Cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Tống của triều Lý

by Moc Lam Quan

Nhà Lý chủ động tập kích căn cứ xâm lược của nhà Tống trên đất Tống

Binh pháp xưa có câu: “Trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước”. Lý Thường Kiệt tâu với vua rằng: “Ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”

Lý thường kiệt - chống quân xâm lược nhà tống

Lý thường kiệt

Khi đã theo dõi sát sao và nắm rõ âm mưu của nhà Tống cùng những đối sách khôn ngoan để đập tan được mưu đồ cấu kết của kẻ thù từ hai phía Nam và Bắc, quân dân nhà Lý đã bước vào cuộc kháng chiến chống Tống với tinh thần hết sức kiên quyết và hoàn toàn chủ động.

Năm 1072, biết được tin vua Lý Thánh Tông băng hà, vua mới (Lý Nhân Tông) lên nối ngôi còn quá nhỏ (6 tuổi), quan quân nhà Tống bèn tăng cường chuẩn bị cho cuộc xâm lược xuống Đại Việt, ở những vùng sát biên giới Đại Việt, quan lại nhà Tống đã hoạt động rất ráo riết.

Khi thấy nhà Tống chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt một cách ráo riết như vậy, với cương vị một Phụ quốc Thái uý, nắm giữ toàn bộ binh quyền trong tay, Lý Thường Kiệt đã đứng ra đảm đương trước triều đình nhà Lý và trước toàn thể dân tộc một sứ mệnh lịch sử vô cùng trọng đại là tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Lý Thường Kiệt, quê ở phường Thái Hoà (kinh thành Thăng Long – Hà Nội). Ông sinh trưởng vào thời Lý (sinh năm 1019, mất năm 1105) đúng vào thời kỳ đất nước đang giành được nhiều kỳ tích trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngay từ nhỏ ông đã là người có chí hướng, ham đọc sách, nghiên cứu binh thư và luyện tập võ nghệ. Ông từng kinh qua khá nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Lý, từ triều Lý Thái Tông đến Lý Thánh Tông và đặc biệt dưới triều vua Lý Nhân Tông, ông đã làm tới chức Phụ quốc Thái uý, giữ cương vị như một Tể tướng.

Với cương vị một Tể tướng của triều đình, trước nguy cơ xâm lược ngày càng đến gần của kẻ thù, Lý Thường Kiệt trước tiên đã nghĩ ngay tới việc củng cố khối đoàn kết của tầng lớp quan lại quý tộc trong triều và một số việc làm cần thiết để tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng chiến. Năm 1074, Lý Thường Kiệt đã cho mời Tả gián nghị đại phu Lý Đạo Thành đang coi châu Nghệ An về triều giữ chức Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự1Toàn thư, quyển III, tập I, sđd, tr. 289 để cùng lo việc nước. Vì trước đó, vào thời Lý Thánh Tông, Lý Đạo Thành tùng là một đại thần giữ chức Thái sư, sau vụ Thượng Dương Thái hậu bị giết, ông bị điều vào coi châu Nghệ An. Đến đây, Lý Thường Kiệt đã biết đặt lợi ích sống còn của dân tộc lên trên hết, làm hoà giải được mối bất đồng, hàn gắn rạn nứt giữa các quan lại và quý tộc trong triều để dồn hết tâm lực vào cuộc kháng chiến. Đối với những lão thần có công còn được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt, như “các công thần 80 tuổi đều được chống gậy và ngồi ghế khi vào chầu”2Toàn thư, quyển III, tập I, sđd, tr. 289.

Rồi việc tuyển lựa quan lại vào làm việc trong bộ máy chính quyền nhà nước đã được bắt đầu bằng khoa cử, như việc mở khoa thi Minh kinh bác học và nho học tam trường đầu tiên vào năm 10753Toàn thư, quyển III, tập I, sđd, tr. 290 trước khi tiến hành cuộc kháng chiến, v.v…

Sau khi đã chuẩn bị chu đáo mọi mặt, muốn phá tan âm mưu của giặc, Lý Thường Kiệt nhận thấy không thể thụ động ngồi yên chờ giặc đến mà ông đã quyết định tấn công trước để đưa giặc vào thế bị động, giành thắng lợi ban đầu cho cuộc kháng chiến. Binh pháp xưa có câu: “Trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước”. Lý Thường Kiệt tâu với vua rằng: “Ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”4Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, sđd, tr. 58. Nguyên bản chữ Hán như sau: “Toạ đãi địch chí, bất như tiên phát dĩ ách kỳ phong”. Tiến công là để tự vệ, chủ trương của Lý Thường Kiệt được triều đình nhà Lý ủng hộ. Lý Thường Kiệt đã lãnh đạo quân dân Đại Việt tổ chức một cuộc tập kích bất ngờ vào thẳng đất Tống nhằm phá tan các căn cứ của quân Tống ở Ung Châu, Khâm Châu, Liêm

Châu và quan trọng là thành Ung Châu, rồi đem quân về chủ động đón đánh giặc trên đất nước mình. Trong đợt tấn công mở màn này, các cứ điểm ở biên giới đất Tống được bố trí nhằm bảo vệ thành Ung Châu và đặc biệt là hai cứ điểm Khâm, Liêm và thành Ung Châu – cứ điểm quan trọng nhất của quân Tống trên đường vào Đại Việt đã bị quân của Lý Thường Kiệt san phẳng.

Lực lượng quân lính thuỷ bộ được huy động vào cuộc tập kích táo bạo vào đất Tống lần này có khoảng hơn 10 vạn5Việt sử lược chép gần 10 vạn. Toàn thư, Việt sử tiêu án chép hơn 10 vạn. Đạo quân bộ, bao gồm quân lính của các dân tộc thiểu số do các tù trưởng Tông Đản, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An dẫn đầu. Cánh quân chủ lực đi theo đường thuỷ thì đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt.

Quân Lý bắt đầu khởi binh vào cuối năm Ất Mão (1075). Lý Thường Kiệt đã tính toán rất kỹ lưỡng mọi phương án. Cánh quân bộ, tập trung ở dọc biên thuỳ phía Bắc tại các châu Quảng Nguyên, Môn, Quang Lang, Tô Mậu lần lượt tiến vào đất Tống. Chiến lược ban đầu là chỉ quấy rối để quân Tống lầm tưởng là quân nhà Lý sẽ theo các đường bộ kéo vào thành Ung Châu. Sau đó mới bắt đầu lần lượt đánh phá các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Cổ Vạn.

Nếu quân Tống muốn xuống cứu các trại này thì mặt Đông Nam thành Ung Châu sẽ bị bỏ ngỏ. Khi đó đại quần thuỳ chủ lực do Lý Thường Kiệt dẫn đầu mới đi theo đường thuỷ từ châu Vĩnh An (Móng Cái – Quảng Ninh) tới Khâm Châu, Liêm Châu, rồi tiến thẳng vào thành Ung Châu. Thời gian diễn ra chi trong khoảng 7 ngày đường. Nếu quân Tống mà dời thành Ung Châu xuống yểm trợ mặt trận này thì thành Ung Châu sẽ dễ dàng bị mất và nếu quân Tống ở lại giữ thành thì thồ binh của ta cũng dễ dàng tiến được về thành Ung Châu. Bất luận thế nào thì từ mọi phía quân Lý cũng kéo được tới thành Ung Châu và thành này trước sau sẽ bị bao vây tứ phía.

Khi đã tính toán kỹ lưỡng mọi phương án tác chiến, tháng 10 năm 1075, quân Lý bắt đầu vào cuộc chiến. Ngày 25 tháng 10 (tức ngày 15 tháng 9 năm Ất Mão), bảy trăm quân Lý từ châu Tô Mậu đánh vào trại Cổ Vạn6Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 119, mãi đến ngày 21 tháng 12 (tức ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão) triều đình nhà Tống mới biết tin Cổ Vạn bị mất7Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 120. Khi đã đánh được trại Cổ Vạn, quân Lý tiếp tục từ các châu biên giới kéo vào chiếm các trại Vĩnh Bình, Thái Bình. Quân từ Lạng Châu vào đánh chiếm những châu Tây Bình, châu Lộc. Quân từ châu Quảng Nguyên và châu Môn đánh chiếm các trại Hoành Sơn. Chúa trại Hoành Sơn, viên quản hạt Vĩnh Bình và Thái Bình đều tử trận8Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 120 -121.

