Bao Tự mỉm cười mà nhà Chu mất nước

by Lãnh Thành Kim

Nghe nói, đời Thương vì Đát – Kỷ gây loạn mà diệt vong, đời Chu chỉ vì cái mỉm cười của Bao Tự mà mất, đời Minh do tưởng giữ Sơn Hải Quan Ngô Tam Quế “giận vì hồng nhan”, mà kỹ nữ Trần Viên Viên trở thành thủ phạm của việc mất nước.

đát kỷ

Đát Kỷ ( tranh minh họa)

Đàn ông Trung Quốc thích đem tội làm loạn đất nước đổ lên đầu đàn bà, do vậy câu “Hồng nhan họa thủy” (Khách má hồng là nguồn tai họa) trở thành câu cửa miệng của đàn ông Trung Quốc. Nhất là khi tai nạn giáng xuống, đàn ông Trung Quốc thích dùng pháp bảo đó để người đàn bà chịu tội, còn mình thì hóa thân thành công thần của lịch sử, hoặc nhà tiên trị, chỉ ra họa phúc của tương lai.

Nghe nói, đời Thương vì Đát – Kỷ gây loạn mà diệt vong, đời Chu chỉ vì cái mỉm cười của Bao Tự mà mất, đời Minh do tưởng giữ Sơn Hải Quan Ngô Tam Quế “giận vì hồng nhan”, mà kỹ nữ Trần Viên Viên trở thành thủ phạm của việc mất nước; còn Đường Minh Hoàng vì sủng ái Dương Quý Phi mà gây nên “Loạn An Sử”, Hán Thành Đế vị sủng ái chị em Triệu Phi Yến, Triệu Hợp Đức mà làm cho Tây Hán suy vi, còn như suốt cả chiều dài lịch sử, những người đàn bà do được sủng ái hoặc do nhu cầu khác, mà liên can đến việc giết người thì càng không kể xiết.

Đàn ông Trung Quốc cũng nên độ lượng một chút! Dù cho đàn bà gây ra loạn nước thì đàn ông cũng nên ra dáng quân tử, gánh một phần trách nhiệm cho họ, để bỏ công “Tam tòng tứ đức” của chị em. Huống hồ, trách nhiệm gây ra loạn nước không phải tại họ. Chẳng tin, chúng ta hãy xem lại sự thực lịch sử.

Nghe nói, chuyện đàn bà làm mất nước có từ Tô Đát Kỷ đời Thương. Trụ vương nhà Thương từ nhỏ đã thông minh hơn người, sức khỏe vô địch, nói năng hùng biện, đáng lẽ trở thành vị quân vương tài giỏi, nhưng từ khi sủng ái Tô Đát Kỷ thì Trụ vương bỏ mặc triều chính, khiến nhà Thương diệt vong. Như người ta thường nói trời sinh báu vật, tất loạn quốc gia, lời lời như tạc, thật khó bề chối cãi. Vậy ta hãy xem Trụ vương đã làm những gì? Trước hết, ông ta liên tục gây chiến tranh, khiến cho quân tàn lực kiệt, nhân dân đói khổ. Sau nữa là sinh hoạt xa xỉ hoang dâm vượt xa các đời trước. Theo sử sách, ông ta cho đào những bể tắm lớn trong vườn, đổ nhiều rượu ngọt vào đó, lại cho treo thịt chín ở các cành cây xung quanh, gọi đó là “bể rượu rừng thịt” rồi cho đàn ông, đàn bà cởi truồng đùa nghịch trong bể để giúp vui cho ông ta uống rượu suốt đêm. Thứ ba, là tàn bạo coi thường mạng người. Trụ vương thích xem hổ ăn thịt người sống, thích moi tim người, thích giết đàn bà có thai. Một lần, để thử xem mình đoán có đúng không, ông ta đã cho mổ bụng ngay tại chỗ một người đàn bà đang có thai để lấy đứa bé ra để xem nó là trai hay gái. Còn những chuyện đục xương, khoét gối, mọi tủy thì

càng không kể nổi. Thứ tư, là giết đại thần bừa bãi. Chính ông ta đã sáng tạo ra một dụng cụ đốt người kinh tởm gọi là bào lạc, đó là đem người trói vào cột đồng dùng than đốt cột để cho người dần cháy thành tro. Tội ác của Trụ vương, đúng là trúc rừng ghi không hết tội, nước biển rửa không sạch. Nếu đời Thương không diệt vong, thì thật không còn lẽ phải trong trời đất nữa. Thế thì liên quan gì đến Đát Kỷ chứ?

