Cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2

by Moc Lam Quan

Cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai diễn ra vô cùng gay go, ác liệt và đã kết thúc thắng lợi với các chiến công vang dội: Hàm Từ, Chương Dương, Tây Kết… Ngày 9 – 7 – 1285, Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng triều đình tiến về kinh đô Thăng Long.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2 (ảnh minh họa)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông cổ lần thứ nhất vào năm Nguyên Phong 7 (1258) đã giữ vững được nền độc lập và chủ quyền của quốc gia Đại Việt. Đất nước hòa bình trong hơn một phần từ thế kỷ (1258 – 1284). Nhưng nguy cơ ngoại xâm chi mới được đẩy lùi chứ chưa phải đã hết. Đế quốc Mông cổ đang trên đà phát triển và chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược các nước phía Đông và Đông Nam Á. Vì thế, đây là thời kỳ đấu tranh ngoại giao vừa quyết liệt vừa khôn khéo của vua tôi nhà Trần với các đoàn sứ thần Mông cổ.

Vừa mới chạy thoát thân về đến Vân Nam, năm 1258 Ngột Lương Hợp Thai đã lại sai sứ sang dụ vua Trần sang chầu vua Nguyên. Hành động ngang ngược đó liền bị nhà Trần đáp lại thích đáng. Vua Trần Thái Tông sai trói sứ giả của giặc lại rồi đuổi về. 

Sau khi Mông Ke chết, năm 1260, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Đại Hãn. Cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đế quốc Mông cổ khiến chúng phải tạm ngừng cuộc tấn công Nam Tống và nới lòng hom trong quan hệ với Đại Việt.

Khi lên ngôi Hãn năm 1271, Hốt Tất Liệt đổi quốc hiệu là Nguyên, thống trị cả vùng đất Trung Quốc, tăng cường dùng sức ép ngoại giao hòng khuất phục triều Trần. Trong vòng hai mươi năm liền, nhà Nguyên đã liên tiếp phái nhiều đoàn sứ giả sang Đại Việt dụ dỗ, yêu sách, đe dọa ngày càng trắng trợn đối với vương triều Trần.

Nhà Trần đã vận dụng sách lược ngoại giao rất mềm dẻo, khôn khéo để có thể vừa bảo vệ được độc lập, hòa bình, vừa kéo dài thời gian xây dựng đất nước, củng cố lực lượng kháng chiến. Với phương châm đó, nhà Trần phải nhượng bộ một số mặt về ngoại giao như: nhận lễ phong vương của nhà Nguyên và nộp cống định kỳ 3 năm một lần; chấp nhận để cho nhà Nguyên đặt chức giám sát (Đạt lỗ hoa xích – một chức quan giám trị) bên cạnh triều đình. Tuy nhiên, những viên quan này hoàn toàn bị kiềm chế và vô hiệu hóa. Đối với những yêu sách của giặc xâm phạm đến quốc thể và chủ quyền như bắt vua Trần sang chầu, nộp con em làm con tin… thì nhà Trần tìm mọi lý lẽ để từ chối hoặc trì hoãn không thực hiện.

Vua Trần không chịu lạy chiếu thư của vua Nguyên. Những sứ thần nhà Nguyên tỏ ra quá hống hách, láo xược thỉ bị triều Trần dùng biện pháp cảnh cáo.

Tuy nhiên, quan hệ ngoại giao đó chi là sách lược hòa hoãn tạm thời. Năm 1279, nhà Nguyên đánh bại nhà Tổng và chiếm được toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc thi các nước Đại Việt, Chiêm Thành, Miến Điện, Inđônêxia trở thành mục tiêu xâm lược chủ yếu của nhà Nguyên.

Cuối năm 1279, để kiếm cớ phát động cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai, vua Nguyên sai Thượng thư Bộ Lễ là Sài Xuân sang hạch sách về việc vua Trần lên nối ngôi không xin mệnh lệnh của nhà Nguyên và bắt Trần Nhân Tông sang chầu. Vua Trần phải đặt yến tiệc ở điện Tập Hiền để tiếp đãi Sài Xuân và sau đó sai Trịnh Đình Toàn và Đỗ Quốc Kế sang sứ nhà Nguyên xin miễn việc sang chầu.