Chống quân xâm lược nhà tống

Chống quân xâm lược nhà tống (ảnh video minh họa)

Biên giới mặt Tây Nam thành Ung Châu đến đây bị bỏ ngỏ. Quân Tống ở đây không được tập luyện nhiều về binh mã, dân các tộc người vùng này lại đang oán thán triều đình Tống nên rất thuận lợi cho quân Lý tiến công. Nguy cơ đối với quân Tống đang ngày càng đến gần nhưng Lưu Di (quan coi Quế Châu) đã không thấy hết mà hắn lại vẫn xin triều đình nhà Tống cấp cho 4 vạn quan tiền để mua lương trữ ở Ung Châu9Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 121. Còn quân đội nhà Lý thì với tinh thần đánh nhanh thắng nhanh, chọn đúng thời cơ, tiêu diệt gọn những cứ điểm quan trọng dọc biên giới, đóng vai trò yểm trợ cho Ung Châu một cách mau lẹ.

Thừa thắng, cánh quân do Tông Đản chỉ huy đã tiến trước kịp thời từ Vĩnh Bình (Tư Ninh, Bằng Tường – Quảng Tây) về phía Ưng Châu (Nam Ninh)10Việt sử lược, sđd, tr. 109 -110. Cùng lúc đó, cánh quân chủ lực do Lý Thường Kiệt dẫn đầu từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) theo đường bể đánh vào cửa biển Khâm Châu và Liêm Châu. Quân Tống không đề phòng, bị đánh bất ngờ, không kịp chống cự, ngày 30 – 12 – 1075 (tức ngày 20 tháng 11 năm Ất Mão), Khâm Châu bị chiếm. Tiếp tục, ba ngày sau, mồng 2 – 1 – 1076 (tức ngày 23 tháng 11 năm Ất Mão), quân Lý cũng đánh chiếm nốt được cứ điểm Liêm Châu11Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 121.

Những chúa trại xung quanh Khâm Châu đều bị giết. Trong trận Liêm Châu, quân Tống bị thiệt hại khá lớn, 8 nghìn thổ binh bị quân Lý bắt làm phu khuân vác đồ đạc chiếm được xuống thuyền, sau bị giết cả12Lý Văn Phức, Việt kiệu thư, dẫn theo Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 122.

Đúng như dự kiến, sau khi chiếm được Khâm Châu và Liêm Châu, Lý Thường Kiệt đã dẫn đại binh tiếp tục tiến sâu vào nội địa đề vào Ung Châu. Lúc này, quân Tống đã bị thua thiệt lớn về người và của, không còn sức chống đỡ cũng như không còn quân để mà cản bước tiến của đại quân nhà Lý nữa nhưng Lý Thường Kiệt vẫn muốn uy danh thanh thế và muốn làm sáng rõ mục đích của cuộc tập kích sang đất Tống, nên trên đường tiến quân, Lý Thường Kiệt đã sai quân sĩ yết bàng khắp nơi tờ “Phạt Tống lộ bố văn” (Bài văn lộ bố khi đánh Tống) với những lời lẽ thấu tình đạt ý rằng: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chang tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”13Thanh miêu: triều đình bỏ tiền cho dân vay khi lúa còn non, đến khi gặt lúa thì mới trả nhưng phải trả lãi, “trợ dịch”14Trợ dịch: nộp tiền để khỏi đi lao địch. Đây là hai biện pháp trong “tân pháp” của Vương An Thạch nhằm giải quyết tình hình khó khăn của nhà Tống lúc bấy giờ, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoà cái mưu nuôi mình béo mập. Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước thôi nói làm gì! Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chi đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ỷ phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh đế đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thanh bình! Ta nay ra quân cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền lời để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi”15Bài văn lộ bố khi đánh Tống, trong Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 320.

