Cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3

by Moc Lam Quan

Cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Mông – Nguyên đối với Đại Việt đã bị thất bại thảm hại. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên lần thứ ba này, quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Hung Đạo vương Trần Quốc Tuấn và triều đình nhà Trần đã làm nên những chiến công hiển hách, mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc – Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3 (ảnh minh họa)

Cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất và lần thứ hai của quân Mông – Nguyên đều bị thất bại thảm hại. Chủ tướng Thoát Hoan thoát chết chạy được về nước. Vua Nguyên Hốt Tất Liệt vô cùng căm giận, muốn lập tức đánh Đại Việt để báo thù. Tháng 8 năm 1285, Khu mật viện nhà Nguyên xin điều thêm quân để đến tháng 11 hội ở Đàm Châu (Hồ Nam) dưới sự thống suất của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha.

Hốt Tất Liệt đã phải bãi bỏ kế hoạch tấn công Nhật Bàn được triều đình Nguyên chuẩn bị từ trước để tập trung binh lực cho cuộc xâm lược Đại Việt lần này. Những khó khăn trong nước do những cuộc chiến tranh triền miên gây ra và sức kháng chiến mạnh mẽ của nhân dân nước Đại Việt khiến cho vua Nguyên phải có thì giờ chuẩn bị chu đáo hơn. Cuộc viễn chinh xâm lược tuy có tạm ngừng lại nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ âm mưu của mình. Ngày 23 – 11 – 1286, Hốt Tất Liệt lại cử A Ba Tri (Abaci) làm Hữu thừa của “Chinh Giao Chỉ hành sảnh”, tức cơ quan được lập nên để chuẩn bị đánh Đại Việt. Đến năm sau, năm Đinh Hợi (1287) Hốt Tất Liệt lại đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Ngoài viên Hữu thừa A Ba Tri đã được chi định từ năm trước, Hốt Tất Liệt còn lấy Trình Bằng Phi làm Hữu thừa và A Ly (A-Ly) làm Tả thừa, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự… Phần lớn các tướng đều là những tên đã từng tham gia cuộc viễn chinh vào Đại Việt năm 1284 – 1285. Tất cả các tướng này đều đặt dưới quyền tổng chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan. Rút kinh nghiệm của hai lần thất bại trước, lần này ngoài bộ binh và kỵ binh, nhà Nguyên còn dùng một lực lượng thủy binh khá mạnh và mang theo đầy đủ lương thực thực phẩm đi bằng đường thủy vào Đại Việt với tổng số khoảng 50 vạn quân1Toàn thư, tập II, sđd, tr. 63, quân Nguyên tiến theo ba đường vào nước ta:

– Đạo quân chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào.

– Đạo quân do Ái Lỗ (A-Rúc) từ Vân Nam dọc theo đường sông Hồng tiến xuống.

– Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thống lĩnh cùng với đoàn thuyền tải lương do Trương Văn Hồ phụ trách từ Khâm Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến về phía cửa sông Bạch Đằng.

Được tin quân giặc sắp tấn công, vua Trần Nhân Tông lại sai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn giữ quyền Quốc công Tiết chế thống lĩnh quân đội kháng chiến. Các vương hầu lại được lệnh chiêu mộ quân lính, sắm sửa vũ khí, đem quân đóng ở các nơi hiểm yếu, sẵn sàng chống giặc. Vua Trần hỏi Hưng Đạo vương Quốc Tuấn: “Thế giặc năm nay thế nào?” Quốc Tuấn trả lời: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không quen việc binh đao, cho nên năm trước quân Nguyên xâm lấn, hoặc có người đầu hàng trốn tránh.

Nhờ được uy linh của tồ tông và thần võ của bệ hạ đã quét sạch được rợ Hồ. Nay nếu nó lại sang thi quân ta đã quen việc đánh dẹp mà quân họ thì ngại về đi xa; vả lại họ đã cạch về sự thất bại của Hằng và Quán, không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem xét thì tất đánh tan được”2Toàn thư, tập II, sđd, tr. 63 – 64.

Đầu năm 1287, khi các quan chấp chính xin chọn người khòe mạnh để bổ sung quân số, Hưng Đạo vương nói: “Quân cần tinh không cần nhiều, dù đến như Bồ Kiên cỏ trăm vạn quân, có làm gì được đâu?”3Toàn thư, tập II, sđd, tr. 64 – 65. Chính dựa vào tinh thần chiến đấu, sự rèn luyện của quân sĩ và kế hoạch chống giặc chu đáo của mình mà vào cuối năm 1287, khi quân giặc tiến sang, vua Trần hỏi Trần Hưng Đạo ràng: “Giặc đến làm thế nào?” thì Hưng Đạo vương đã tự tin mà trả lời rằng: “Năm nay giặc đến dễ đánh”4Toàn thư, tập II, sđd, tr. 64 – 65.