Đoàn sứ giả nước ta sang nước Nguyên vào năm 1280, vua Nguyên đã ra lệnh giữ chánh sứ Trịnh Đình Toàn ở lại và tiếp tục sai Sài Xuân, Lương Tăng cùng Đỗ Quốc Kế đem chiếu thư sang Đại Việt đòi bằng được vua Trần vào chầu. Lần này vua Nguyên ra điều lệnh hết sức ngang ngược: nếu không vào chầu được thì phải đem vàng thế mạng, lấy hai hạt ngọc châu thay mắt, nộp hiền sỹ, phương kỷ, con trai, con gái, thợ giỏi, mỗi loại hai người để thay dân. Nếu không thì hãy sửa sang thành trì để chờ xét xử. 

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2 (ảnh minh họa)

Lần này nhà Trần đang chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, nhung để kéo dài thêm thời gian hòa hoãn, năm 1281, vua Trần Nhân Tông đã sai chú họ là Trần Di Ái và có Lê Tuân, Lê Mục cùng đi theo Sài Xuân sang chầu thay mình. Vua Nguyên dùng sách lược chia rẽ, mua chuộc, đã phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, lập ra một triều đình bù nhìn từ trên đất Nguyên rồi phái hom một nghìn quân hộ tống về nước.

Được tin những viên quan nhà Nguyên và triều đình bù nhìn về đến biên giới, vua Trần Nhân Tông một mặt ngầm sai quân đón đánh khiến Trần Di Ái hoảng sợ phải trốn về nước chịu tội đi đày; mặt khác, nhà Trần vẫn nhún nhường, ân cần tiếp đón sứ giả Sài Xuân.

Âm mưu đặt Tuyên úy ty và lập triều đình bù nhìn Trần Di Ái của vua tôi nhà Nguyên đã hoàn toàn thất bại. Đến đây, có thể coi thời kỳ đấu tranh về ngoại giao đã kết thúc. Nhà Nguyên bắt đầu sai tướng, điểm binh để xâm lược Đại Việt bằng vũ lực. Khi Toa Đô thất bại ờ Chiêm Thành và hai vạn thủy quân tăng viện của giặc Nguyên do Hốt Đô Hô và Ô Mã Nhi cầm đầu bị tan tác vì gặp bão ở vùng biển nước Chiêm Thành thì vua Nguyên càng muốn mau chóng chiếm được Đại Việt để làm căn cứ trên đất liền cho kỵ binh Mông cổ tiến xuống phương Nam. Rút kinh nghiệm thất bại từ lần xâm lược trước (1258), lần này vua Nguyên Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm đến 50 vạn quân (kể cả số tàn quân từ Chiêm Thành trở về) đặt dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan (To Yan) và A Lý Hải Nha (Arickhaya). Thoát Hoan là con của vua Nguyên Hốt Tất Liệt, được phong là Trấn Nam vương vào giữa năm 1284 còn A Lý Hải Nha là viên tướng giỏi người Uigur đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc chinh phục Nam Tống, được vua Nguyên xếp vào loại công thần của triều đình nhà Nguyên. Bên cạnh A Lý Hải Nha (Arickhaya) còn có Lý Hằng – viên tướng từng đánh bại được Văn Thiên Tường và triều Nam Tống. Ngoài ra, trong đạo quân xâm lược Đại Việt lần này còn có nhiều tên tướng khác đã từng dày dạn chiến trận ở miền Nam Trung Quốc.

Thoát Hoan đã truyền lệnh cho Toa Đô đem quân từ Ô Lý, Việt Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay) đánh ra phía Nam Đại Việt để tạo thành hai gọng kìm đánh Đại Việt từ cà hai đầu Bắc, Nam. Lo cung cấp cho đạo quân viễn chinh khổng lồ này, nhà Nguyên đã bắt dân chúng ở miền Nam Trung Quốc phải nộp thóc gạo và đi phu dịch rất cực khổ để vận chuyển lương thảo xuống phương Nam. Hốt Tất Liệt còn cho chuẩn bị thuốc men và huy động đội ngũ thầy thuốc giỏi đi theo phục vụ đội quân viễn chinh hòng khắc phục tình trạng khí hậu nóng ẩm khắc nghiệt ở phương Nam. Trong số những thầy thuốc đi theo đội quân của Thoát Hoan có Trâu Tôn. Về sau Trâu Tôn bị bắt, khi được tha đã ở lại Đại Việt để sinh cơ lập nghiệp.

Để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nguyên chắc chắn sẽ xảy ra, nhà Trần đã tiến hành một loạt biện pháp nhằm đưa cả nước vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Mùa đông, tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1 – 1 1 đến 1 – 12 – 1282), hai tháng sau khi được tin từ viên Trấn thủ Lạng Châu là Lương uất báo việc nhà Nguyên đem 50 vạn quân tinh nhuệ, nói phao là mượn đường đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực chất là đến xâm lấn nước ta, vua Trần đã ngự ra Bình Than, đóng ở Trần Xá Loan (thuộc vùng Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay) họp các vương hầu và trăm quan để bàn kế sách đánh giữ và chia quân đi đóng giữ những nơi hiểm yếu. Tại hội nghị này, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư từng phạm tội bị giáng truất phải làm nghề bán than lại được dùng làm Phó đô tướng quân. Các vương hầu trẻ tuổi như Hoài Nhân vương Kiện và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản còn nhỏ không được dự bàn nhưng cũng quyết chí góp sức chống giặc ngoại xâm. Trần Quốc Toản trở về tự tổ chức đội quân gia nô và thân thuộc đông tới nghìn người, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, ngày đêm luyện tập võ nghệ, chờ cơ hội diệt giặc lập công. Trên lá cờ của đội quân do người anh hùng niên thiếu chỉ huy có thêu 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau hội nghị quân sự Bình Than, Thái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư.

Mùa đông, tháng 10 năm Quý Mùi (11 – 1283), vua Trần cùng các vương hầu điều động quân thủy bộ tập trận. Dịp này, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội và được chọn những người có tài làm tướng chỉ huy các quân hiệu. Giữa lúc cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã ra Hịch tướng sĩ. Bài Hịch đã có tác dụng khích lệ, cổ vũ lòng yêu nước và thúc giục các tướng sĩ hăng hái luyện tập binh mã để giết giặc lập công.

Mùa thu, tháng 8 năm Giáp Thân (9 – 1284), Hưng Đạo Vương điều động quân của các vương hầu để duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu rồi chia quân để đóng giữ Bình Than và các nơi xung yếu.

Điện tiền Phạm Ngũ Lão và Quản quân Nguyễn Lộc được lệnh đưa quân đóng giữ vùng Tuyên Quang, Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng giữ vùng Tam Đái (các huyện Phù Ninh ở Phú Thọ; Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc của Vĩnh Phúc ngày nay). Đại bản doanh của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng ờ Nội Bàng (vùng Chũ thuộc Bắc Giang ngày nay). Quân dân cà nước ta đã thực hiện mệnh lệnh kháng chiến của triều đình, ở thời điểm đã sẵn sàng chiến đấu, tháng 11 năm Giáp Thân (12 – 1284) vua Trần vẫn còn sai Trần Phủ sang Kinh Hồ hành sành nhà Nguyên để xin hoãn binh nhưng nhà Nguyên đã cất quân sang xâm lược. Tháng 12 năm ấy (tháng Giêng năm 1285), Thượng hoàng Trần Thái Tông cho triệu tập các phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, cho ăn yến và hỏi mưu kế chống giặc. Muôn người như một đều đồng thanh trả lời là nên đánh. Quân sĩ Đại Việt tỏ rõ sự quyết tâm sắt đá giết giặc cứu nước bằng cách thích hai chữ “Sát Thát” (Giết giặc Thát Đát – chi quân Nguyên – Mông) vào cánh tay. Ở khắp các lộ xuất hiện những bản bố cáo trong đó nêu rõ: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được phép đầu hàng”1Tống Liêm, Nguyên sứ. Bản Súc Ẩn bách nạp. Thương vụ ấn thư quán, quyển 209, tr. 76.

Ngày Giáp Tý 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (27 – 1 – 1285), quân Nguyên tiến đến biên giới, chia làm hai cánh tiến vào. Cánh phía Tây do Vạn hộ Bôn Kha Đa, Chiêu thảo sứ A Thâm chỉ huy tiến theo con đường huyện Khâu Ôn (nay là huyện Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn), tức tiến theo đường quốc lộ số 1 ngày nay. Cánh phía Đông do Viên Khiếp tiết Tản Lược Nhi, Vạn hộ Lý Bang Hiến chi huy, tiến theo đường núi cấp Lĩnh (Khâu cấp, Lạng Sơn), đó là con đường từ Lộc Bình (Lạng Sơn) đến Sơn Động (Bắc Giang) ngày nay. Đại quân của Thoát Hoan tiến sau theo cánh phía Đông.

Đi theo Thoát Hoan còn có Arickhaya. Quân ta đã chặn đánh cánh quân phía Đông của địch nên chúng không thể tiến nhanh được. Sau khi vượt qua ải Khâu cấp, quân Nguyên phải giao chiến với quân đội nhà Trần ở ải Khả Ly (trên sông Sa Lý ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang). Tại những cuộc giao chiến đầu tiên này, hai viên tướng nhà Trần là Quản quân phụng ngự Đỗ Vì và Đỗ Hựu bị hy sinh. Cánh quân phía Đông của giặc tiến đánh cửa ải Động Bản (tức Biên Động, huyện lỵ huyện Sơn Động, Bắc Giang). Tại đây, tướng nhà Trần là Tần sầm bị hy sinh. Quân Nguyên tiến đến gần đại bản doanh của Hưng Đạo Vuơng Trần Quốc Tuấn ở Nội Bàng. Ngày 27 tháng Chạp (2 – 2 – 1285) chúng chia quân làm sáu mũi cùng tấn công vào Nội Bàng. Ở đây Trần Quốc Tuấn đã đưa quân ra quyết ngăn cản đường tiến của giặc. Nhưng trước thế giặc ồ ạt, tấn công từ nhiều mặt, quân đội nhà Trần bị tổn thất nặng. Đại liêu ban là Đoàn Thai bị bắt. Đồng thời cánh quân phía Tây của giặc do Bôn Kha Đa chỉ huy cũng đã vượt qua ải Khâu Ôn, đánh chiếm được ải Chi Lăng. Trong tinh thế đó, Trần Quốc Tuấn đã quyết định rút lui về Vạn Kiếp (Chí Linh – Hải Dương). Khi đó quân các nơi cùng về tụ họp ở Vạn Kiếp.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2 (ảnh minh họa)

Hưng Vũ vương Nghiễn, Hưng Hiếu vương uất, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Hiện đốc suất quân các xứ Bàng Hà (Chí Linh), Na sầm (Lục Ngạn), Trà Hương (Kim Thành), An Sinh (Đông Triều), Long Nhãn (Phượng Nhãn) cộng 20 vạn đến họp theo sự điều khiển của Hưng Đạo vương.

Vào giữa lúc tình hình nguy cấp thì cũng xuất hiện những phẩm chất trung thành quý báu của những người lính dưới trướng Hưng Đạo vương. Sử chép: Hưng Đạo vương có gia nô tên là Dã Tượng, Yết Kiêu được đối đãi rất hậu. Khi Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương ra trận, Yết Kiêu giữ thuyền ở bến Bãi (trên bờ sông Lục Nam) đợi chủ, còn Dã Tượng thì luôn theo sát bên vị chỉ huy. Khi chiến sự bất lợi, thuyền quân đều chạy tan, Hưng Đạo vương định rút lui theo đường chân núi. Dã Tượng quả quyết nói: “Yết Kiêu chưa thấy Đại vương tất không rời thuyền đi chỗ khác”2Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch Viện Sử học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tập II, tr. 56. Nghe vậy, Hưng Đạo vương đi ngay đến bến thì thấy chỉ còn thuyền của Yết Kiêu vẫn còn đợi đấy. Cảm kích trước lòng trung thành của kẻ bề tôi, Hưng Đạo vương thốt ra lời rằng: “Chim hồng hộc bay được cao là nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim thường mà thôi”3Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch Viện Sử học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tập II, tr. 56. Thuyền xuôi dòng được một chốc thì kỵ binh giặc đuổi tới nhưng không kịp. Nghe tin quân của Quốc Tuấn không ngăn được giặc, phải rút lui, vua Trần ngự chiếc thuyền nhẹ sang lộ Hải Đông. Ngày đã gần chiều mà vua chưa ăn cơm sáng. Khi ấy có người lính thường là Trần Lai đem dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung, ban cho tước Thượng phẩm kiêm chức tiểu tư xà Hữu triều môn ở Bạch Đằng. Có lẽ chính trong giờ phút nguy nan đó, vua Trần đã phải hỏi thừ Quốc Tuấn xem có nên hàng giặc hay không, Quốc Tuấn tự tin mà trả lời: “Bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi hãy đầu hàng”4Toàn thư, tập II, sđd, tr. 91.

Thế giặc đang mạnh, quân nhà Trần có tổn thất, nhung lực luợng vẫn còn. Trần Quốc Tuấn đã bình tĩnh cùng vua Trần bàn bạc kế hoạch đối phó với kẻ thù. Ông lấy thêm quân các lộ và quân các vương hầu đến để bổ sung lực lượng. Khi đó những người con trai của Hưng Đạo vương là Hưng Vũ vương Nghiên, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Hiện và Minh Hiến vương Uất đốc suất quân các sử Bàng Hà, Na Ngạn, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhân (Phượng Nhãn) về họp ở Vạn Kiếp, số quân lên đến 20 vạn người, dưới sự điều khiển của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Ô Mã Nhi đánh vào Vạn Kiếp và núi Phả Lại ngày 11 – 2 – 1285. Quân đội nhà Trần chống trả quyết liệt. Một cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra ở vùng Bình Than (tức sông Lục Đầu ngày nay). Thế quân giặc rất mạnh. Vua Trần đã đem các quân Thánh dực và hơn một nghìn chiến thuyền đến tăng viện cho Hưng Đạo vương Quốc Tuấn. Một viên tướng nhà Nguyên là Vạn hộ Nghệ Nhuận đã bỏ mạng ở Lưu Thôn. Mặc dù vậy, Trần Quốc Tuấn vẫn nhận thấy rằng chưa thể chặn được bước tiến của giặc, ông đã quyết định rút lui khỏi các địa điểm Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than. Ngày 14 – 2 – 1285 vua Trần và Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn lui về sông Phú Lương (sông Hồng ngày nay) để bảo vệ Thăng Long.

Quân Nguyên tràn xuống tới Gia Lâm, Vũ Ninh (nay là Võ Giàng), Đông Ngàn (Đông Anh) và áp đến bờ sông Hồng vào ngày 17 – 2 – 1285. Chúng đóng trại bên sông Hồng, dựng lá cờ lớn ở đại bản doanh. Quân Trần tổ chức tuyến phòng ngự ở bờ Nam sông Hồng. Chiều hôm đó vua Trần sai Chi hậu cục thư là. Đỗ Khắc Chung đi dò tình hình giặc Ô Mã Nhi, Khắc Chung đã bình tĩnh ứng đối cứng cỏi, linh hoạt khiến tên tướng giặc phải khâm phục mà thốt lên rằng: “Người ấy đương lúc bị uy lực áp chế mà lời nói sắc mặt vẫn tự nhiên, không hạ thấp chủ nó làm chích, không nịnh hót ta làm Nghiêu, nước nó có người giỏi, chua dễ đánh lấy đựợc”5Toàn thư, tập II, sđd, tr. 57 – 58.

Sáng hôm sau, Đỗ Khắc Chung trở về doanh trại quân Trần. Ô Mã Nhi hối tiếc là đã thả viên sứ thần lợi hại của Đại Việt. Y đã cho quân đuổi theo, nhưng không kịp.

Ngày hôm đó, quân đội nhà Trần đã giao chiến với quân Nguyên bên bờ sông Hồng nhàm bảo vệ cho triều đình và hoàng gia cùng quân dân rút ra khỏi thành Thăng Long được an toàn. Ngày 19 – 12 – 1285 quân Nguyên tiến vào thành Thăng Long nhưng kinh thành từ lâu đã bỏ trống. Lúc đại quân nhà Trần rút khỏi kinh đô Thăng Long thì ở phía Tuyên Quang, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng chỉ huy một cánh ngăn chặn giặc từ Vân Nam kéo xuống. Đạo quân Nguyên này do viên Bình chương chính sự hành tỉnh Vân Nam là Naxirutdin chỉ huy. Quân của Trần Nhật Duật đóng ở Thu Vật (vùng Yên Bình, Yên Bái). Giặc tiến công từ nhiều hướng. Quân Trần giao chiến một vài trận rồi rút lui. Giặc quỷ quyệt cho quân chặn đường sông. Trần Nhật Duật cho quân do thám, biết rõ âm mưu của giặc, bò thuyền lên bộ thoát khỏi mai phục của giặc.

Một ngày sau khi Thoát Hoan tiến vào Thăng Long (29 – 2 – 1285, tức ngày rằm tháng giêng năm Ẩt Dậu), cánh quân của Trần Nhật Duật về đến Bạch Hạc (vùng Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) rồi vượt qua vùng các dân tộc thiểu số về hội quân với vua và Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Lúc này, hai vua Trần (Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông) và triều đình nhà Trần đã theo sông Thiên Mạc mà rút về vùng Thiên Trường (Nam Định). Sau khi chiếm được Thăng Long, quân Nguyên chia làm hai đường thủy bộ đuổi theo quân Trần. Tình hình rất nguy cấp.

Tuy rút lui nhưng trên đường đi, quân Trần vẫn bố trí các trận đánh ngăn cản đường tiến của giặc. Tại vùng Thiên Mạc (Duy Tiên – Hà Nam) Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ đường rút quân của nhà vua. Khi bị địch bắt, mặc cho kẻ thù tìm mọi cách dò hỏi tình hình đại quân ta và dụ dỗ mua chuộc, nhưng ông không chịu khuất phục, ô ng đã tuyệt thực để nêu cao khí tiết của người tướng anh hùng. Khi giặc hỏi ông có muốn làm vương đất Bắc hay không. Ông lớn tiếng trả lời rằng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. 

Không lung lạc được ý chí của người anh hùng, giặc đã giết hại ông vào ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (26 – 2 – 1285). Ở Thiên Trường và Trường Yên, vua Trần và Trần Quốc Tuấn thấy cần phải củng cố mặt phía Nam, nhằm chặn đường tiến ra của Toa Đô. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật mới vượt qua vòng vây của giặc ở mặt trận Tuyên Quang lại được lệnh vào trấn giữ Nghệ An. Tiếp đó, ngày 5 – 3 – 1285, theo lời đề nghị của Trần Hưng Đạo, vua Trần lại cử Thái sư Trần Quang Khải đem quân vào ngăn quân của Toa Đô ở Nghệ An. Hai vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chủ trương giữ vững mặt trận phía Nam, xây dựng và củng cố căn cứ Thiên Trường và Trường Yên, chờ đợi thời cơ phản công đánh bật quân Thoát Hoan, giải phóng kinh đô Thăng Long.

Nắm vững tình hình địch, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem hơn một ngàn chiến thuyền tiến ra đóng ở Vạn Kiếp. Trong lúc đó, ở vùng sau lưng địch, những hoạt động của các cánh quân địa phương và nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ: Nguyễn Lộc mở rộng địa bàn hoạt động từ vùng Thất Nguyên (Tràng Định), Vĩnh Bình (Cao Lộc) ra khắp vùng Lạng Sơn.

Thấy Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn trở lại đóng quân ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan lo sợ vội gửi thư về nước xin viện binh. Mặt khác, Thoát Hoan cố gắng tập trung binh lực tấn công xuống Thiên Trường hòng bắt được những người trong triều đình nhà Trần, phá vỡ căn cứ của Đại Việt, thông con đường liên lạc với Toa Đô, thoát khỏi thế bị bao vây.

Cũng vào thời điểm đó, vua Trần đã chuẩn bị lực lượng, ngược sông Hồng, tiến đánh Thoát Hoan. Ngày 10 – 3 – 1285, một cuộc chiến lớn đã nổ ra ở sông Đại Hoàng (khúc sông Hồng qua huyện Lý Nhân, Hà Nam). Trong lần giao chiến này, do lực lượng quân Trần phải chia ra một phần lớn chống giữ mặt Nam nên chưa thể thắng được, phải rút lui.

Mặt trận phía Nam, quân Trần cũng gặp nhiều khó khăn. Từ tháng 2 – 1285, Toa Đô, Giả Kỳ đã từ Chiêm Thành đánh ra phủ Bố Chính (vùng các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình ngày nay) rồi tiến ra Nghệ An. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toàn chống cự không nổi. Quân của Toa Đô chiếm được Nghệ An. Trần Quang Khải đem quân vào tăng viện nhưng không kịp. Toa Đô đã tiến ra đến Thanh Hóa. Ở đây, Chương Hiến hầu Trần Kiện đã cùng bọn Lê Tắc và gia thuộc đầu hàng giặc, sau đó lại dẫn đường cho kẻ thù tấn công quân ta, làm cho việc phòng thủ mặt Nam của quân Trần thêm khó khăn. Ngày 13 – 3 – 1285, Trần Kiện dẫn đường cho bọn Giả Kỳ tiến đánh quân của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải ở bến Phú Tân. Cuộc chiến đấu đã diễn ra hết sức quyết liệt.

Một số võ tướng nhà Trần như Chiêu Hiếu vương (chưa rõ tên) và Đại liêu ban Hộ đã hy sinh. Trần Quang Khải phải lui quân. Toa Đô đã chiếm được Thanh Nghệ.

Mặt trận phía Bắc, quân ta cũng phải rút lui sau trận Đại Hoàng. Quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy dồn binh lực gấp rút đuổi theo Thượng hoàng và vua Trần. Quân đội nhà Trần đang bị rơi vào thế bị ép từ hai phía. Trong tình thế vô cùng nguy nan này, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã quyết định tổ chức một cuộc rút lui đầy mưu trí để thoát khỏi thế bị bao vây. Từ Thiên Trường, một bộ phận quân Trần rút về các lộ vùng Đông Bắc Hải Phòng, Quảng Ninh để dụ địch đuổi theo, rồi chờ đạo quân Toa Đô đã vượt qua Thanh Hóa tiến ra Trường Yên, thì quay vào chiếm lấy Thanh Hóa làm căn cứ. Quân Toa Đô vừa vất vả tiến ra Trường Yên lại được lệnh đánh vào Thanh Hóa. Thế là âm mưu bao vây tiêu diệt quân đội và triều đình nhà Trần của quân Nguyên bị phá sản về cơ bản.

Âm mưu bắt sống vua Trần và triều đình Đại-Việt không thực hiện được, Thoát Hoan quay sang củng cố vùng chiếm đóng. Hắn chia quân ra đóng trại trấn giữ những nơi quan trọng và lập trạm ngựa để liên lạc với nhau. Nhưng càng rải quân ra chiếm đóng lâu dài, giặc càng lúng túng trong mâu thuẫn không thể giải quyết giữa phân tán và tập trung quân. Trong lúc đó, khắp nơi quân Đại Việt thực hiện “vườn không nhà trống”, triệt nguồn cung cấp lương thực của địch. Nhiều nơi các đội dân binh phối hợp với những cánh quân của triều đình tấn công, quấy rối vùng hậu phương của địch và tiêu hao từng bộ phận sinh lực của chúng. Thêm vào đó, quân giặc bị đau ốm rất nhiều vì “gặp lúc nắng mưa, bệnh dịch hoành hành”6Nguyên sử, quyển 13. Thế Tổ bàn kỳ.

Những trận mưa nhiệt đới vào cuối tháng Tư đã làm cho quân Nguyên vốn ở vùng Trung Nguyên khô lạnh thêm khốn khổ vì “nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại”7Nguyên sử, quyển 129, Lý Hằng truyện. Cả hai cánh quân của giặc Nguyên dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan lẫn Toa Đô đều gặp khó khăn vì thiếu lương thực, tình hình ngày càng khốn quẫn.

Thoát Hoan sai Manglai Siban (Minh Lý Tích Ban) đưa bọn đầu hàng Trần Kiện và Trần Tú Hoàn về Yên Kinh vào tháng 5 – 1285. Bọn chúng vừa mới đến trại Ma Lục (Chi Lãng, Lạng Sơn) thì bị quân người Tày đo Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh chỉ huy phối hợp với một bộ phận quân triều đình tập kích liên tiếp. Trần Kiện đã bị một gia nô của Trần Hưng Đạo là Địa Lô bắn chết. Thuộc hạ của Trần Kiện là Lê Trác ôm xác Kiện để lên mình ngựa trốn đi đêm đến Khâu Ôn (Lạng Sơn) mới chôn tại đấy.

Cũng vào tháng 5 – 1285, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng đại quân theo đường thủy tiến ra Bắc. Giai đoạn phản công bắt đầu. Từ Thanh Hóa, Hưng Đạo vương điều quân ra bất ngờ tổ chức những cuộc tiến công lớn vào các căn cứ phòng thủ của giặc ở phía Nam Thăng Long (vùng Khoái Châu, Hưng Yên).

Đánh tan các đồn trại này là chia cắt được quân Thoát Hoan vào thế cô lập, bị động. Lực lượng quân của Toa Đô do Giả Kỳ chỉ huy đóng ở dọc sông Hồng. Chúng đã từng thua trận ở Chiêm Thành, sau ra Thanh Hóa rồi Trường Yên lại quay vào Thanh Hóa rồi ra Thiên Trường nên đã khá mệt mỏi. Vua Trần nhận xét: “Quân giặc đi xa lâu năm, xe lương muôn dặm, thế tất mệt mỏi, ta đem quân nhàn rỗi đối phó với quân họ đã mệt nhọc, làm nhụt chí họ trước tất phá tan được”8Toàn thư, tập II, sđd, tr. 60.

Trong lúc tổ chức kế hoạch phản công, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn để các tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đánh vào các đồn trại của giặc ở dọc sông Hồng rồi tiến lên giải phóng Thăng Long; còn tự mình cầm đại quân kéo lên vùng Bắc Giang chặn diệt địch trên đường chúng tháo chạy. Trên đường tiến về Vạn Kiếp quân của Trần Quốc Tuấn đánh chiếm đồn A Lỗ ở mạn ngã ba sông Luộc và sông Hồng. Tướng giặc là Vạn hộ Lưu Thế An phải bỏ đồn chạy về Thăng Long. Một căn cứ quan trọng của giặc ở vùng ven biển Thiên Trường đã được giải phóng.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 2 (ảnh minh họa)

Vào cuối tháng 5 – 1285, Chiêu Thành vương (không rõ tên), Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Tướng quân Nguyễn Khoái đem binh nhẹ đón đánh giặc ở bến Tây Kết (Khoái Châu, Hưng Yên). Trong các trận đánh ở đây có sự tham gia của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật với đội quân “Thát Đát” gồm nhiều người nước Tống quy phụ dưới trướng của Chiêu Văn vương. Hệ thống phòng thủ của địch trên sông Hồng bị phá vỡ hoàn toàn.

Cùng thời gian đó, Thượng tướng Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào căn cứ Chương Dương (bên hữu ngạn sông Hồng, đối diện với Hàm Tử (nay thuộc địa phận huyện Thường Tín, Hà Nội). Phối hợp với quân của Trần Quang Khải còn có các đạo dân binh ở các lộ kéo về do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Quân giặc tan vỡ nhanh chóng, tàn quân địch rút chạy về Thăng Long. Quân Trần thừa thắng tiến lên bao vây và tiến công dữ dội vào Thăng Long. Giặc liều chết cố thủ. Trước tình thế quẫn bách đó, Thoát Hoan phải rút quân ra khỏi thành Thăng Long, sang ờ bờ Bắc sông Hồng. Kinh thành Thăng Long được giải phóng sau một thời gian dài bị chiếm đóng.

Đạo quân của Giả Kỳ và Tangutai bị đánh tơi bời ở dọc sông Hồng cũng vội vàng chạy sang Gia Lâm hội quân với Thoát Hoan. Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước. Nhưng chúng vẫn bị các đạo quân Trần và quân các địa phương chặn đánh quyết liệt trên các vị trí mai phục. Trên đường rút theo hướng Vạn Kiếp, đội quân Thoát Hoan đã bị hơn một vạn quần do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Hưng Ninh vương Trần Tung đánh chặn. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra ở vùng Quế Võ (Bắc Ninh). Bị đánh tơi bời, Vạn hộ Lưu Thế Anh và đạo quân Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt (Bắc Ninh) hòng trốn tránh đạo quân chủ lực của nhà Trần. Nhưng quân Thoát Hoan đã gặp ngay đội quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đổ ra đánh. Đội quân của người anh hùng trẻ tuổi này đã giáng cho giặc những đòn sấm sét. Quân Nguyên bị tổn thất nặng nề. Khi chạy sang Vạn Kiếp, đạo quân Nguyên đã gặp trận địa được bố trí sẵn của Quốc công Tiết chế. Để vượt sông Thương, quân giặc đã bắc cầu phao. Đợi khi chúng đang đóng cầu, quân Trần bất ngờ đổ ra đánh từ hai phía. Quân giặc bị động, dội hình rối loạn, xô đẩy nhau tìm đường chạy, cầu phao bị đứt, số lớn rơi xuống sông chết đuối, toán quân đi sau cùng bị tập kích chết rất nhiều. Tên tướng giặc là Tangutai thoát chết. Thoát Hoan phải sai Lý Hằng chỉ huy đám tàn quân mở đường máu chạy về biên giới Lạng Sơn. Trên đất biên giới, Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã cho bố trí chặn giặc ở các cửa ải hiểm yếu. Quân cùa Hưng Vũ vương Hiếu đợi giặc ở Vĩnh Bình. Khi giặc vừa tới, tên độc bắn ra xối xả, Thoát Hoan thấy Lý Hằng bị trúng tên độc mà chết thì hoảng sợ chui vào ống đồng để trốn về Bắc, đến Tư Minh quân Trần vẫn đuổi theo, lấy tên độc bắn chết Lý Quán.

Ở biên giới phía Tây Bắc, tàn quân giặc do Naxi Rútdin cầm đầu cũng tìm đường tháo chạy về Vân Nam. Khi chúng đi qua đất Phù Ninh (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay) lại gặp đội quân dân binh do các tộc trưởng miền núi là Hà Đặc và Hà Chương cầm đầu chặn đánh, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề.

Ở phía Nam, đạo quân của Toa Đô từ Thanh Hóa vượt biển theo sông Hồng định tiến lên Thăng Long. Nhưng binh thuyền giặc bị chặn đánh ở Tây Kết. Toa Đô bị chém đầu. Ô Mã Nhi và Lưu Khuê lấy thuyền nhẹ chạy được ra biển.

Sau gần hai tháng phản công mãnh liệt của quân dân Đại Việt, vào cuối tháng 6 – 1285, khoảng nửa triệu quân xâm lược đã bị quét sạch khỏi bờ cõi. Cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai diễn ra vô cùng gay go, ác liệt và đã kết thúc thắng lợi với các chiến công vang dội: Hàm Từ, Chương Dương, Tây Kết… Ngày 9 – 7 – 1285, Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng triều đình tiến về kinh đô Thăng Long. Trong khí thế hào hùng của chiến thắng, Thượng tướng Trần Quang Khải đã làm bài thơ rằng:

Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Từ quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.

(Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước cũ ngàn thu).

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like