Vì Vương An Thạch là người chủ trương kiên quyết nhất trong triều đình nhà Tống về việc xâm lược Đại Việt, trong khi đó những biện pháp về kinh tế của ông đưa ra lại bị số đông quan lại phản đối và khi thực hiện lại bị chúng lợi dụng bóc lột, làm cho người dân càng thêm khốn khổ nên Lý Thường Kiệt đã nhân tình hình đó mà khoét sâu thêm mâu thuẫn nội bộ của triều đình nhà Tống và nói rõ cho những người dân lành nước Tổng biết được mục đích chính nghĩa của cuộc tập kích vào đất Tống. Mục đích của cuộc tiến quân không phải là để chiếm đất Tống mà chi để tự vệ chống trả lại những âm mưu đánh Đại Việt của vua Tống và Tể tướng Vương An Thạch mà thôi. Lý Thường Kiệt đã nhấn mạnh cho dân nước Tống biết về điều đó ràng: “Quan coi Quế Châu đã điểm duyệt dân đinh các khe động, nói rằng muốn sang đánh Giao Chi’”16Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 320.

Ngay cả những dân Giao Chỉ trước kia chạy sang đất Tống, bị quan quân gần biên giới Việt – Tống bắt giữ đã được truy đòi nhưng không có kết quả nên nhân việc này Lý Thường Kiệt cũng ban lời vạch rõ tội lỗi của họ và nói thêm nguyên do của cuộc tiến quân sang đất Tống cũng là để truy bắt dân trốn ấy nữa: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Trung Quốc. Các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu (Lưu Di) không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy.. ,”17Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 122.

Chống quân xâm lược nhà tống 2

Chống quân xâm lược nhà tống (ảnh video minh họa)

Những lời lẽ đanh thép trong Bài văn lộ bố của Lý Thường Kiệt vừa vạch rõ dã tâm xâm lược Đại Việt của nhà Tống vừa khoét sâu thêm nỗi oán thán bất bình của người dân nước Tống về những hậu quà của chính sách gọi là “thanh miêu”, “trợ dịch” của Vương An Thạch, đã giúp quân Lý tranh thù thêm được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân nước Tống trên dọc đường hành quân. Không những không gặp phải sự phản kháng của nhân dân mà “Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thi nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam; rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy danh quân ta lan khắp”18Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 123. Chính nhờ có sự đồng tình ủng hộ này, trên các mặt trận, quân nhà Lý đều giành được thắng lợi và hai cánh quân của Tông Đản cũng như của Lý Thường Kiệt từ hai hướng đã tập kết đến thành Ung Châu một cách mau lẹ.

Đó là vào ngày mùng 10 tháng Chạp (tức ngày 18 – 1 – 1076), cánh quân của Tông Đản vừa đến ngoại thành Ung Châu thì đại quân của Lý Thường Kiệt cũng vừa tới nơi. Hai cánh quân cùng hợp lực vây phá thành theo kế hoạch đã định.

Thành Ung Châu là một toà thành được xây cất vô cùng chắc chắn và kiên cố. Vương An Thạch thấy thành kiên cố nên chủ quan khinh thường cho rằng quân Lý “không thể phá nổi”19Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 126. Quan Tống được cù giữ thành là Tô Giám – một viên tướng kỳ cựu, lão luyện, thông minh và rất cương quyết. Vì vậy, trận chiến sắp diễn ra tại đây sẽ vô cùng gian nan khốc liệt, giữa một bên là tài cao trí lớn của chủ tướng Lý Thường Kiệt và một bên là lòng quả cảm kiên trung của kỳ tướng Tô Giám.