Thực ra trong lịch sử Trung Hoa, nổi tiếng nhất vẫn là Bao Tự. “Bao Tự mỉm cười, nhà Chu mất nước” là câu thành ngữ đã khái quát rõ ràng câu chuyện mà ai ai cũng biết này.

Cái cười của nàng Bao Tự có liên quan đến sự diệt vong của Tây Chu, nhưng không phải do cái “cười” mà nhà Chu diệt vong, chính cái con người tìm cách làm cho Bao Tự “cười” mới là thủ phạm

Câu chuyện Chu U vương bị giết vì sủng ái nàng Bao Tự, con là Chu Bình vương thiên đô sang phía Đông mà Tây Chu bị diệt vong. Nhưng nếu nói vì một cái cười của Bao Tự mà nhà Chu mất thiên hạ thì phải kể từ đời ông cha của U Vương là Chu Tuyên vương mới đúng.

Năm 40, đời Chu Tuyên vương (năm 788 trước Công nguyên), có lời đồn rằng nhà Chu sẽ bị diệt vong vào tay một nữ yêu tinh. Mọi lời đồn đều có nguyên nhân lịch sử xã hội của nó từ trước. Lúc đó, triều chính hủ bại, nhân dân cực khổ không sao chịu nổi chỉ mong triều đại đương thời sớm diệt vong. Người ta nghĩ rằng thời trước (nhà Thương) đã bị diệt vong trong tay “nữ yêu tinh” Đát Kỷ nên mới tung ra lời đồn này để nguyền rủa triều đình Chu, nếu Chu Tuyên vương nhìn ra được sự bất mãn của dân mà kiểm tra việc triều chính, lo nghĩ cho dân, thì tiếng đồn đó tự khắc sẽ mất.

Nhưng ông ta đã bị tiếng đồn đó làm cho hoảng sợ mà trở nên lú lẫn. Ông ta cho một vị đại thần là Đỗ Bá đi bắt nữ yêu tinh. Thôi thì ai bị nghi là nữ yêu tinh đều không còn đường sống, biết bao phụ nữ bị sát hại. Cho nên cả nước sống trong bầu không khí lo sợ, tiếng đồn không những không bị dập tắt mà còn mạnh hơn, điều vốn là giả lại nhanh chóng biến thành thật.

Ba năm sau, tức là năm 785 trước Công nguyên (Chu Tuyên vương năm thứ 43), Chu Tuyên vương nằm mộng thấy một nữ yêu tình đến giành ngôi vua. Ông ta vô cùng sợ hãi liền nghĩ tới chuyện bắt yêu tinh, lại định sai Đỗ Bá đi giết người. Đỗ Bá là người tương đối đứng đắn, không muốn giết hại nhiều người, bèn nói với Tuyên vương rằng không có yêu tinh, nếu đi bắt nữa làm dân chúng hoang mang e sẽ làm cho nước nhà diệt vong. Tuyên Vương tức giận sai giết Đỗ Bá. Người bạn của Đỗ Bá là Tả Nho vì can gián Chu Tuyên vương cũng suýt bị giết, về nhà uất quá bèn tự sát. Sau cái chết của hai vị đại thần, Chu Tuyên vương tinh thần hoảng hốt, đứng ngồi không yên. Một lần đi săn cùng các chư hầu, thấy trong người khó chịu, bèn đánh xe về trước. Trên xe Chu ngủ gật, thấy Đỗ Bá và Tả Nho mặc áo đỏ, đội mũ đỏ cầm cung tên đỏ bắn mình, thấy đau nhói trong ngực và tỉnh lại. Từ đó đổ bệnh mà chết.

Chu Tuyên vương không bắt được yêu tinh mà lại bỏ mạng già. Nền thống trị của Tây Chu thật đã quá hủ bại, ngày diệt vong chắc chẳng còn xa.

