Cuộc chiến đấu chống nhà Triệu xâm lược

Cuộc chiến đấu chống nhà Triệu xâm lược

Vị trí địa lý và điều kiện giao thông thuận tiện trên bộ và trên biển tạo cơ sở cho nước Nam Việt của Triệu Đà có cơ hội phát triển kinh tế và giao lưu. Địa bàn Nam Việt nằm trên một vùng châu thổ khá màu mỡ của lưu vực sông Tây Giang và vùng ven biển giàu có của Quảng Đông. Phía bắc có thể liên hệ với lưu vực sông Trường Giang, phía tây có thể giao lưu với Điền (Vân Nam), Thục (Tứ Xuyên), Dạ Lang (Quý Châu), phía tây nam là Âu Lạc, phía đông thông với biển Đông. Kinh đô Phiên Ngung (Quảng Châu) là một thương cảng đóng vai trò đầu mối quan trọng của vùng Đông Nam Trung Quốc. Với ý đồ tăng cường thế lực, mở rộng lãnh thổ, Triệu Đà từng vượt Ngũ Lĩnh đánh lên Trường Sa ở phía bắc vào năm 182 TCN, nhưng cũng không thể giữ được phải rút về. Các nước ở phía Tây như Điền, Thục, Dạ Lang vẫn là những nước có cơ sở vững mạnh, Nam Việt chưa thể đủ sức đua tranh. Trong các hướng thì vùng phía tây nam giáp với Âu Lạc, là nơi mà Nam Việt có thể phát triển thế lực bành trướng.

Nước Âu Lạc là một nước có nền kinh tế phát triển, đặc biệt nghề trồng lúa nước trên một diện tích rộng lớn ở châu thổ sông Hồng và sông Mã đã đem lại bội thu hàng năm, số lượng tích trữ lương thực của Âu Lạc dồi dào. Hơn nữa, Âu Lạc là một nước có số dân đông đảo, lực lượng quân sự cũng rất hùng mạnh, với những trang bị vũ khí khá tiên tiến đương thời, cộng thêm có một nền văn hóa bản địa Đông Sơn rực rỡ. Triệu Đà tuy muốn bành trướng xuống tây nam, cũng không dễ dàng chinh phục một nước Âu Lạc đang trong thời kỳ phát triển toàn diện.

Thư tịch và truyền thuyết dân gian Việt Nam chứng minh: Triệu Đà từng nhiều lần đem quân sang xâm lược Âu Lạc, nhưng đều bị thất bại. Các cuộc chiến đấu giữa Nam Việt và Âu Lạc trong giai đoạn này được diễn ra chủ yếu trên vùng núi Tiên Du (Tiên Sơn, Bắc Ninh), đến núi Vũ Ninh (núi Trâu, Quế Võ, Bắc Ninh). Ngay tại chiến trường chính này, quân của họ Triệu đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân dân Âu Lạc, và liên tục bị thất trận bời thứ vũ khí được mệnh danh là nỏ thần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “[Triệu] Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua [An Dương Vương]. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy”1Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 138.

Trận chiến chống triệu đà
Triệu Đà

Thúy lành chú sớ cho biết: “An Dương Vương có nỏ thần… Nam Việt vương biết không thể đánh được, lui quân về đóng ở huyện Vũ Ninh… huyện này thuộc quận Giao Chỉ”2Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr. 427.

Loại nỏ thần nổi tiếng này được thư tịch Việt Nam và Trung Quốc cùng truyền thuyết ghi lại với mức độ khoa trương trong dân gian như: “mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên”3Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr. 427, “mỗi phát [tên] giết được 300 người”4Giao Châu ngoại vực ký, được chép lại trong Lịch Đạo Nguyên, Thủy lánh chú sớ, Sđd, tr. 427, thậm chí sách Nam Việt chí còn chép “bán một phát giết chết quân [Nam] Việt hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn người” hay “mỗi phát tên đồng xuyên qua hơn chục người”5Lý Văn Phượng, Việt kiệu thư.