Tô Giám được cử giữ thành đã 5 năm. Quân lính điều về giữ thành cả thảy có 2.800 người. Bị quân Lý vây hãm, Tô Giám nghĩ đường từ Ung Châu đến Quế Châu không xạ, viện binh đi chi khoảng 14 ngày đường là tới nơi, nên Tô Giám quyết tâm đóng thành cố thủ. Khi phải cố thủ chờ viện binh như vậy, Tô Giám một mặt đã đem hết của cải, binh khí ra phô trương lực lượng để củng cố lòng tin trong dân chúng. Mặt khác, để giữ vững tinh thần binh sĩ, Tô Giám đã ban lệnh thưởng phạt nghiêm minh: “Nếu chúng ngươi nghe ta, thì sẽ được ban thưởng. Nếu có ai không nghe mà bỏ chạy, thì sẽ chém”20Tống sứ, sđd, tr. 127. Bên ngoài thì quân Lý vây thành ngày càng ráo riết. Tô Giám một mặt kiên quyết cố thủ, nhưng để an ủi quân sĩ, thu phục nhân tâm, đành phải phao tin rằng viện binh sắp tới. Cũng để chống cự lại đôi chút Tô Giám đã mộ được hơn 100 quân cảm tử, chèo thuyền trên sông Ung, đón đánh quân Lý, giết mất của ta hai tướng và 10 voi lớn21Tống sứ, sđd, tr. 127. Nhưng không vì vậy mà quân Lý chùn bước, vòng vây vẫn bị xiết chặt.

Trong khi đó, viện binh của nhà Tống từ Quế Châu do Trương Thủ Tiết dẫn đầu ứng cứu cho Ung Châu, nghe tin quân Lý mạnh không dám tới thẳng Ung Châu phải đi theo đường vòng từ Quý Châu tới Tân Châu rồi trú tại trại Khang Hoà để nghe ngóng tình hình. Chờ mãi chẳng thấy, Tô Giám phải xin viện binh lần hai. Sau đó Trương Thủ Tiết mới kéo quân tới ải Côn Lôn, cách Ung Châu khoảng 40km. Biết tin, Lý Thường Kiệt đã cho quân đón đánh, cánh quân viện bị đánh bất ngờ không kịp chống đỡ, Trương Thù Tiết bị chết cùng vô số binh lính hàng trận. Lúc đó vào ngày mồng 4 tháng giêng năm Bính Thìn (tức 11 – 2 – 1076).

Thành Ung Châu bị vây hãm đã gần một tháng, tuy không nhận được viện binh nhưng Tô Giám lại giỏi điều binh khiển tướng nên cố sức chống giữ. Quân Lý thì vì thành cao kiên cố nên cũng không sao vào được trong thành. Cả hai bên cùng trong thế giằng co quyết liệt. Quân Lý muốn nhòm đuợc vào trong thành đã phải dùng máy bắn đá, rồi vân thê (thang bắc chuyền nối nhau) trèo lên, nhung thang cứ bắc đến đâu là quân Tô Giám lại dùng pháo thăng thiên đốt cháy đến đó. Cứ như thế cầm cự với nhau mãi, khiến quân Lý bị thiệt hại rất nhiều về người và voi. Dùng thang dây không được, quân Lý lại dùng tên độc bắn lên thành. Sau đó phải đào đường hầm lót da cho kín nước, định chui vào thành, nhưng lại bị quân  trong thành phóng hỏa đốt. Quân Lý lại dùng đến chiến thuật hoả công bắn các chất dễ cháy vào thành, trong thành vì thiếu nước có bị cháy nhưng vẫn chưa hạ được. Vây thành đã đến ngày thứ 42 mà vẫn chưa sao phá được. Cuối cùng quân Lý phải dùng đến chiến thuật thổ công, tức lấy đất cho vào bao, xếp chồng lên cao để trèo vào thành. Các bao đất xếp cao như núi, hàng vạn bao như vậy, mới giúp được các binh sĩ nhà Lý vào được trong thành. Quân Lý lọt được vào trong thành đúng vào ngày 23 tháng giêng năm Bính Thìn (tức ngày 1 – 3 – 1076).