Điều thú vị là, nữ yêu tinh không làm diệt vong Tây Chu trong tay Tuyên vương, mà đến đời con là Chu U vương thì có một nữ yêu tinh thật, đó là yêu tinh Bao Tự mà cái cười của nàng đã làm cho Tây Chu ngói tan gạch nát. Chẳng lẽ tiếng đồn đã linh nghiệm?

Nếu Tuyên vương đã hôn muội, hồ đồ và tàn bạo thì về mặt này U vương còn vượt ra xa không kể xiết. Về mặt ăn chơi, U vương được xếp hàng đầu trong các vua chúa phong kiến Trung Quốc. Ngoài rượu thịt và đàn bà thì U vương không còn thiết gì đến việc khác nữa.

Ông ta sai đại thần lùng bắt gái đẹp để dâm lạc, về sinh hoạt vật chất tuy không bày trò “bể rượu rừng thịt” như Trụ vương, nhưng cũng vô cùng xa xỉ. Như vậy U vương không còn nghe lời can gián thẳng ngay, mà chỉ thích những lời xu nịnh. Khắp nước oán giận, nhà Tây Chu đã đến ngày diệt vong.

U vương lên ngôi được một năm thì kinh đô gặp động đất. Theo Kinh Thi ghi lại, trận động đất này “núi lở, sông sôi, bờ cao thành vực, vực sâu thành mồ”. Sau động đất là đại hạn, “ba sông khô kiệt”. Thiên tại liên tiếp làm đời sống trăm họ càng thêm cực khổ. Động đất, hạn hán vốn là hiện tượng tự nhiên, nhưng xã hội cổ đại coi đó là trừng phạt của trời. Nếu con người không xem lại mình, không sửa chữa sai lầm để đất trời tha thứ, che chở, thì sẽ bị diệt vong. Sau trận động đất ở Cảo Kinh, đại thần Triệu Thúc Đới dáng thư can giản U vương. Ông nói: Động đất, núi lở, hạn hán là sự trừng phạt của trời, Thiên vương nên tìm những người tài cán ngay thẳng để sửa sai quốc sự, mong trời tha thứ. Trong lúc tai họa dồn dập thế này, sao còn cho người đi tìm gái đẹp? U vương vì xấu hổ mà giận dữ, bèn cách chức Thúc Đới, đuổi ông ra khỏi cửa. Đại thần Bao Hướng phẫn uất, nói với U vương: “Thiên vương không sợ thiên tai, không lo việc nước, nghe lũ tiểu nhân, lánh xa hiền thần, cứ như vậy, nước nhà sẽ không giữ được”. U vương không phân trái phải, tống giam ông vào ngục. Từ đó không ai dám can gián U vương nữa.

Bao Hướng ở trong ngục đã ba năm. U vương hình như đã quên ông, có lẽ phải ở tù suốt đời. Gia đình Bao Hướng rất sốt ruột, muốn tìm cách cứu ông ra tù. Họ biết U vương thích gái đẹp nên đã dùng trăm phương nghìn kế để có được nàng Bao Tự đem dâng vua. Quả là ứng nghiệm, Bao Hướng được thả ngay. .

Thực ra, nếu loại bỏ những huyền thoại của đời sau thì chúng ta có thể biết rằng Bao Tự chỉ là một cô gái xuất thân từ nghèo khổ. Ngay từ thời Chu Tuyên vương đã lưu truyền câu ca dao: “Cung dâu túi cơ, tiêu diệt nhà Chu”, ý nói dùng cung làm bằng gỗ dâu, tên đựng trong túi bằng cỏ cơ sẽ diệt được nhà Chu.

Cũng như lời đồn đại triều nhà Chu sẽ mất vì nữ yêu tinh, câu ca này phản ánh sự chán ghét của dân chúng với những cuộc chiến tranh liên miên thời nhà Chu, nhưng U vương hôn muội cũng tin rằng nhà Chu có thể bị diệt vong vì hai thứ đó, bèn ra lệnh cấm chế tạo và mua bán hai thứ này. Vừa lúc có cặp vợ chồng già không biết có lệnh cấm mang cung bằng gỗ dâu và túi tên bện bằng cỏ cơ vào thành bán. Chu U vương nghe biết ra lệnh bắt. Hai vợ chồng già vội chạy trốn, trên đường ra ngoại thành, họ nhặt được một đứa bé gái bị bỏ rơi, mang về nuôi, và đứa bé gái sau trở thành nàng Bao Tự. Đến đây thì tiếng đồn về nữ yêu tinh và cung dâu làm nhà Chu diệt vong đã đến lúc ứng nghiệm.

Bao Tự xuất thân nghèo khổ, mặc dầu có sắc đẹp trời cho, nhưng không biết ca múa. Người nhà Bao Hướng tìm thấy nàng, đã mua với giá cao, đem về, đặt tên là Bao Tự, dạy múa hát và cách hầu hạ quân vương, sau đó dâng cho U vương. U vương vừa nhìn thấy Bao Tự lập tức như bắt được vàng. Bao Tự có vẻ đẹp tự nhiên trời cho, hồn hậu, khỏe mạnh, làm U vương mê mệt. Nhưng chỉ có điều làm U vương thấy đáng tiếc là nàng không bao giờ cười. Nếu như truyền thuyết lịch sử là có thật, thì điều này cũng dễ hiểu vì nàng Bao Tự xuất thân nghèo khổ, chẳng muốn dâng mình cho hôn quân, tuy sống trong nhung lụa mà lòng vẫn rầu rầu không vui.

Chu U vương tuy có Bao Tự sớm tối theo hầu, đêm ngày gần gũi, nhưng càng như vậy càng thấy Bao Tự thật là một người đẹp lạnh lùng, chỉ mong ước làm cho nàng cười lên một tiếng. U vương đã tìm mọi cách nhưng không làm sao cho nàng cười được. Cuối cùng, bí quá đành yết bảng treo thưởng, ai làm cho Bao Tự cười được, sẽ thưởng ngàn lạng vàng. Đó cũng chính là xuất xứ của thành ngữ “Nụ cười đáng giá ngàn vàng”.

bao tự - nhà chu mất nước

Bao Tự (ảnh minh họa)

Thế là không hiểu bao nhiêu kẻ hám tiền đến hiến kế, nhưng không ai làm cho nàng cười được, mà chỉ khiến nàng thêm tức giận. Có một gã tiểu nhân là Quốc Thạch Phụ khéo xu nịnh. Hắn nghĩ ra một kế là xin vua cho đốt Phong hỏa đài, khiến các chư hầu đem binh mã đến không thấy có quân địch sẽ tức tối ầm ĩ, Bao Tự thấy tình cảnh ấy nhất định sẽ cười.

Nhà Chu lúc bấy giờ không những về kinh tế mà cả về quân sự, đều dựa vào các nước chư hầu xung quanh. Độ thành Cảo Kinh của nhà Tây Chu nay thuộc huyện Trường An thành phố Tây An, phía Đông và phía Bắc đều cận kề các dân tộc thiểu số Nhung, Địch, rất dễ dàng bị tập kích. Cho nên nhà Tây Chu mới cho xây Phong hỏa đài ở chân núi Ly Sơn. Ngày xưa, Phong hỏa đài vốn được dùng để báo động. Nếu chẳng may có địch, người ta lập tức đốt lửa ở Phong hỏa đài để báo động, ngày thì có khói bốc cao, đêm thì có ánh lửa rực sáng, ngoài mấy chục dặm cũng trông thấy. Mỗi khi Phong hỏa đài đốt lửa, có thể báo tin khắp nơi, các chư hầu lập tức đem quân đến ứng cứu.