Trong trận chiến lần này Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn rất chú trọng đến vùng ven biển Đông Bắc. Đó là đường tiến của thủy quân và đoàn thuyền tài lương của quân Nguyên. Phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được giao phụ trách mọi công việc ở miền ven biển Đông Bắc; Phán thư Thượng bộ Nhân Đức hầu Trần Toàn lãnh nhiệm vụ ngăn chặn thủy quân giặc.

Quân Nguyên dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và Aguructri xuất phát từ Ngạc Châu (Hồ Bắc) vào ngày 11 – 10 – 1287. Đến huyện Lai Tân (Quảng Tây), Thoát Hoan cho tách quân thủy bộ. Thoát Hoan đi với đoàn bộ binh, Trần ích Tắc cũng được đem theo về.

Ngày 25 – 12 – 1287, Thoát Hoan tiến quân đến con sông ở biên giới. Quân Trần tiến lên chặn đánh rồi rút ngay. Ngày 29 – 12 – 1287, đạo quân của Thoát Hoan đến Lộc Châu (Lộc Bình, Lạng Sơn), chia làm hai cánh quân tiến xuống theo hai con đường phía Tây và phía Đông như trong cuộc chiến tranh lần trước: Trình Bằng Phi và Bôn Kha Đa đem một vạn quân Hán tiến theo con đường phía Tây từ Vĩnh Bình đến Chi Lăng (tương đương với quốc lộ 1 ngày nay). Thoát Hoan chỉ huy số quân còn lại theo con đường phía Đông từ Lộc Bình (Lạng Sơn) tiến xuống Sơn Động (Bắc Giang ngày nay).

Cánh quân phía Tây của Trình Bằng Phi và Bôn Kha Đa tiến qua các cửa quan Chi Lăng, Hãm Sa, Từ Thúc và đánh nhau với quân nhà Trần tất cả 17 trận. Ngày 29 – 12 – 1287, quân Nguyên tiến đánh cửa ải Lãnh Kinh khoảng Đạp cầu. Hưng Đức hầu là Quán chỉ huy cấm quân dùng tên thuốc độc bắn. Quân giặc chết và bị thương rất nhiều, phải lui về đóng ở cửa Vũ Cao.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3 (ảnh minh họa)

Đạo quân của Thoát Hoan và Aguructri sau khi tiến qua các cửa quan Nữ Nhi, Khả Lỵ, đã đến Vạn Kiếp vào ngày 2 – 1 . Quân đội nhà Trần chi đánh kìm chân giặc ở một số cửa ải rồi rút nhanh để bảo toàn lực lượng, tránh va chạm lớn với địch. Đạo quân từ Vân Nam, Trùng Khánh (Côn Minh, Vân Nam) đã qua các vùng dân tộc Lô Lô, Bạch Y (người Thái) để vào Đại Việt.

Ngày 11 – 12 – 1287 đạo quân này đã đến Bạch Hạc và đánh nhau với đạo quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa quan Mộc Ngột (Việt Trì, Phú Thọ). Trong trận này, quân đội nhà Trần bị mất một số thuyền, tướng nhà Trần là Lê Thạch và Hà Anh bị giặc bắt. Quân Nguyên tiếp tục tiến và ngày 19 – 12 – 1287 chúng đã đánh vào cửa quan Phú Lương.

Trong khi các cánh quân bộ kỵ của Thoát Hoan và Aguructri ào ạt tiến vào Đại Việt thì thủy quân giặc cũng đã lên đường. Ngày 17 – 12 – 1287 chiến thuyền của Ô Mã Nhi xuất phát. Mấy ngày sau, thuyền giặc đã qua của biển Vạn Ninh (Móng Cái, Quảng Ninh).

Quân đội nhà Trần do tướng Nhân Đức hầu Trần Toàn phục binh ở trên núi chặn đánh. Chiến thuyền giặc vây núi đánh lại và qua được cửa Ngọc Sơn (Mũi Ngọc, Quảng Ninh). Mặc dù có bị tổn thất nhưng lực lượng thủy binh của Ô Mã Nhi vẫn rất mạnh, chúng vượt qua vùng cửa biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh) và gặp quân phục kích của Trần Khánh Dư. Tại đây đã diễn ra trận chiến đấu khá quyết liệt, nhưng quân Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đã không cản nổi đạo quân của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp. Giặc ngược sông Bạch Đằng tiến vào hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, số quân Nguyên tập trung ở đây lên tới 30 vạn tên5Toàn thư, tập II, sđd, tr. 65 – 66.

