Cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất

by Moc Lam Quan

Cuộc viễn chinh xâm lược Đại Việt lần thứ nhất của đế chế Mông Cổ hoàn toàn thất bại. Ngột Lương Hợp Thai (Uryangkhađai) – viên tướng bách chiến bách thắng của Đại hãn Mông Ke từng làm mưa làm gió trên khắp các chiến trường Á Âu đã phải thua trận nhục nhã trên đất Đại Việt.

Chông quân nguyên mông lần 1

Chông quân nguyên mông lần 1 (ảnh minh họa)

Ngột Lương Hợp Thai vẫn theo chiến thuật khá quen thuộc của quân Mông cổ là nhiều lần phái sứ giả đến Đại Việt ép vua tôi nhà Trần phải đầu hàng dâng đất đồng thời dò xét tình hình nước ta, trước khi tiến quân. Quyết tâm giữ vững chủ quyền quốc gia và cảnh giác cao độ, nhà Trần chẳng những không chịu khuất phục mà còn tống giam sứ giả của giặc và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Chủ trại Quy Hỏa (miền đất dọc hữu ngạn sông Hồng gồm Yên Bái, Phú Thọ và Lào Cai) là Hà Khuất cho người cấp báo về triều tin có sứ Mông cổ đến vào tháng 8 năm Đinh Tỵ (tháng 9 năm 1257). Ngay tháng 9 (tháng 10 năm 1257), vua Trần Thái Tông đã xuống chiếu cho Tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Trần Quốc Tuấn. Đến tháng 11 (tháng 12 năm 1257), triều đình lại tăng cường chuẩn bị kháng chiến gấp rút hơn. Vua Trần ra lệnh cho cả nước sắm sửa và chuẩn bị vũ khí sẵn sàng chiến đấu.

Khoảng ba vạn quân Mông cổ cùng với đội quân người Thoán Bặc (người Di ở Vân Nam) đã áp sát biên giới phía Bắc Đại Việt. Chờ mãi không thấy sứ giả trở về, Ngột Lương Hợp Thai liền sai Trếch Trếch Đu (Triệt Triệt Đô) và một tướng khác chia quân làm hai đạo tiến theo hai đường dọc tả ngạn và hữu ngạn sông Thao. Con đường bộ theo hữu ngạn sông Thao qua châu Thùy Vĩ (Lào Cai, Yên Bái), huyện Hạ Hòa, huyện Thanh Ba và huyện Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ) và phủ lỵ Hưng Hóa (thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ ngày nay) thì qua sông Phú Lương (tức sông Hồng) để hội quân ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Một đường bên tả ngạn sông Thao dọc theo sông Chảy qua Lục Yên,

Yên Bình (theo con đường tinh lộ số 11 ngày nay) gặp quốc lộ số 2 ở Đoan Hùng (Phú Thọ) rồi từ đó đi xuống Phù Ninh và tiến xuống ngã ba sông Bạch Hạc ở Việt Trì.

Thăm dò và dẫn đường cả hai đạo quân nhỏ này đi trước. Theo sau là đạo quân do Aju (A Thuật) – con trai của Uriangkhadai (Ngột Lương Hợp Thai) chỉ huy. Còn Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy đạo quân đi sau cùng.

Ngột Lương Hợp Thai kéo quân đến Bình Lệ Nguyên (khoảng vùng đất huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) nơi có sông Cà Lồ chắn ngang vào ngày 12 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (17 – 1 – 1258). Vua Trần Thái Tông ra trận trực tiếp chỉ huy chặn giặc bên bờ nam sông. Quân lính, voi ngựa dàn ra san sát. Bên kia, Ngột Lương Hợp Thai cũng tìm cách cho quân vượt sông giao chiến.

Quân Mông cổ được chia làm 3 đội. Đội tiên phong do Trếch Trếch Đu chỉ huy vượt sông sang trước, Ngột Lương Hợp Thai dẫn đại quân đi tiếp theo, còn Phò mã Khai Du (Qaidu) và Aju thì chỉ huy hậu quân có nhiệm vụ đi sau cắt hậu quân của nhà Trần.

