỗng vào đùi để tỏ là không quên gốc”7Toàn thư, tập II, sđd, tr. 86.

Các tướng lĩnh tôn thất họ Trần đều được học tập quân sự trong trường cao cấp ở kinh thành Thăng Long. Năm Quý Sửu (1253), đồng thời với việc lập Quốc học viện, tô tượng Chu Công và Á Thánh, vẽ tranh thất thập nhị hiền đề thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám thì nhà Trần cũng lần đầu tiên cho lập Giảng Võ đường làm nơi đào tạo các tướng võ8Toàn thư, tập II, sđd, tr. 25. Các tài liệu binh pháp, trong đó có Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại vương được dùng làm tài liệu học tập của các võ tướng. Tuy ngày nay văn bản gốc của sách này không còn nhưng dựa vào bài hịch viết năm 1284 của ông và lời tựa của Trần Khánh Dư thì có thể biết Trần Quốc Tuấn đã tìm hiểu và tổng kết kinh nghiệm chiến tranh của Trung Quốc cổ đại từ Xuân Thu đến tận đời Tổng, Nguyên. Đó là bộ sách giáo khoa quân sự sớm nhất trong lịch sử nước ta. Các tướng soái của nhà Trần đều là những người có học vấn cao, kiêm tài văn võ như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… Tư tưởng quân sự thời Trần đã đạt đến đỉnh cao.

Một trong những sở trường và ưu thế của quân đội thời Trần là thủy quân. Từ năm 1246, nhà Trần đã có lệ tuyển chọn lính chèo thuyền thành một ngạch riêng (gọi là Trạo nhỉ). Các cuộc tập trận và di chuyển quân trong các cuộc kháng chiến dưới thời Trần đều diễn ra trên sông, biển. Những chiến thuyền nổi tiếng của quân đội thời Trần mang các tên như: Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang… Vân Đồn là một căn cứ thủy quân quan trọng do Vân Đồn Phó tướng Trần Khánh Dư nắm giữ. Nhờ có thủy quân mạnh, nhà Trần đã phát huy sở trường của ta, hạn chế sờ trường của giặc, bát chúng phải đánh theo cách của ta. Các chiến thắng lớn của quân dân ta thời Trần đều diễn ra trên sông nước và cửa biển. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên đã thể hiện rõ việc tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của nhà Trần hồi thế kỷ XIII là đúng đắn và sáng tạo. Đó là quân đội có số lượng đông khi cần thiết, có chất lượng tinh vào loại bậc nhất thế giới đương thời. Quân đội đó lại được đặt dưới sự chỉ huy của vị tướng tài quân sự Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. 

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like