Ngoài loại vũ khí có tác dụng thần diệu trong chiến đấu ra, thắng lợi của Âu Lạc trong những lần giao chiến với Nam Việt, còn thể hiện tiềm lực quân sự đương thời của Âu Lạc rất hùng mạnh. Số quân thường trực được luyện tập thường xuyên trong triều đình Cổ Loa lên đến chục vạn người, sách [Đại] Việt sử lược chép: “…An Dương Vương… dạy được một vạn quân lính”6Việt sử lược, Sđd, tr. 15. Âu Lạc khi đó là một nước có số lượng quân lính đông đảo, được trang bị bằng các loại vũ khí lợi hại (nỏ thần, mũi tên đồng, rìu, giáo, qua đồng…), cộng thêm quân thành Cổ Loa kiên cố, công thủ toàn diện. Quan trọng hơn, đội quân này lại được sự chỉ huy tài tình của An Dương Vương – vị Chủ soái có kinh nghiệm nhiều năm chiến trận cùng các tướng súy lỗi lạc tiêu biểu như Cao Lỗ, đã lần lượt bè gãy từng đợt xâm lược của Nam Việt. Sau nhiều lần tấn công bằng quân sự đều thất bại, Triệu Đà bàn mưu tính kế cùng quần thần, chuyển đổi thủ đoạn xâm lược.

Trong những lần chinh phục các nước lân bang thì sử dụng binh lực, đồng thời kết hợp với mua chuộc, hối lộ là phương thức đem lại hiệu quả cho nước Nam Việt. Điều này đã được Tư Mã Thiên chi ra trong bộ Sử ký: “Cao Hậu chết, tức bãi binh. [Triệu] Đà nhân thế lấy binh lực uy hiếp biên cảnh, lấy của cải đút lót, khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc thần phục”7Sứ ký, quyền 113, Nam Việt liệt truyện 53, Sđd. Triệu Đà áp dụng bài học kinh nghiệm đó vào việc chinh phục Âu Lạc.

Sau khi tìm hiểu kỹ càng nội bộ của triều đình Âu Lạc, Triệu Đà quyết định lựa chọn phương pháp giả vờ cầu hòa, thông hiếu và đưa con trai lớn sang cầu hôn với con gái An Dương Vương. Mục đích quan trọng của họ Triệu là tạo ra cơ hội cài được người thân tín vào kinh thành Cổ Loa, điều tra tình hình phòng ngự, tổ chức quân đội trong thành, lấy cắp bí mật chế tạo, sử dụng của nỏ thần – vũ khí đặc biệt của Âu Lạc.

Sách Giao Châu ngoại vực ký chép: “…Nam Việt Vương sai Thái tử tên là Thủy sang xin hàng phục An Dương Vương, xưng thần thờ vua. An Dương Vương không biết Cao Thông8Việt sử lược lại chép là Cao Lỗ, Sđd, tr. 15 là thần nhân, đãi ngộ ông không phải đạo, Thông bèn bỏ đi, nói với vua rằng:

cuộc chiến chống triệu đà
Nỏ thần – Cuộc chiến chống Triệu Đà

“Giữ được nỏ này thì làm vua thiên hạ, không giữ được nỏ này thì mất Thiên hạ”. Sau khi Thông đi rồi, có người con gái tẽn là Mỵ Châu thấy Thủy là người đoan chính, cùng Thủy qua lại với nhau. Thủy hỏi Châu, bảo Châu lấy nỏ của bố cho xem. Thủy thấy nỏ, bèn lấy trộm, đem cưa đứt nò, rồi trốn về báo với Nam Việt Vương. Khi Nam Việt Vương đem quân đánh, An Dương Vương bắn nỏ, nỏ gẫy, nên thua. An Dương Vương xuống thuyền chạy ra biển”9Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr. 427 – 428.