Đạo quân của Trếch Trếch Đu theo hạ lưu sông tìm chỗ nông sang trước. Vừa lên đến bờ, y liền cho quân xông ngay vào đội hình quân phòng ngự của vua Trần giao chiến. Nhưng quân Mông cổ đã gặp sức chiến đấu kiên cường của quân dân Đại Việt. Vua Trần tự làm tướng đốc chiến đi trước xông pha giữa làn tên đạn. Quân giặc tấn công ào ạt. Quân đội nhà Trần vẫn không chịu rời vị trí. Tướng Lê Tần (sau này được gọi là Lê Phụ Trần) gan dạ hiên ngang cưỡi ngựa ra vào trận giặc, sắc mặt bình tĩnh, không một chút bối rối sợ hãi. Nhưmg rồi trận địa của quân Trần bị lấn dần. Tướng giặc là Aju đã dùng những tên lính thiện xạ Mông cổ bắn vào voi của quân Trần làm voi hoảng sợ, lồng trở lại. Lúc ấy, có người khuyên vua Trần đóng lại để chiến đấu đến cùng. Nhưng trước mũi nhọn tiến công rất mạnh của giặc, Lê Tần cố sức khuyên vua không nên “dốc túi đánh nước cuối cùng” mà nên tạm rút lui để củng cố lực lượng, chờ có cơ hội phản công sau. Theo kế của Lê Tần, quân Trần rút về đến sách Cụ Bản thì quân cứu viện của tướng Phạm Cụ Chích cũng vừa đến. Sau một trận giáp chiến, Phạm Cụ Chích hy sinh, nhưng vua Trần đã rút lui an toàn. Vua Trần đến bến Lãnh Mỹ thì xuống thuyền. Quân Mông cổ đuổi theo tới nơi, đứng trên bờ bắn tới tấp. Lê Tần đã dùng ván che cho vua khỏi trúng tên của giặc. Thuyền quân ta theo sông Cà Lồ xuôi về Phù Lỗ. Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần của tướng Mông cổ hoàn toàn thất bại. Ngột Lương Hợp Thai nổi giận, đòi trừng trị tên tướng tiên phong. Trếch Trếch Đu hoảng sợ, uống thuốc độc tự tử.

Chông quân nguyên mông lần 1

Chông quân nguyên mông lần 1 (ảnh minh họa)

Ngày 13 tháng Chạp (18 – 1 – 1258), quân Trần phá cầu Phù Lỗ rồi bày trận ở bên sông. Quân Ngột Lương Hợp Thai kéo đến bờ bên kia thúc quân đánh vào trận địa quân Trần. Tôn thất nhà Trần là Phú Lương Hầu tử trận. Sau trận đánh cản địch ở Phù Lỗ, quân Trần tiếp tục rút lui về hướng Thăng Long. Quân Mông cổ vẫn đuổi theo quân Trần đến Đông Bộ Đầu (tức bến Đông) bên sông Hồng, phía đông thành Thăng Long.

Để bảo toàn lực lượng, triều đình nhà Trần đã quyết định rút khỏi kinh thành vi Thăng Long không đủ hiểm trở để cố thủ. Quân đội vua Trần rút lui về vùng sông Thiên Mạc (thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày nay). Bà Linh Từ Quốc Mẫu, vợ Trần Thủ Độ đứng ra quán xuyến việc sơ tán các cung tần phi nữ và hoàng gia về Hoàng Giang (Lý Nhân, Hà Nam).

Vào chiếm được kinh thành Thăng Long trống vắng, quân Mông Cổ đã chia nhau nhau sục sạo khắp nơi, chúng chỉ thấy trong ngục những tên sứ mà Ngột Lương Hợp Thai đã sai vào Đại Việt trước đây. Tên nào cũng bị trói chặt bàng thõng tre lằn sâu vào thịt. Khi được cởi trói, có tên đã chết. Giặc điên cuồng thẳng tay tàn phá kinh thành Thăng Long để trả thù.

Thăng Long bị giặc chiếm, thế giặc đang hăng, đại quân phải rút lui. Trước tình thế đó không khỏi làm cho một số ít người hoang mang, dao động. Trên đường rút lui, vua Trần ngự thuyền nhẹ đến thuyền của Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế. Lúc đó Nhật Hạo đương ngồi tựa mạn thuyền không đứng dậy được, chi lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ “nhập Tống” (chạy vào đất Tống) lên mạn thuyền. Khi vua hỏi đội quân Tỉnh Cương (do Trần Nhật Hạo chi huy) ở đâu, Nhật Hạo trả lời: “Gọi không đến”.

Nhưng trong toàn quân, toàn dân và trong triều đình, ý chí kiên quyết kháng chiến vẫn chiếm ưu thế. Các đại thần, tôn thất, tướng tá vẫn quây quần quanh vua, cùng mưu tính kế hoạch và thời cơ phản công địch. Lê Tần vẫn kín đáo ra vào dưới trướng làm việc cơ mật. Đặc biệt, Thái sư Trần Thủ Độ, người tướng già mưu lược lúc này đã tỏ rõ vai trò là trụ cột của nước nhà. Khi vua Trần Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư Trần Thủ Độ tự tin mà trả lời: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ không cần lo ngại gì cả”. Lời nói bất hủ đỏ đã củng cố thêm tinh thần quyết tâm kháng chiến của vua Trần và quần thần, phù hợp với ý chí của toàn thể nhân dân Đại Việt.

Sau một thời gian rất ngắn khẩn trương chuẩn bị, lực lượng kháng chiến của quân đội nhà Trần đã được củng cố, khí thế chiến đấu lại sục sôi trong toàn quân. Trong lúc đó, quân Mông cổ đã bắt đầu gặp phải những khó khăn, lúng túng vì thiếu lương thực, thực phẩm trong một tòa thành trống không. Chúng tìm cách đánh ra các vùng xung quanh hòng cướp lương thực. Nhưng ở đâu chúng cũng gặp sự chống trả quyết liệt của nhân dân địa phương. Sử sách có nhắc đến cuộc kháng chiến bảo vệ xóm làng của nhân dân cổ Sở (xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, tình Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).

Nghe tin giặc kéo đến, dân làng đã tự tổ chức lực lượng vũ trang đào hào đắp lũy bảo vệ quê hương. Quân xâm lược Mông cổ đã nếm mùi thất bại đầu tiên trước sức mạnh kháng chiến của các làng xóm, hương ấp. Không có lương thực, lại thường xuyên bị quân dân các làng xóm xung quanh kinh thành tiến công đánh tỉa, tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai và đồng bọn bắt đầu hoang mang, dao động. Thời cơ diệt giặc đã đến, triều đình nhà Trần quyết định tổ chức phản công giành lại Thăng Long.

Chông quân nguyên mông lần 1

Chông quân nguyên mông lần 1 (ảnh minh họa)

Ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (29 – 1 – 1258) vua Trần Thái Tông đã cùng hoàng thái tử Trần Hoảng chỉ huy lâu thuyền ngược dòng Thiên Mạc đánh tan quân giặc ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại kinh thành.

Bị thua ở Đông Bộ Đầu, và bị đánh bật ra khỏi Thăng Long, quân Mông cổ đã theo đường cũ bên hữu ngạn sông Hồng rút chạy về Vân Nam. Đen trại Quy Hóa, chủ trại là Hà Bổng chiêu tập nhân dân địa phương chặn đường đánh úp. Quân Mông cổ bị thiệt hại nặng, hoảng sợ cắm đầu chạy thoát thân không dám nghĩ đến cướp phá như khi mới tiến vào Đại Việt. Để chế giễu thái độ của chúng, người bấy giờ đã gọi chúng bàng cái tên khá mỉa mai là “giặc Phật”.

Khi đem tàn quân ra khỏi biên giới Đại Việt về đến Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai dừng chân tại thành Áp Xích (Côn Minh, Trung Quốc). Cuộc viễn chinh xâm lược Đại Việt lần thứ nhất của đế chế Mông Cổ hoàn toàn thất bại. Ngột Lương Hợp Thai (Uryangkhađai) – viên tướng bách chiến bách thắng của Đại hãn Mông Ke từng làm mưa làm gió trên khắp các chiến trường Á Âu đã phải thua trận nhục nhã trên đất Đại Việt. Đội quân xâm lược Mông Cổ tiến vào Đại Việt lần này tuy không lớn nhưng có đến 50 viên tướng tá là thân vương, trong đó phải kể đến Abisca – con trai Thành Cát Tư Hãn. Đạo quân hùng mạnh thiện chiến và nhiều tướng tài như vậy mà chỉ chiếm được thành Thăng Long có 9 ngày. Thắng lợi chống quân xâm lược Mông cổ lần thứ nhất (năm 1258) thể hiện ý chí kiên cường và lòng dũng cảm, mưu lược vô song của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy tài giỏi của vua Trần Thái Tông và các quần thần, trong đó có vai trò hết sức to lớn của Thái sư Trần Thủ Độ. Chiến thắng oanh liệt của quân dân Đại Việt chẳng những phá tan mưu đồ chiếm đóng Đại Việt của Mông Cổ mà còn bè gãy gọng kìm của chúng hòng tấn công vào mặt nam của Nam Tống.

Khi đã đánh đuổi quân xâm lược, kinh thành Thăng Long sạch bóng quân thù, ngày mồng một tháng Giêng năm Mậu Ngọ (5 – 2 – 1258), trong buổi thiết triều đầu tiên của năm mới, vua Trần đã phong thưởng cho các tướng sĩ có công lao trong chiến đấu. Lê Tần được phong chức Ngự sử đại phu, tước Bảo Văn hầu, được đổi gọi là Lê Phụ Trần. Người anh hùng dân tộc miền núi ờ trại Quy Hóa là Hà Bổng cũng được phong tước Hầu.

Chiến thắng chống quân xâm lược Mông cổ mùa xuân năm Nguyên Phong thứ 7 không chỉ là niềm tự hào của quân dân Đại Việt thời Trần mà mãi mãi được ghi nhớ trong tâm thức các thế hệ Việt Nam. Trong bài thơ “Xuân nhật yết Chiêu làng” (Ngày xuân bái yết Chiêu lăng – Lăng vua Trần Thái Tông), vua Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên vào năm 1258 và năm 1288 có những câu thơ rất hào sảng như sau:

Bạch đầu quân sĩ tại

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

(Người lính già đầu bạc

Mãi kể chuyện Nguyên Phong).

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like