Quân trong thành vì bị vây hãm lâu ngày, thiếu lương ăn, thiếu nước uống bị ốm đau bệnh tật và chết khá nhiều. Tuy sức cùng lực kiệt nhưng không một ai dám đầu hàng. Tô Giám biết tình thế đã trở nên vô cùng nguy ngập nhưng vẫn chống trả rất hăng. Lúc này Tô Giám thấy càng giận bọn Lưu Di không ứng cứu, muốn dâng sớ tâu về triều đình nhưng đã bị tuyệt đường đành phải bó tay chờ chết. Lúc quân Lý vào thành, Tô Giám còn cho quân bị thương và voi ra chống cự rất hăng hái nhưng rồi sức cùng lực kiệt, tiến thoái lưỡng nan, Tô Giám đã chọn con đường “tự chết” để không bị rơi vào tay quân nhà Lý. Tô Giám đã giết 36 người nhà, chôn xác vào hố rồi tự thiêu chết22Việt sứ lược, sđd, tr. 110. Toàn thư, tập I, quyển III, sđd, tr. 290. Sử cũ của ta chép Tô Giám trung kiên, chiến đấu oanh liệt với quân Lý, không chịu bị lọt vào tay quân nhà Lý, đã tự chết rất thê thảm. Vua Tống truy tặng Tô Giám làm Phụng quốc công quân Tiết độ sứ, thuỵ là Trung Dũng, cho một khu nhà lớn ở kinh thành, 10 khoảnh ruộng tốt, cho thân tộc 7 người làm quan, cho con là Nguyên chức Cáp môn chi hậu.

Người trong thành thấy Giám nghĩa khí như vậy và cảm ân nghĩa của Giám, không một người nào chịu hàng. Trong trận này, quân Lý giết chết 5 vạn 8 nghìn người cộng với người chết ở các châu Khâm, Liêm lên đến hơn 10 vạn23Việt sử lược, sđd, tr. 111. Sử Trung Quốc (Tống sử-và Tục tư trị thông giám trường biên) còn chép rằng quân Lý sắp đầu người thành đống, mỗi đống có 100 đầu và có tới 580 đống[/mfn].

Đại phá xong thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt còn cho quân lấy đá lấp sông để ngăn quân Tống xuống úng cứu rồi đưa ngay quân lên phía Bắc đánh Tân Châu. Quan quân Tống coi giữ Tân Châu nghe tin quân Lý kéo đến đã vội vàng bỏ thành chạy trốn. Sau đó Lý Thường Kiệt còn dùng kế “thanh dã”, đốt hết các kho tàng, tiền bạc, lương thực ở vùng Tả Giang đề phòng quân Tống tiếp quản trên đường kéo sang đánh Đại Việt sau này.

Khi đã phá tan căn cứ hậu cần của Tống trên đất Tống, Lý Thường Kiệt quyết định rút quân mau lẹ trở về tổ chức phòng thủ đất nước, sẵn sàng chờ giặc đến để đánh.

Như vậy, mục đích của cuộc tấn công vào cứ điểm hậu cần của quân Tống ở Ung Châu của quân Lý đã thực hiện được. Tiến công là để tự vệ. Chiến thắng Ung Châu là chiến thắng mở đầu, có ý nghĩa rất lớn vì nó không chỉ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ cuộc kháng chiến mà nó còn làm xoay chuyển tình thế và chiến cục của cuộc chiến, từ thể bị động, bị tấn công sang thế hoàn toàn chủ động. Cứ điểm hậu cần của nhà Tống từ chỗ là toà thành kiên cố được dựng nên với biết bao công sức và tiền của, mà chỉ trong 42 ngày đêm đã tiêu tan thành mây khói. Thành Ung Châu bị mất thì chắc chắn cuộc hành quân xâm lược xuống Đại Việt sau đó sẽ không còn chỗ dựa và sẽ làm giảm bước tiến của đội quân xâm lược, đẩy chúng từ thế chủ động sang thế bị động hoàn toàn.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: 

You may also like