Sách Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng cũng chép câu chuyện về mưu kế xảo trá, ăn cắp nỏ thần của họ Triệu có nội dung tương tự như trên: “Triệu Đà sai con sang ở rể. Không đầy 3 năm học được phép chế nỏ và phá nò. Bèn sai đi đánh, bắt được vua Man đem về”10Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 203. Câu chuyện có chi tiết hơi khác là con gái của An Dương Vương tên là Lan Châu chứ không phải là Mỵ Châu.

Trong các bộ chính sử, tư sử và truyền thuyết dân gian của Việt Nam cũng ghi lại âm mưu cùng thủ đoạn mà Triệu Đà đã sử dụng để chinh phục Âu Lạc, được phản ánh sâu sắc trong truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “…Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ sang giảng hòa”, “…Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu… Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ… Trọng Thủy về báo cho Đà biết… Đà đem quân đến đánh vua [An Dương Vương]. Vua không biết lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bào: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?” Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phía nam”11Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, 138 – 139. Truyện Rùa vàng ghi trong sách Lĩnh Nam chích quái có nội dung tương tự như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép.

Vào cuối thế kỷ XIX, Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái trong Đại Nam quốc sử diễn ca – một tác phẩm văn vần về lịch sử Việt Nam – đã viết về câu chuyện này như sau:

“…Bình Giang rạch nửa sơn hà,

Bắc là Triệu úy, Nam là Thục vương,

Mặt ngoài hai nước phân cương

Mà trong Triệu lại mượn đường thông gia.

Nghĩ rằng hai nước một nhà,

Nào hay hôn cầu lại ra khấu thù

Thục cơ tên gọi Mỵ Châu,

Gả cho Trọng Thủy, con đầu Triệu vương,

Trăm năm đã tạc đá vàng,

Ai người Thế tử ra đường phụ ân

Tóc tơ tỏ hết xa gần,

Thừa cơ đem máy nỏ thằn đốt đi.

… An Dương cậy có nỏ thần,

Vi kỳ còn hãy ham phần vui chơi

Triệu quân ruôi đến tận nơi,

Máy thiêng đã mất, thế người cũng suy”12Lê Ngô Cát – Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca, Nxb. Văn hóa.

Nhà thơ Tố Hữu đã cảm thán viết thành những câu thơ bi thương về kết cục của mối tình Trọng Thủy – Mỵ Châu:

Tôi kể ngày xưa truyện Mỵ Châu,

Trái tim lầm lỡ để trên đầu,

Nỏ thần vô ý trao tay giặc,

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Sau khi Trọng Thủy trở về Phiên Ngung, thông báo cụ thể tình hình đã điều tra, Triệu Đà lập tức đưa một đội quân hùng mạnh sang xâm lược Âu Lạc, bất ngờ tấn công vào kinh thành Cổ Loa. An Dương Vương trở tay không kịp, chỉ một trận chiến đã khiến kinh thành thất thủ, vua phải bỏ thành rút chạy. Quốc gia Âu Lạc sụp đổ, quân Triệu vào chiếm đóng Âu Lạc từ năm đó. Tư Mã Thiên chép trong bộ Sử ký: nước Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà sau khi Cao Hậu (tức Lã [Lữ] Hậu) nhà Hán chết tháng 7 năm 180 TCN, tức sớm nhất vào năm 179 TCN. An Dương Vương sau khi chạy xuống phía nam, đã nhảy xuống biển tự vẫn. Nơi nhà vua trẫm mình,  hiện còn đền thờ tại xã Cao Xá, huyện Diễn Châu, Nghệ An và được ghi lại trong Quốc sử13Lê Ngô Cát – Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca, Nxb. Văn hóa và truyền thuyết dân gian. 