U vương hôn muội đã nghe lời Quắc Thạch Phụ. Ngày Chu U vương đưa Bao Tự tới đó, chú của U vương là Trịnh Bá Hữu biết chuyện này, sợ sinh loạn bèn đến khuyên ngăn nhưng U vương đâu chịu nghe, nói rằng mình muốn đốt lửa chơi cho đỡ buồn. Thế là U vương cho đốt lửa ở Phong hỏa đài. Các tiểu chư hầu lân cận vội đem quân tới đô thành Cảo Kinh, nghe nói thiên vương ở Ly Sơn, lại vội dẫn quân tới, nhưng không thấy có vẻ chiến trận mà cũng chẳng có chuyện gì xảy ra. U vương đứng trên đài cao hết xuống: “Các người vất vả quá rồi đấy, chẳng có địch gì đâu, hãy về đi! Các chư hầu bị trêu tức như vậy vô cùng giận dữ. Binh mã chư hầu đủ mầu cờ sắc áo bỗng trở nên lộn xộn như ong vỡ tổ, quang cảnh thật buồn cười. Bao Tự thấy cảnh kỳ cục như vậy, nghe nói đúng là có nhếch mép cười nhạt: “Khéo bày trò”. Đó là câu chuyện lịch sử nổi tiếng về Phong hỏa đài đánh lừa các chư hầu.

Bao Tự sinh cho U vương một con trai, đặt tên là Bá Phục. U vương vốn rất sủng ái Bao Tự, bèn lập nàng làm hoàng hậu, lập Bá Phục làm thái tử, phế bỏ hoàng hậu cũ và thái tử Nghi Cứu. Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, việc lập hoàng hậu và thái tử xưa nay là việc lớn trong triều, nên việc làm của U vương gây nên náo động, mà thân thế gia đình hoàng hậu cũ đâu phải tầm thường: Nàng vốn là con gái của Thân hầu.

Thái tử Nghi Cữu chạy sang nước Thân khóc lóc kể lại cho Thân hầu nghe. Thân hầu nghĩ việc này rồi vua cũng không tha tội cho mình, nên vừa sợ, vừa uất. Thân hầu,để bảo vệ mình và để được hả giận, đã ngầm liên kết với các nước láng giềng và Khuyển Nhung cùng tiến công Cảo Kinh. Khuyển Nhung vốn muốn đánh cướp Cảo Kinh, nhưng chưa có cơ hội, lần này được nước Thân hẹn, lại biết rằng sẽ không có chư hầu mang quân đến cứu viện Tây Chu, nên nhận lời ngay.

Khi quân tới thành, U vương sai Quắc Thạch Phụ đi đốt lửa ở Phong hỏa dài, liền mấy ngày đêm chẳng có quân chư hầu nào đến, vì đương nhiên họ cho đó là trò gây cười cho Bao Tự, không hơi đâu mà dẫn quân đến.

Cảo Kinh không có bao binh mã, đại tướng Trịnh Bá Hữu chống cự được một trận, rồi lực mỏng thế cô bị quân địch vây hãm bắn chết. U vương cùng thái tử Bá Phục chạy về Ly Sơn cũng bị Khuyển Nhung bắt và giết chết. Nàng Bao Tự xưa nay chỉ cười có một lần đang bị mắc kẹt lại trong thâm cung, cũng bị bọn Khuyển Nhung bắt đi. Đại tướng Trịnh Bá Hữu vốn là quốc quân của nước Trịnh. Con ông nghe tin ông chết trận, bèn dẫn đại quân sang phục thù. Quân nước Trịnh vốn mạnh lại quyết chi trả thù, đã liên tiếp chiến thắng ở Cảo Kinh. Thân hầu vốn chỉ định mượn binh mã của Khuyển Nhung để ép U vương khôi phục lại ngôi hoàng hậu và thái tử cho con gái và cháu ngoại, không ngờ lại dẫn tới cục diện này lấy làm hối hận, ngầm viết thư cho các chư hầu viện trợ. Khuyển Nhung sự quân chư hầu đến bên cướp sạch của cải châu báu của nhà Chu, đốt Cảo Kinh rồi rút lui. Sau khi Khuyển Nhung rút, Thân hầu, Lỗ hầu và Hứa Văn Công lập thái tử Nghi Cửu làm vua, gọi là Chu Bình vương.

Mặt khác, bọn Quốc Công Hàn lại lập Huề vương, từ đó sinh ra Lưỡng Chu. Bình vương được các chư hầu mạnh giúp độ. Hơn mười năm sau, nước Tấn đánh giết được Huề vương, nhà Chu mới lại thống nhất. Nhưng Cảo Kinh gần Khuyển Nhung hay bị tập kích, khó phỏng giữ, hơn nữa nhà cửa bị hủy hoại nhiều. Bình vương quyết định dọn về Lạc Ấp (tức Lạc Dương ngày nay). Năm 770 trước Công nguyên, được sự bảo vệ của Chư hầu Chu Bình vương dời đô. Tây Chu coi như diệt vong, Đông Chu hình thành. Nhưng nhà Chu lúc này đã yếu, đất mình còn không giữ nổi, sao ra lệnh được cho chư hầu, nên trên thực tế, nước Chu đã bại vong từ thời Đông Chu. Đông Chu chỉ còn là một chư hầu hạng trung, lịch sử Trung Hoa bước sang thời kỳ Xuân Thu.

Bài học diệt vong của nhà Tây Chu, đương nhiên chủ yếu là do cuối đời, các vua hoang dâm vô đạo, bỏ mặc triều chính. Chế độ thống trị phong kiến Trung Hoa xưa nay vẫn thường như vậy. Các vua sáng lập hoặc kế cận thường rút ra được bài học của sự bại vong triều trước mà giữ mình, lo cho nước. Càng về sau, chế độ chuyên chế quân chủ thế tập càng tạo nên quyền lực vô biên cho vua chúa. Họ tha hồ làm bậy và từ triều này sang triều khác, sự hoang dâm vô đạo luôn dẫn đến bại vọng. Điều đó đã trở thành quy luật. U vương sở dĩ bại vong là do bày trò đốt Phong hỏa dài và phế truất Thân hầu cùng Thái tử.

Tục ngữ nói: Quân vô hí ngôn (Làm vua không nói đùa). Vua nói mà không giữ tín thì sẽ mất lòng tin. Không thể lấy chính sách, pháp lệnh làm trò chơi. Ụ vương đốt Phong hỏa đài làm trò chơi, có lẽ trần gian có một. Một ông vua mà đem xã tắc ra làm trò đùa, không hề lo nghĩ việc quốc gia như vậy mà vẫn ngồi chắc được ngôi vua thì thật trời xanh không có mát.

Việc phế lập hoàng hậu, thái tử là việc đại sự hàng đầu của Quân vương. Lịch sử Trung Hoa đã chứng kiến biết bao cuộc bạo loạn do việc này gây ra. Tây Chu đã yếu, hoàng hậu cũ là con của Thân hầu, phế bỏ mà không nghĩ đến thế lực của thân thích thi hậu hoạn khôn lường. U vương phế Thân hầu, muốn giết thái tử thì lại để thái tử trốn mất, muốn trị tội Thán hầu lại để lộ và cho tự do hoạt động. Sự diệt vong của Chu U vương thật không phép mẫu nào cứu nổi.

Bao Tự chịu tai tiếng trong lịch sử, thực ra là người vô tội. Là người con gái bần hàn, nàng không làm chủ được vận mệnh mình, mặc cho người khác trao tay. Một cái cau mày, một nụ cười của nàng không liên quan đến việc hưng vong thành bại, mà tự cổ chí kim, mọi người đều đổ lên đầu nàng tội làm mất nước Chu. Đúng như Lỗ Tấn nói: “Tôi xưa nay không tin cách nói xưa là Chiêu Quân xuất tái làm yên được Hán, Mộc Lan tòng quân giữ được Tùy; cũng không tin là Đất Kỷ làm mất nước Ân, Tây Thi làm mất nước Ngô, Dương Quý phi làm loạn nước Đường. Tôi cho rằng trong xã hội nam quyền, người đàn bà không có được sức mạnh lớn như vậy, trách nhiệm hưng vong đều phải do đàn ông gánh chịu. Những nhà văn đàn ông xưa nay cứ đổ tội bại vong lên đầu phụ nữ chỉ là những người đàn ông hèn, không đáng một xu”.

Có lẽ từ câu chuyện nụ cười nàng Bao Tự làm mất giang san nhà Chu, phái nam nhi cũng nên nhận ra một điều gì đó.

Nguồn: Quyền trí Trung Hoa

Xem thêm: 

You may also like