Tin thủy quân Trần Khánh Dư không cản được địch về tới triều đình, Thượng hoàng Trần Thánh Tông sai sứ đến bắt Trần Khánh Du về kinh đô chịu tội. Trần Khánh Dư nói với trung sứ rằng: “Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn cho vài ngày để lập công chuộc tội, rồi chịu búa rìu cũng chưa muộn”6Toàn thư, tập II, sđd, tr. 65 – 66. Trung sứ nghe theo lời xin. Trần Khánh Dư đoán biết là theo sau đạo binh thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp còn có đoàn thuyền lương 70 vạn thạch do Trương Văn Hổ chỉ huy sẽ tiến vào, bèn đặt phục binh để đợi. Không lâu sau, thuyền chờ lương của giặc quả nhiên đến. Khánh Dư tung quân ra đánh. Quân giặc bị thua, quân Trần thu được lương thực khí giới của giặc rất nhiều không thể kể xiết. Vạn hộ Trương Văn Hổ vội vã lấy thuyền nhẹ chạy trốn ra Quỳnh Châu (đảo Hải Nam, Trung Quốc). Tin thắng trận diệt gọn đoàn thuyền lương của quân Nguyên không chi cứu Trần Khánh Dư khỏi chịu tội với triều đình mà còn có ý nghĩa rất quan trọng, nó làm phá sàn kế hoạch tiếp tế lương thực của Thoát Hoan, đẩy giặc vào thế bị động, hoang mang lúng túng, tạo thời cơ để quân nhà Trần chuyển sang phản công. Thượng hoàng Trần Thánh Tông tha tội trước cho Trần Khánh Dư không hỏi đến và còn nói: “Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết tin hoặc giả còn hung hăng chàng?”7Toàn thư, tập II, sđd, tr. 66. Thất bại của đoàn thuyền lương khiến quân Nguyên phải rút lui. Sử gia thời Lê sơ đã nhận xét: “Cho nên năm này nhân dân không bị thảm họa như năm trước là Khánh Dư cũng có dự công”8Toàn thư, tập II, sđd, tr. 66.

Về phía quân Nguyên, sau cuộc hội quân ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng vùng này thành một căn cứ quân sự cho cả quân bộ lẫn quân thủy. Đến ngày 27 – 1 – 1288, Thoát Hoan bắt đầu chia quân tiến về Thăng Long. Quân dân nhà Trần đã đặt phục binh đánh giặc rồi lại rút lui. Thoát Hoan lại chiếm được kinh thành Thăng Long. Từ Thăng Long, Thoát Hoan huy động một lực lượng thủy quân lớn có sự hỗ trợ của bộ binh đuổi theo quân đội nhà Trần hòng bắt sống vua Trần và triều đình.

Ý đồ của Mã Nhi không thực hiện được, chúng không sao bắt được những người lãnh đạo chủ chốt của triều đình nhà Trần. Quân giặc vì thế đã thẳng tay tàn sát nhân dân. ô Mã Nhi đã cho quân sục vào phủ Long Hưng (Tiên Hưng, Thái Bình), nơi có lăng mộ của họ Trần, cho khai quật lăng Trần Thái Tông để trả thù lần thất bại trước của hắn. Bấy giờ vua Trần và triều đình đã theo cửa Thiên Trường (Giao Thủy) mà ra biển.

Ngày 6 – 2 – 1288, không đuổi kịp được vua Trần, Thoát Hoan đành cho quân trở lại Thăng Long. Việc thiếu lương thực đã trở thành nguy cơ nghiêm trọng đối với đạo quân khổng lồ của nhà Nguyên. Đã gần hai tháng đóng ở Thăng Long, mấy chục vạn quân Nguyên lâm vào tình trạng nguy khốn. Thoát Hoan phải sai quân ra bờ biển Đông Bắc đón thuyền lương Trương Văn Hổ. Đồng thời sai quân chia đường đi cướp bóc để kiếm lương thực.

Đoàn thuyền quân của Ô Mã Nhi không những không đón được thuyền lương của Trương Văn Hổ mà còn bị quân đội nhà Trần chặn đánh cho tơi bời. Cuối cùng thì Ô Mã Nhi phải thất vọng quay thuyền theo sông Bạch Đằng về Vạn Kiếp để rút lui cho tiện. Quân của Thoát Hoan ở Thăng Long bấy giờ đang lâm vào tình thế khốn quẫn, lúng túng, bị cô lập và suy yếu, rệu rã về tinh thần.

Đến đầu tháng 3 – 1288, Thoát Hoan buộc phải quyết định rút khỏi Thăng Long chuyển quân về Vạn Kiếp để giữ thế thủ. Quân Nguyên đã lâm vào tình thế bị động. Nguy cơ bị tiêu diệt đã đến, chúng phải thừa nhận một thực tế rằng: “Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn, mà thuyền lương của Trương Văn Hổ không đến. Vả lại, khí trời nóng nực, lương hết, quân mệt không lấy gì chống giữ lâu được, lấy làm hổ thẹn cho triều đình, chi bằng nên toàn quân rút về thì hơn”9Nguyên sử, quyển 209, An Nam truyện. Viên thần nỗ tổng quản là Giả Nhược Ngu cũng nói: “Quân nên về, không nên giữ”10An Nam chí lược, quyển 4, Chinh thào vận hướng. Cuối cùng Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đường thủy bộ rút về nước. Theo kế hoạch rút lui của giặc như sau:

– Quân bộ do Thoát Hoan chỉ huy, có A Bat Xích (Abatri) dẫn kỵ binh đi trước mở đường rút theo đường Lạng Sơn.

– Quân thủy do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy rút về theo đường sông Bạch Đằng ra biển. Cùng rút với đạo quân thủy còn có Thiên vương Tích Lệ Cơ và viên quan Vạn hộ thủy quân Trương Ngọc. Để bảo vệ cho đoàn quân thủy rút lui có đội kỵ binh dọc theo sông hộ tống.

Ngày 30 – 3 – 1288, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem theo thủy quân rút trước. Nhung cầu đường đã bị quân dân Đại Việt phá hủy nên đội kỵ binh hộ tống của Trình Bằng Phi tiến rất khó khăn. Khi đến Đông Triều (Quảng Ninh), không thể vượt qua sông được, đội kỵ binh này đành phải quay trở lại và tìm đường khác trở về Vạn Kiếp để còn kịp rút lui theo Thoát Hoan.

Dù đoán được ý đồ và đường rút quân của giặc, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã chuẩn bị một cuộc tập kích chiến lược chu đáo. Sông Bạch Đằng được chọn làm địa điểm chôn vùi xác giặc xâm lăng. Hưng Đạo vương đã cho đóng những cọc gỗ xuống lòng sông. Bên trên bãi cọc phù cỏ để ngụy trang11Toàn thư, sđd, tập II, tr. 67. Việc đẵn gỗ làm cọc và đóng cọc trên sông đã được chuẩn bị từ trước, có lẽ là vào lúc quân Trần quay về hoạt động ở vùng Trúc Động, An Bang vào khoảng từ ngày 4 – 3 đến 1 – 4 – 1288.

Nhân dân Đại Việt hai bên sông đã góp sức cùng với quân sĩ trong việc chuẩn bị bãi cọc ở Bạch Đằng. Khi được tin binh thuyền của quân Nguyên rút lui, Hưng Đạo vương đã cho quân phục kích ở hai bên bờ sông Bạch Đằng chờ giặc đến. Hẳn là Hưng Đạo vương đã cho bộ binh mai phục trong vùng núi đá Tràng Kênh (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và vùng rừng rậm ở tả ngạn sông Bạch Đằng (vùng Yên Hưng, Quảng Ninh), còn thủy quân thì ẩn trong các con sông hai bên tả hữu sông Bạch Đằng như sông Giá, sông Thải, sông Đền Công…

Sáng sớm ngày 9 – 4 – 1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp tiến đến sông Bạch Đằng. Bấy giờ là lúc nước triều còn cao, che lấp những dãy cọc đóng trong sông. Quân Trần đem thuyền ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp dẫn binh thuyền đuổi theo. Nước triều xuống thấp, đoàn thuyền giặc xô phải cọc, dồn cả lại. Nhiều chiếc bị vỡ và bị đắm. Trong khi đó, phục binh của quân Trần ở hai bên bờ đổ ra, đánh vào sườn và phía sau đoàn thuyền giặc. Tướng Nguyễn Khoái đem quân dũng nghĩa Thánh Dực giao chiến với giặc. Tiếp đó, Thượng hoàng, vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng dẫn đại quân tiếp ứng. Một trận kịch chiến đã diễn ra trên sông Bạch Đằng.

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3

Cuộc chiến chống quân nguyên mông lần 3 (ảnh minh họa)

Ô Mã Nhi phải thúc thuyền tiến về hướng cửa sông Chanh, sông Kênh, sông Rút để tháo chạy. Nhiều thuyền giặc bị cọc đâm thủng, va vào Ghềnh Cốc bị đắm hoặc mắc cạn không thể tiến lui được. Tướng giặc là Phàn Tiếp bị trúng tên, nhảy xuống nước, bị quân Trần bắt sống. Tên tướng chỉ huy thủy quân giặc là Ô Mã Nhi cũng bị bắt sống. Thủy quân giặc bị giết, bị chết đuối và bị bắt vô số. Hơn bốn trăm thuyền giặc lọt vào tay quân dân Đại Việt.

Trong khi toàn bộ đội thuyền binh của quân Nguyên tan tác trên sông Bạch Đằng thì cánh quân bộ của Thoát Hoan cũng đang khốn đốn trên đường tháo chạy khỏi biên giới Đại Việt. Trên tất cả các đường rút của bộ binh giặc đều bị quân đội nhà Trần phục kích chờ đánh. Thoát Hoan dẫn quân chạy đến cửa quan Nội Bàng thì lại lọt vào trận địa phục kích đã được bố trí sẵn. Phải ra sức chống lại mới mở đường máu rút ra được. Nhưng quân Trần vẫn tiếp tục truy kích, Thoát Hoan phải cho Vạn hộ Trương Quân chỉ huy ba nghìn quân tinh nhuệ đi sau hộ vệ. Quân Nguyên vừa ra khỏi cửa Nội Bàng, chưa kịp hoàn hồn thì được tin quân Trần đã đóng ở cửa quan Nữ Nhi và núi Khưu cấp. Ba mươi vạn quân Trần rải ra suốt hơn một trăm dặm để chặn đường về của giặc. Những hố sâu được đào và ngụy trang rất khéo léo để làm bẫy diệt kỵ binh giặc. Thoát Hoan hoảng sợ vội theo đường Đơn Kỷ về Lộc Châu để đi tắt ra biên giới. Nhưng chúng không tránh khỏi những trận đánh của quân dân Đại Việt. Quân Trần từ trên núi cao bắn tên độc xuống.

Tình cảnh quân Nguyên lúc đó thật thảm hại: “Lúc đó quân ta (chỉ quân Nguyên) đã thiếu lương ăn lại mệt vì chiến đấu, tướng tá nhìn nhau thất sắc”12Nguyên sử, quyển 133, Tích đô nhi truyện, tập 9b. Bọn giặc bị thương vong rất nhiều. Tướng giặc Abatri trúng ba mũi tên độc, đầu cổ đùi đều sưng lên rồi chết13Nguyên sù, quyển 129, Lai A Bát Xích truyện, tập 2a.

Cuối cùng, quân Nguyên cũng về được đến phủ Tư Minh vào ngày 19 – 4 – 1288. Thoát Hoan cho giải tán đám tàn quân. A Ruc đem quân trở về Vân Nam, Agurutri dẫn quân về Bắc. Trần ích Tắc lại lẽo đẽo theo bọn tướng tá Nguyên trở về Ngạc Châu14An Nam chí lược, quyển 13. Nội phụ hầu vương.

Ngày 18 – 4 – 1288 Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về phù Long Hưng, đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Sireghi, sầm Đoạn cùng nhiều tên Vạn hộ. Thiên hộ khác của giặc làm lễ hiến tiệp ở lăng Trần Thái Tông. Trước làng mộ của vị vua anh hùng của cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên lần thứ nhất 1258, vua Trần Nhân Tông đã xúc cảm đề thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu15Toàn thư, tập II, sđđ, tr. 68.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng).

Ngày 28 – 4 – 1288 xa giá hai vua Trần và triều đình trở về kinh đô. Giữa những cung điện bị thiêu hủy của Thăng Long, vua Trần ban lệnh đại xá thiên hạ, miễn tô dịch toàn phần cho những nơi bị giặc cướp phá16Toàn thư, tập II, sđđ, tr. 68.

Cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Mông – Nguyên đối với Đại Việt đã bị thất bại thảm hại. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên lần thứ ba này, quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Hung Đạo vương Trần Quốc Tuấn và triều đình nhà Trần đã làm nên những chiến công hiển hách, mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc – Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like