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Triệu đã bị thất bại, Nhà nước Âu Lạc được vun đắp trên sự hòa hợp, nỗ lực chung của liên minh hai tộc Tây Âu và Lạc Việt trải qua bao gian khổ, hy sinh mới gây dựng nên, bị đổ vỡ. Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại to lớn này, trước hết phải quy về nhà vua An Dương Vương.

Sau khi giành được ngôi báu, nhà vua đã tập trung xây dựng quốc gia vững mạnh, liên tiếp chủ động đánh bại kẻ thù trên chiến trường Tiên Du – Vũ Ninh. Nhưng kết cục, An Dương Vương đã “ngủ quên trên chiến thắng”, xa rời nhân dân, không tăng cường củng cố khối đoàn kết trong nội bộ triều đình. Vua đam mê hưởng thụ, khi giặc đến nơi vẫn còn ung dung ngồi đánh cờ, có sách còn chép vua đang say rượu chưa tinh. Nhiều tướng lĩnh tài giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán… người thì bị bạc đãi, người thì bị sát hại, hoặc bất mãn đã giã tò triều đình ra đi. Điều này được phản ánh rõ trong ghi chép của sử sách và truyền thuyết dân gian như chuyện nằm mơ của Cao Biền, thấy một người tự xưng là Cao Lỗ nói:

“Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc hầu gièm pha phải bó đi”14Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 137. Vua chúa quan ý vào vũ khí mạnh, thành Cổ Loa kiên cố, coi thường kẻ địch, mắc mưu cầu thân của chúng.

Thêm vào đấy, bằng những thủ đoạn thâm độc như hối lộ, gây bất hòa, chia rẽ giữa vua tôi Âu Lạc, Triệu Đà từng bước khiến An Dương Vương mất cảnh giác để quân thù lọt vào giữa quân doanh, lấy và phá hỏng vũ khí bí mật, làm suy yếu lực lượng phòng vệ của Âu Lạc.

Những nguyên nhân chủ quan và khách quan trên đã tác động mạnh mẽ làm cho Nhà nước Âu Lạc càng ngày suy yếu, tư tưởng chống giặc trong quân tướng triều đình cũng dần bị trễ nải, không còn tinh thần chiến đấu mãnh liệt như trước nữa. Vì thế, khi kẻ thù bất ngờ tấn công, triều đình An Dương Vương không đủ sức chống cự, nhanh chóng tan vỡ. Kết cục, giang sơn Âu Lạc rơi vào tay họ Triệu, trờ thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của nước Nam Việt.

Thất bại của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu không những làm cho cơ đồ Âu Lạc bị tan vỡ, mà hệ quả tiếp theo của nó là đến năm 111 TCN khi Nam Việt bị nhà Tây Hán thôn tính thì toàn bộ vùng đất Âu Lạc cũng trở thành quận, huyện thuộc Hán. Người dân của quốc gia Âu Lạc oai hùng xưa kia phải sống trong cảnh mất nước kéo dài tò triều Hán đến triều Đường, đằng đẵng hơn nghìn năm của đêm trường Bắc thuộc. 

Sử gia Ngô Thì Sĩ đã phán xét như sau: “Nước ta nội thuộc Trung Hoa từ Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chính là Triệu Đà”15Việt sử tiêu án, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 137. Quốc gia Âu Lạc, kế thừa truyền thống Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng, là tinh hoa của cả một thời đại dựng nước và giữ nước Hùng Vương – An Dương Vương với một nền văn minh Đông Sơn rực rỡ, vẫn rạng tỏa trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Chúng ta tự hào về Tổ tiên cùng những vị vua Hùng Vương, An Dương Vương đã tạo dựng cơ sở ban đầu vững chắc cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu một bề dày văn hiến bản địa, một sức sống trường tồn trước mọi thử thách khốc liệt của thời gian, thiên nhiên và con người. Quá trình dựng nước và giữ nước vĩ đại của cha ông chúng ta mãi mãi là bài học kinh nghiệm quý giá để cháu con các đời sau gìn giữ và noi theo.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: