Cuộc chiến vang danh trên sông Như Nguyệt

by Moc Lam Quan

Lý Thường Kiệt ra sức đắp thành ở sông Như Nguyệt, lấy lại được Vũ Bình Nguyên. Quân ta thắng lợi trở về, nhà vua lại khen thưởng lớn.

Tượng Lý Thường Kiệt - trận chiến sông Như Nguyệt

Tượng Lý Thường Kiệt

Xây dựng phòng tuyến chống quân Tống

Khi vừa rút quân về nước, Lý Thường Kiệt đã nhanh chóng và khẩn trương bước vào chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Dự đoán thế nào quân Tống cũng kéo sang với ý chí phục thù và với mục đích được nung nấu sẵn từ trước, Lý Thường Kiệt một mặt đã cho quân lính ngày đêm tập luyện đề phòng thủ đất nước, một mặt đã bí mật tung người sang đất Tống do thám tình hình kết hợp với việc bài binh bố trận cho cuộc chiến sắp tới. 

Về phía nhà Tống, do chủ quan, tướng có thành cao hào sâu là thắng nên không đề phòng, dẫn đến thất bại thảm hại ngay từ những tính toán ban đầu. Thế của nhà Tống từ chủ động đã chuyển sang bị động. Vì bị động nên rất lúng túng và nhà Tống đã phải thay đổi nhiều lần kế hoạch tiến quân. Sau khi biết Khâm và Liêm bị mất và thành Ung Châu bị hạ, vua Tống và Vương An Thạch rất hoang mang đã phải tìm cách chống đỡ theo phương sách mới. Tức Vương An Thạch và Tống Thần Tông phải đối lại chiến lược. Mục đích của nhà Tống lúc này không còn hùng hồn như lúc ban đầu là “diệt được Giao Chỉ” thì “sẽ nuốt tươi nước Hạ” mà chỉ với mục đích khiêm nhường hơn là “sau khi bình định được Giao Chi sẽ đặt châu huyện nhu nội địa”1Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 146.

Đẻ mục đích này trở thành hiện thực, nhà Tống đã chuẩn bị cho việc đánh chiếm Đại Việt thật là kỹ lưỡng và chu đáo, kéo dài trong gần một năm, từ tháng Chạp năm Ất Mão (1075), đến tháng 10 năm Bính Thìn (1076). Trong quãng thời gian này, triều đình nhà Tống đã chuẩn bị chu đáo được nhiều mặt như: khiển tướng, điều binh, quân trang, quân dụng, vận lương, kể cả y dược và những phương thức tuyên truyền, phủ dụ khi cần thiết.

Khi xuất quân ra trận, việc cử được tướng lĩnh giỏi là một điều cực kỳ quan trọng. Ngày 2 – 2 – 1076 (tức ngày 25 tháng Chạp năm Ất Mão)2Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 146, vua Tống đã cử Triệu Tiết làm An Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản chiêu thảo sứ và Lý Hiến làm phó dẫn quân tiến xuống Đại Việt. Ngoài Lý Hiến còn có một số tướng lĩnh khác như Ôn Cảo, Yên Đạt, v.v… hầu hết đều là những tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm và lập nhiều chiến công ở miền Bắc. Nhưng do Lý

Hiến xuất thân từ một hoạn quan, các đình thần trong triều phản đối dùng hoạn quan vào việc quân, Lý Hiến và Triệu Tiết lại mâu thuẫn với nhau nên triều đình cử Quách Quỳ làm chủ tướng thay Triệu Tiết. Triệu Tiết thay Lý Hiến. Quách Quỳ là một võ tướng từng có công giúp Phạm Trọng Yêm giữ biên thuỳ giáp Hạ. Tính Quỳ cẩn thận, bàn việc chắc chắn nhưng vì cẩn thận quá thành chậm chạp và rụt rè. Mà trong việc binh chậm chạp rụt rè thường bị bỏ lỡ mất nhiều cơ hội tốt. Tướng lĩnh và quân lính đi theo Quách Quỳ phần lớn là những người thân tín đã từng vào sinh ra tử chinh chiến với Quách Quỳ từ các doanh trại ở Tây Bắc. Bộ binh phần lớn cũng được lấy từ các trại đóng gần biên thuỳ Liêu – Hạ và đều là những quân lính tinh nhuệ. Thêm vào đó là quân lính mộ ở các lộ Hà Bắc, Kinh Đông và vùng Khê Động dọc đường từ kinh đô xuống Ung Châu. Tổng số quân bộ được điều động lần này là hơn 10 vạn, chia làm 9 đạo, do 9 tướng chi huy, mỗi đạo có chừng 5.000 quân, số quân của 9 đạo gồm 45 nghìn người đều là quân tinh nhuệ từ miền Bắc cử xuống, còn lại là quân tuyển mộ ở miền Nam và quân tình nguyện. Đi theo có 1 vạn ngựa3Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 151.

Về đường tiến quân xuống Đại Việt của quân Tống được bố trí theo hai hướng. Đạo quân chủ lực gồm bộ binh và kỵ binh, tập trung ở Ung Châu, tiến vào vùng Bắc và Đông Bắc của Đại Việt, phân ra các trại trên đường sang Quảng Nguyên, Lạng Châu, Tô Mậu và Vĩnh An. Hai cánh quân này có nhiệm vụ đánh vào Quảng Nguyên và Vĩnh An để chặn đường tập hậu của quân Lý. Sau đại quân sẽ theo đường chính vào Lạng Châu, qua các sông Đào Hoa (sông Thương), sông Nam Định (sông cầu) và sông Lô (Nhị Hà) để vào kinh thành Thăng Long. Quân Tống chỉ mạnh về kỵ binh. Còn thuỷ binh thì không được điêu luyện vì nhà Tổng không có sẵn thủy binh cũng như không có chiến hạm. Lúc đầu Hứa Ngạn Tiên và Lưu Sơ đem người liên kết với Chiêm Thành, Chân Lạp xui họ đánh vào biên thuỳ phía Nam Đại Việt, nhưng Hứa Ngạn Tiên không làm được việc đó. Sau khi Ung Châu bị mất, nhà Tống mới có ý định dùng thuỷ quân.

Để thực hiện được cuộc viễn chinh quy mô như vậy thì vấn đề hậu cần, lương thảo là rất hệ trọng đối với quân Tống. Đường hành  quân từ đất Tống sang Đại Việt lúc ấy không hề thuận lợi, phải qua nhiều vùng hoang vắng, núi non hiểm trở, khí hậu độc dữ thì việc trông cậy vào sự giúp đỡ, cướp bóc dọc đường là không thể có. Vì vậy, nếu không lo đù được lương ăn cho quân sĩ thì nói gì đến việc đánh và đánh thắng được đối phương. Ngoài việc chuẩn bị lương ăn cho quân lính, cỏ cho ngựa còn phải có cả lương ăn cho phu tải lương nữa. Với sổ quân muời vạn, số ngựa một vạn cùng với số phu tài lương nữa thì lương thực không phải chỉ cung cấp cho 10 vạn người mà thực tế lớn hơn thế nhiều. Hiểu rõ điều đó nên nhà Tống quan tâm đến việc này rất sát sao. Ngày 21 tháng 2 năm 1076, vua Tống đã cử Phó tướng Triệu Tiết phụ trách việc lương thảo tập kết ở Ung Châu để chuyển xuống Đại Việt theo cùng quân lính. Nhà Tống còn lệnh cho sửa chữa và đắp các thành, trại ở vùng Ung Châu để chứa. Việc chuyên chờ lương thảo trong nội địa tới Ung Châu được nhà Tống dùng thuyền chờ theo các sông và dùng xe các loại. Nhưng để chuyển được lương xuống Đại Việt nuôi một đội quân lớn như vậy, lại qua bao núi non hiểm trở thì nhà Tống không còn cách nào hơn là phải dùng tới sức người và súc vật. Viên Chuyển vận sứ Lý Bình Nhất của nhà Tống đã tính phải cần có 40 vạn phu cả thảy4Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 155. Sau tính toán kỹ lưỡng, kết hợp với việc cho súc vật vừa dùng để chuyên chở vừa để giết làm lương ăn dọc đường cho quân lính, số phu khuân vác đã bớt đi được một nửa, còn lại 20 vạn. Cũng do bớt đi số phu chuyên chờ nên cuộc hành quân này cũng phải để lại một số vũ khí cần thiết, như để lại một nửa số mũi tên bằng sắt là 32.400 cái5Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 155.

Biết thế nào đại quân Tống kéo xuống Đại Việt, lạ thung lạ thổ, khí hậu nóng bức, ẩm ướt lại phải qua nhiều vùng rừng núi có nhiều lam chướng chắc chán sẽ phát sinh nhiều bệnh tật, nên nhà Tống cũng rất chú ý tới mặt y dược, chuẩn bị thuốc thang và chọn lựa nhiều thầy thuốc giỏi cho cuộc hành quân. Đẻ đề phòng bệnh tật cho quân sĩ dọc đường hành quân, vua Tống vừa sai quan Thái y giỏi chế nhiều loại thuốc chống lam chướng, vừa cừ cả quan Thái y đi theo, đồng thời còn hạ chiếu căn dặn quân lính rằng “đừng ăn đồ sống, đồ lạnh và cấm uống rượu.

Khi đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc viễn chinh, vua Tống vẫn còn e sợ các nước Liêu – Hạ nhận thấy Tống bận việc phương Nam sẽ gây sự ở phương Bắc nên Tống Thần Tông đã căn dặn Quách Quỳ phải “đánh nhanh thắng nhanh”.

Về phía quân và dân Đại Việt, từ tháng 3 năm 1076, sau khi rút về nước, Lý Thường Kiệt đã tích cục và nhanh chóng lãnh đạo quân dân sửa soạn các phòng tuyến để phòng bị cuộc tiến công đánh trả của quân Tống. Nhưng để chống chọi với giặc Tống ở phương Bắc, Lý Thường Kiệt không quên đề phòng biên thùy phía Nam. Dò biết quân Tống đang tìm cách dụ Chiêm Thành và Chân Lạp hợp sức đánh thọc hậu phía Nam nước ta nên ông đã đem quân vào tuần du ở các châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh mà Chiêm Thành vừa nhường cho Đại Việt từ năm 1069 vẽ địa đồ, chiêu mộ dân chúng đến ở rồi đổi châu Địa Lý làm Lâm Bình, Ma Linh làm Minh Linh6Toàn thư, tập I, quyển III, tr. 291 để xác lập chủ quyền và cùng cố địa vị của Đại Việt trên những miền đất mới này. Ở phía Bắc, Lý Thường Kiệt cũng tìm mọi cách để thăm dò hành động của quân Tống trước khi chúng tiến vào Đại Việt. Lúc hạ thành Ung Châu, quân Lý có bắt được 200 nhà sư, Lý Thường Kiệt cho thu giữ hết bằng sắc, đưa họ vào ở xa kinh thành, rồi cho 200 người của Đại Việt cải trang làm sư mang bằng sắc đó sang dò xét tình hình. Ngoài ra, Lý Thường Kiệt còn cho dân thuyền chài ở ven biển trà trộn vào đất Tổng cũng làm nhiệm vụ dò la tin tức.

Song song với việc dò la tin tức, do thám tình hình, đề phòng sự phản trắc đánh thọc hậu phía Nam, Lý Thường Kiệt đã nghiên cứu địa hình địa vật, tính toán cách bố phòng rất thông minh và lợi hại để đón đánh quân địch một cách hoàn toàn tin tưởng và chủ động.

Mục tiêu của quân Tống khi vào đến Đại Việt là chiếm cho đuợc kinh thành Thăng Long và sau đó là lăng tẩm, cung điện của nhà Lý. Lăng miếu của các vua nhà Lý lại đặt hết ở làng Đình Bảng, phù Từ Sơn (nay thuộc tinh Bắc Ninh) – giữa bình nguyên rộng lớn. Quân Tống muốn vào được Thăng Long ắt phải đi qua vùng này. Tính toán kỹ đường đi nước bước của quân Tống, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng một hệ thống phòng thủ rất hợp lý vừa bảo vệ được kinh thành, vừa bảo vệ được lăng tẩm. Kinh thành Thăng Long và lăng tẩm của nhà Lý lại được che chở bởi con sông Nam Định (tức sông cầu). Các đường tiến vào Thăng Long của quân Tống từ Ung Châu xuống đều phải qua con sông cầu chạy dài suốt từ Cao Bằng đến Lục Đầu đổ ra biển. Vì vậy, sông cầu cùng thượng lưu của nó có vai trò rất hệ trọng đối với việc bảo vệ miền đồng bằng và kinh đô Thăng Long. Trừ vùng thượng lưu có núi non hiểm trở ra, đoạn từ Thái Nguyên trở xuống có thể qua được, nhưng mặt sau lại có dãy núi Tam Đảo chắn ngang nên khúc từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu nhất là đoạn từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền là thuận lợi nhất, có bến, có lối, qua sông dễ dàng. Lý Thường Kiệt rất sáng suốt, nắm vững địa hình, địa lợi đã huy động quân dân nhà Lý xây dựng một hệ thống phòng thủ kiên cố chưa từng có.

Để phòng thủ phía dưới được tốt, Lý Thường Kiệt đã cho quân chủ lực làm nhiệm vụ chặn đường quân Tống từ trại Vĩnh Bình trở xuống, đặt doanh trại tại các cửa ải, vì Vĩnh Bình là tâm điểm để đi vào các vùng Quảng Nguyên, Quang Lang và Tô Mậu. Cửa ải đầu tiên được quân Lý đặt doanh trại là cửa ải Quyết Lý (Nhân Lý, thuộc xã Văn Thụ, Lạng Sơn) ở phía Bắc châu Quang Lang và cửa ải thứ hai được đặt ở phía Nam của châu này là cửa ải Giáp Khẩu (Chi Lăng). Con đường duy nhất hành quân từ Nam Quan xuống Thăng Long của quân Tống buộc phải đi qua hai cửa ải hiểm yếu mà hai bên toàn là rừng rậm và núi non hiểm trở này. Hai cửa ải hiểm yếu Quyết Lý và Giáp Khẩu cùng nằm trong hệ thống phòng tuyến nhưng nó chỉ mang ý nghĩa quan trọng khi thực hiện nhiệm vụ đánh tỉa lúc quân địch đặt chân vào Đại Việt. Còn phòng tuyến quan trọng bậc nhất có tính quyết định thắng lợi của cuộc chiến là phòng tuyến phía Nam sông cầu.

Muốn ngăn cản bước tiến của quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt đã cho đắp đê cao như bức tường thành ở mặt Nam sông cầu. Bên trên đóng tre làm dậu dày mấy tầng. Bức tường thành kiên cố nhân tạo chạy dài gần 100 cây số từ chân dãy núi Tam Đảo trở xuống, bao bọc che đỡ cho cả hai vùng đồng bằng rộng lớn. Thành  hào kiên cố như thế chắc chắn giúp quân Lý dễ dàng phòng thủ hơn là một đồn thành đơn chiếc tại giữa kinh thành. Đó là một sáng kiến có một không hai của Lý Thường Kiệt.

Sử cũ của ta chép về phòng tuyến này rất sơ lược. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi: “Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh. Đến sông Như Nguyệt đánh tan địch… Người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ7Toàn thư, tập I, quyển III, tr. 291.

Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên khi viết về công trạng của Lý Thường Kiệt cũng chỉ ghi vài dòng sơ lược là: “Nhà Tống sang đánh báo thù, vây hãm các châu Lục, Lược. Ông (Lý Thường Kiệt) ra sức đắp thành ở sông Như Nguyệt, lấy lại được Vũ Bình Nguyên. Quân ta thắng lợi trở về, nhà vua lại khen thưởng lớn”8Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, sđd, tr. 60.

Hoặc cũng sách Việt điện u linh khi nói về sự tích Trương Hống Trương Hát được thờ ở cửa sông Như Nguyệt, có đoạn viết: “Đến thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi. Vua sai Lý Thường kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ…”9Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, sđd, ứ. 71.

Tuy sử sách ghi chép không nhiều về việc xây dựng phòng tuyến này, nhưng ngày nay qua khảo sát địa hình ta thấy dòng sông Cầu tại bến đò Như Nguyệt chính là một chướng ngại thiên nhiên lợi hại làm chặn đứng bước tiến của quân Tống kéo vào Thăng Long từ phía Bắc xuống. Nên tại đây Lý Thường Kiệt đã cho đắp lũy đất ở bờ phía Nam rồi đóng cọc tre làm dậu ở phía trong để quân Tống không qua sông được.

Quân thuỷ để trấn giữ ở phòng tuyến này không nhiều. Đại thủy binh thì được phân công đóng ở Vạn Xuân, trên sông Lục Đầu, có thể tiếp ứng cho các phía sông Thương, sông Lục Nam, sông cầu, sông Thiên Đức hoặc ra cửa Bạch Đằng do Thái tử Hoàng Chân, Chiêu Văn và tướng Nguyễn Căn chi huy. Đại binh chủ lực của Lý Thường Kiệt có nhiệm vụ dàn trận, đóng dọc theo llũy tre mặt Nam sông Cầu để chặn đường quân Tống xuống Thiên Đức và Thăng Long. Quân Tống muốn vào Thăng Long buộc phải đi qua đường này. Nhung thuyền không có và nếu có tìm cách qua được sông thì sẽ bị vấp phải bức tường thành có rào chắn kiên cố và đại quân của Lý Thường Kiệt đang phục chờ sẵn ờ đó. Đến khi quân Tống cần tiếp ứng bằng thuỷ quân thì đã bị cánh quân thuỷ của nhà Lý chặn ở Vạn Xuân.

Phòng tuyến được bố trí khép kín như vậy – kỳ công có một không hai của vị tướng tài Lý Thường Kiệt sẽ làm cho quân Tống bất ngờ và vô cùng thất vọng khi tiến xuống gần Thăng Long. Lúc đó chắc chắn quân Tống không còn mộng tưởng “đánh nhanh thắng nhanh” như lời vua Tống dặn Quách Quỳ trước khi xuất binh nữa. Và như vậy, quân Tống không những không giải quyết nhanh Giao Chi để quay về vấn đề Liêu – Hạ mà còn bị kìm chân tại mặt Bắc sông Cầu, thiếu lương, mệt mỏi, bệnh tật sau một chặng đường dài hành quân vất vả.

Để hỗ trợ cho cánh quân chủ lực trên phòng tuyến chính, Lý Thường Kiệt còn cho bố trí hai cánh quân Tả đực, Hữu dực ở mặt Bắc làm phên dậu.

Cánh quân Tả dực, gồm 5.000 quân do Lưu Kỳ chỉ huy, toàn là thổ binh coi giữ châu Quảng Nguyên. Dưới quyền chỉ huy của Lưu Kỳ là nhiều tướng lĩnh tài ba thuộc dòng dõi, bộ hạ của Nùng Trí Cao và Nùng Tôn Đán, đang trấn giữ các động Lôi Hoả, Vật Ác, Vật Dương làm nhiệm vụ vừa giữ đất vừa uy hiếp hậu phương và đường tiếp tế của quân Tống.

Cánh quân Hữu dực đóng ờ trại Ngọc Sơn thuộc Vĩnh An. Thuỷ quân thì đóng ở sông Đông Kênh, sau cửa Đồn Sơn (tức Vân Đồn), do tướng Lý Kế Nguyên dẫn đầu, làm nhiệm vụ ngăn cản thuyền lương và chiến hạm của quân Tống vào sông để tiếp viện.

Trấn giữ ở hai cửa ải hiểm yếu vừa đặt ở Quyết Lý và Giáp Khẩu thì giao cho cánh quân của Phò mã Thân Cảnh Phúc. Cánh quân này đóng ở Động Giáp để làm nhiệm vụ khống chế. Hai bên tả hữu của cánh quân Thân Cảnh Phúc được bố trí lực lượng thổ binh do các tù trưởng chi huy. Bên tả có quân của Sầm Khánh Tân, Nùng Thuận Linh và Hoàng Kim Mãn trấn giữ Môn Châu đường qua Binh Gia đến Phú Lương. Bên hữu là cánh quân của Vi Thủ An trấn giữ châu Tô Mậu và đường từ Tư Lăng (thuộc địa phận Ung Châu) đến Lạng Châu. Những đội thổ binh này là nỗi lo ngại lớn đối với quân Tống vì họ rất thông thạo địa hình, có thể ẩn hiện theo lối đánh tập kích khó lòng chống đỡ.

Những đội quân được bố trí như trên sẽ đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho đại quân chủ lực đang bài binh bố trận tại phòng tuyến mặt Nam sông cầu. Họ sẽ kiềm chế bước tiến, đánh tỉa, tiêu hao sinh lực địch ngay từ lúc chúng mới đặt chân trên đất nước mình. Sau, tiến tới đánh chặn đường tiếp tế hậu cần của đối phương rồi sẵn sàng ứng phó phối hợp đại quân chủ lực khi tổng phản công.

Nhưng kế hoạch dự định đối với lực lượng này kết quả không được như mong muốn. Cuối cùng phòng tuyến đóng vai trò quyết định làm nên chiến thắng là ở mặt Nam sông cầu và lực lượng thuỷ quân dày dạn từng làm nên chiến thắng ban đầu ở trận Ung Châu trước đó. Khi đã chuẩn bị chu đáo mọi mặt, phòng tuyến đã được xây dựng, với niềm tin tưởng và quyết tâm cao độ, Lý Thường Kiệt cùng quân dân nhà Lý đã sẵn sàng trong tư thế hoàn toàn chủ động, chờ địch đến để đánh, giành độc lập vẹn toàn cho giang sơn xã tắc.

Chiến thắng trên sông Như Nguyệt (1077)

Trước khi đại binh Tống kéo vào Đại Việt, Quách Quỳ đã sai hai tướng Đào Bật và Khúc Chần đi trước mang bằng sấc vào các khê động dụ dỗ các tù trường để dọn đường cho cuộc hành quân. Quách Quỳ và Triệu Tiết thì ra sức chiêu dụ dân vùng khê động bằng mọi cách. Một số tù trưởng vùng khê động trước kia rất tích cực theo Lý Thường Kiệt chống Tống thì đến đây cũng bị lung lạc. Nhưng vua Tống cũng vẫn dè chừng không dám cho dung nạp, sợ sa vào cạm bẫy.

Đại quân Tống bắt đầu tiến quân xuống Đại Việt. Các tướng hẹn nhau cùng tiến, đến khoảng tháng 7, An Nam hành doanh và quân của bốn tướng thuộc trung quân đã tới Đàm Châu (tức Tràng Sa). Cuối tháng 7, Quách Quỳ hạ lệnh cho chín đạo lục quân từ Quế Châu tiến xuống Ung Châu. Đến tháng 9, Quách Quỳ và đại quân đã tới đóng ở Ung Châu, rồi chia quân đi đóng ở các trại dọc biên giới, đối diện với các châu Quảng Nguyên, Môn Châu, Quang Lang và Tô Mậu. Tháng 10, đại quân Tống đã tới đóng ở Tư Minh hơn hai tháng. Tư Minh thuộc trại Vĩnh Bình, từ địa điểm này cỏ thể lan tỏa ra các châu biên giới Đại Việt như Quảng Nguyên, Môn Châu, Quang Lang, Tô Mậu. Hành doanh của Quách Quỳ thì đóng ở Bằng Tường (cạnh Tư Minh) để chờ cách đối phó. Cánh quân thuỷ do Dương Tùng Tiên, Tô Tử Nguyên dẫn đầu cũng đã đóng ở dọc ven bể trông sang Vĩnh An đè vào Đại Việt. Nhưng ngay từ tháng 7 năm 1076, khi mới tới Đàm Châu, sợ quân Lý đánh bất ngờ như trận Khâm, Liêm, Quách Quỳ đã sai Nhâm Khi đem quân đánh úp trại Ngọc Sơn gần biên giới châu Vĩnh An. Trại Ngọc Sơn bị mất vì không có nhiều quân phòng thủ. Quân Tống đã giành được thắng lợi đầu tiên trên đất Đại Việt. Đến tháng 10, Quách Quỳ sai Yên Đạt – viên tướng giòi có công đánh Hạ, đánh vào châu Quảng Nguyên – địa điểm quan trọng “cổ họng của Giao Chi” (lời Quách Quỳ). Tướng giỏi của nhà Lý là Lưu Kỷ, chỉ huy quân chiến đấu rất anh dũng làm cho tiền quân của Yên Đạt bị rơi vào thế lâm nguy, chúng đã phải phao tin là Lưu Kỷ sắp hàng.

Dân vùng khê động tường thuật bèn ngả theo Tống. Cuối cùng Lưu Kỷ bị lâm vào thế cô phải ra hàng vào tháng 12 năm Bính Thìn (tháng 1 – 1077). Trong trận này Tống bắt được nhiều quân cùa Lưu Kỳ và thu được một số lương thực cho quân lính trên đường hành quân. Sau đó, Yên Đạt liền sai quân lính đốt phá các động đề phòng quân Lý tiếp tục tập kích.

Quảng Nguyên bị mất, Triệu Tiết nhân đà thắng, muốn sai Yên Đạt xuống luôn Thăng Long bằng đường tắt Bắc Cạn – Thái Nguyên, kết hợp với quân từ đường sông, đường bộ, ba mặt phối hợp cùng đánh. Nhưng Quách Quỳ không theo cách ấy, đã sai Yên Đạt trở về Tư Minh hội quân ngay, chỉ để lại Khúc Chẩn cùng 3.000 kỵ binh đóng trại ở đó.

Quách Quỳ bắt đầu đem đại quân từ Tư Minh, Bằng Tường kéo sang Đại Việt vào ngày 8 – 1 – 1077 (tức ngày 11 tháng Chạp năm Bính Thìn). Từ các phía, quân Tống cũng tiếp tục tấn công. Phía Tây, Khúc Chẩn rời bò Quàng Nguyên, tiến sang lấy được Môn Châu, vì các tướng giữ Môn Châu là Hoàng Kim Mãn và sầm Khánh Châu đã đầu hàng nhà Tống từ trước. Phía Đông, quân Tống từ các châu Lộc, Tu Lăng tiến vào châu Tô Mậu, đánh chiếm một cách dễ dàng, vì tướng Lý là Vi Thủ An coi giữ châu này đã bị Tống dụ hàng. Mặt giữa, quân Tống vượt qua núi phía Nam sông ô Bì (sông Kỳ Cùng) tới huyện Quang Lang. Lúc này cánh quân của Phò mã Thân Cảnh Phúc dùng voi chặn đánh quân Tống ở ải Quyết Lý. Bị voi cản đường, quân Tống dùng nỏ bắn vào voi và lấy mã tấu chém, voi chạy lại dẫm lên cả quân. Quân Tống chiếm được ải Quyết Lý ở huyện Quang Lang.

Sau khi chiếm được huyện Quang Lang, Quách Quỳ định kéo quân xuống Lạng Châu. Đường đi xuống Lạng Châu là đoạn đường đi thẳng từ Ôn Châu đến phủ Lạng Thương (tên sau này). Nhưng đây là đoạn đường độc đạo rất hiểm trở. Hai bên toàn rừng núi cheo leo. Biết quân Đại Việt đặt phục binh ở ải Giáp Khẩu (Chi Lăng), nơi năm xưa quân Tống đã bị một phen mất vía khi kéo sang Đại

Cồ Việt đánh Lê Hoàn vào thế kỷ X, nên Quách Quỳ không cho quân đi đường thẳng mà phải đi bằng đường tắt. Ngoài đường chính qua ải Chi Lăng, còn một đường đi về phía Tây, qua xã Bình Gia, châu Vạn Nhai rồi đến Phú Lương. Quách Quỳ đã sai tướng tiền phong là Tu Kỳ đem quân vòng về phía Tây. Sách Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đào cũng nói rõ: “Giặc (chi quân Lý) đặt phục binh ở cửa ải Giáp Khẩu đề đón quân ta. Quỳ biết nên đi theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đinh mà tiến. Bèn tới sông Phú Lương”10Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 202. Như vậy, Quách Quỳ sợ không dám cho quân đi theo đường Giáp Khẩu mà đã đi đường vòng theo hướng phía Tây, qua dãy núi Bắc Sơn, đi đường tắt qua xã Vạn Linh.

Lý Thường Kiệt không ngờ quân Tống đã chọn đường tắt nên số quân phòng bị ờ các hướng đó không nhiều do đó không cản nổi cuộc tiến công ồ ạt của địch. Tướng tiên phong của Tống là Tu Kỷ đưa kỵ binh đi trước, gặp quân Lý và bị quân Lý đánh trả rất quyết liệt, quân Tống phải đánh hết sức mới ra khỏi núi. Khi tiền quân của Tu Kỳ lọt qua, đại quân Tống cũng lần lượt kéo theo sau. Một mặt xuống sông Phú Lương (thượng lưu sông cầu – vùng Thái Nguyên), một mặt tiến sang phía Đông, phía sau lưng quân Đại Việt ở Giáp Khẩu. Quân Đại Việt bị thua ở Giáp Khẩu đã rút lui về phía Đông Nam liên lạc với cánh quân Hữu dực ở Vạn Xuân. Quân Tống ở mạn trên còn lại tràn qua ải Chi Lăng tiến thẳng xuống sông Đào Hoa cùng với số quân ở núi Đâu Đỉnh hợp lại đóng cọc theo mặt bác sông cầu.

Đạo quân của Khúc Chẩn từ Quảng Nguyên cũng kéo xuống. Cánh quân này do có Hoàng Kim Mân quy hàng dẫn đường nên đã nhanh chóng tiến tới đóng ở bến đò sông Như Nguyệt. Cánh quân chủ lực của chủ tướng Quách Quỳ cũng đã tới sông Phú Lương vào ngày 21 tháng Chạp năm Bính Thìn (tức ngày 18 – 1 – 1077) và kéo đến đóng ở khu vực Thị cầu. Như vậy, cho đến đầu năm 1077,

Tống đã hội quân đầy đủ ở mặt Bắc sông cầu từ bến đò sông Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, chỉ còn cách quân Lý bởi dòng sông Cầu – một “cái hào thiên nhiên lợi hại” và quân Lý từ đây bắt đầu bước vào một trận phòng thù vĩ đại hiểm có trong lịch sử. 

Chiến trường sông Như Nguyệt

Chiến trường sông Như Nguyệt (ảnh Wikimedia)

Thế là quân Tống sau khi vượt qua gần vạn dặm đã tới được trước miền trung nguyên của Đại Việt. Qua được dòng sông cầu, quân Tống sẽ dễ dàng thực hiện được ý đồ tàn phá lăng tẩm của nhà Lý và san phẳng Thăng Long, kinh đô của Đại Việt vừa được kiến lập hom nửa thế kỳ. Nhưng quân Tống có ngờ đâu khi đã tập kết được đến bờ Bắc sông cầu, không còn bao xa nữa sẽ tới đồng bằng và Thăng Long thì chúng đã vấp phải phòng tuyến kiên cố, ngăn cản bước tiến của chúng sau một chặng đường dài hành quân mệt nhọc. Từ những giây phút này, cuộc chiến đấu bắt đầu diễn ra gay go và quyết liệt. Quân Tống thì quyết chí qua sông để vào Thăng Long. Quân Lý đỏng ở bờ Nam thì quyết chí giữ bàng được phòng tuyến không cho quân Tống vượt qua.

Phòng tuyến rất kiên cố, quân Tống thì không có thuyền để qua sông, thủy quân tiếp viện từ biển thì chưa tới, vì chúng đã bị quân Lý chặn lại. vốn sẵn có tính thận trọng, lại muốn đợi thuyền từ biển vào nên Quách Quỳ hạ lệnh cho các tướng không được tự tiện tiến công. Quách Quỳ tuy thận trọng nhưng lại nghe theo mưu kế của Miêu Lý do viên tướng Hoàng Kim Mãn hàng Tống mách bảo đã miễn cưỡng cho tiền quân vượt qua sông, mở đường cho đại quân tiến công. Miêu Lý được Hoàng Kim Mãn dẫn đường cho bắc cầu phao qua sông ở chỗ bến đò sông Như Nguyệt ngày nay, hẹn tướng tiền phong là Vương Tiến đem quân qua sông trước. Quân Tống đã chọc thủng được một đoạn phòng tuyến. Quân của Lý Thường Kiệt chặn lại. Vương Tiến sợ quân Lý dùng cầu phao ấy để qua tấn công chúng ở bờ Bắc nên đã vội cắt đứt cầu làm những quân định sang không kịp. Đội quân tiên phong của Tống qua được sông đã tiến vội về phía Thăng Long nhưng đã bị quân Lý phản công kịch liệt khiến quân Tống bị hoàn toàn cô lập bên bờ Nam sông Cầu. Quân Tống bên bờ Bắc phải chèo đò sang tiếp ứng nhưng bị quân Lý chặn lại. Quân bên bờ Nam bị đứt liên lạc.

Quách Quỳ phải ra lệnh gọi Miêu Lý trở về. Trận tiến công đầu tiên của quân Tống trên phòng tuyến sông cầu bị thất bại. Tuy quân Tống không thắng được trận này và phải lui nhưng thế Tống vẫn đang mạnh. Bọn Miêu Lý trở về bờ Bắc an toàn, sau được vua Tống thưởng công nhờ việc vượt sông táo bạo lần này.

Trong trận chiến gay go ác liệt đầu tiên ấy, quân Tống thì thất bại nhưng quân Lý cũng lâm vào tình trạng nguy khốn. Để cổ vũ tinh thần binh sĩ, Lý Thường Kiệt đã phải dùng kế sai người giả làm thần nhân nấp ở trong đền thờ Trương Hát bên bờ nam bến đò Như Nguyệt đọc thơ mắng giặc báo trước sự thất bại và động viên tinh thần quân sĩ với những lời lẽ bất hủ được truyền đến muôn đời.

Đó là những câu:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Trong truyện Trương Hát ờ sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên đời Trần có chép rằng: Một đêm, quân sĩ nghe trong đền có tiếng thần ngâm bài thơ ấy, đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đảm, quả nhiên không đánh đã tan, phải rút về nước11Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, sđd, tr. 70 – 71. Sách Toàn thư chép trận đánh Như Nguyệt lần này vào năm Bính Thìn ( 1076). Có lẽ trong tình huống hết sức nguy nan như vậy, Lý Thường Kiệt đã tạo ra câu chuyện thần linh đó để khích lệ tinh thần quân sĩ và làm lung lạc ý chí chiến đấu của quân thù. Bài thơ chưa rõ xuất xứ nhưng vào thời điểm đó nó đã góp phần không nhỏ vào việc đánh bại quân Tống trong trận chiến nguy kịch đó, nó có một ý nghĩa rất lớn và được đi vào lịch sử dân tộc như là một bản tuyên ngôn độc lập quan trọng.

Sau trận thất bại lần đầu ờ Như Nguyệt, Quách Quỳ không dám hung hăng, đành chịu đóng quân ngồi chờ thủy quân viện đến đón để tìm cách qua sông. Nhưng thuỷ quân viện đã bị quân Lý chặn đánh giữ chân ngoài biên giới không thể liên lạc được với lục quân, nên làm sao có thể ứng cứu đưa quân của Quách Quỳ qua sông được. Đợi mãi chẳng được ứng cứu, Quách Quỳ đành phải ứng chiến bằng cách tự cho đỏng bè để đưa dần quân sang sông thực hiện ý đồ mở cuộc tấn công lần hai. Mỗi bè chở được 500 quân và cứ chở như vậy rất nhiều lần mới đua được số binh sĩ khá mạnh sang tới bờ Nam. Đến nơi, quân Tống liền xông tới áp giậu, vừa chặt, vừa đốt nhưng giậu dày quá, không thể phá được lại bị quân Lý phục trên bờ cao đánh xuống, làm quân Tống lâm vào tình trạng hết sức khốn đốn, tiến thoái lưỡng nan. Bè thì ít và đã quay về bờ Bắc để chở thêm quân, quân bên bờ Nam muốn trở về cũng không được. Số quân tiên phong đã qua được sông lần này bị tan vỡ hoàn toàn. Số đông bị tiêu diệt, phần còn lại thì đầu hàng. Trận tiến công lần hai của quân Tống lại bị thất bại thảm hại.

Chiến thuật qua sông của quân Tống không thực hiện được. Chúng muốn qua sông lần nữa nhưng thuyền không có. Mộng tưởng tiến vào Thăng Long của quân Tống bị tiêu tan, thủy binh tiếp ứng càng đợi càng biệt tăm. Quách Quỳ phải cấm quân sĩ không được tiến công và ra lệnh “Ai bàn đánh sẽ chém”.

Đê và sông Cầu (đoạn sông Như Nguyệt xưa)

Đê và sông Cầu (đoạn sông Như Nguyệt xưa)

Trong lúc quân Tống chưa tìm ra cách qua sông tiếp tục cuộc chiến thì quân Lý bên bờ Nam thinh thoảng lại dùng thuyền sang khiêu chiến, quân Tống cũng dùng hết sức mạnh để giữ vững bờ Nam khiến quân Lý không lên nổi bờ. Quân Tống còn vào rừng đốn cây làm thành một loại công cụ như máy bắn đá, bắn xuống thuyền, đẩy lùi những cuộc tập kích của quân Lý sang bờ Bắc. Hai bên ở trong thế giằng co hơn một tháng trời, chưa bên nào dám tiến. Đạo thủy quân Tống do tướng Hoà Mâu và Dương Tùng Tiên chi huy đã đưa thuyền vào hải phận của Đại Việt, muốn dọc theo dòng Đông Kênh để vào cửa biển Bạch Đằng, nhưng đã bị thủy quân của nhà Lý do Lý Kế Nguyên dẫn đầu chặn đánh ở Vĩnh An. Các tướng của thuỷ quân Tống ai cũng hăng hái chống trả nhưng không sao tiến nổi, phải lùi về đóng ở cửa sông Đông Kênh. Đóng tại đây, chúng càng đợi tin lục quân càng biệt tăm và cũng không biết rõ tình hình đang rất nguy khốn của đại binh ở mặt Bấc sông Cầu. Thấy tình hình không khả quan, Tùng Tiên phải cử Phàn Thuật và Hoàng Tông Khánh vượt bể vào biên giới phía Nam của Đại Việt để dò la tin tức và xúi giục Chiêm Thành đừng giúp Đại Việt. Chủng khuyên Chiêm Thành đem quân chặn tất cả các đường từ Đại Việt vào nước đó để chặn đường rút lui của quân Lý khi bị quân Quách Quỳ tấn công. Nhưng Chiêm Thành chỉ đem được 7 nghìn quân chẹn ở những nơi quan trọng mà thôi. Như vậy, thuỷ quân của Tùng Tiên không làm nên một công trạng gì, tiếp viện cho lục quân không được, dụ quân Chiêm Thành không xong mà ngược lại đã làm lỡ cả kế hoạch12Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 213 của chủ tướng Quách Quỳ. Đạo thuỷ binh thì nằm mãi ở của Đông Kênh cho đến khi có lệnh rút về mới biết tin là chiến tranh đã kết thúc và quân Tống đã đại bại.

Quân Tống đã vượt hàng bao núi non hiểm trở và hàng ngàn, vạn cây số mới tới sông Phú Lương, chỉ còn cách Thăng Long vài kilômét nhưng không thể thực hiện nổi mục đích của mình. Triều đình nhà Tống thì càng đợi tin thắng trận càng không thấy. Vua Tống Thần Tông rất nóng lòng mong được tin thắng trận, đã phải sai viên quan Chu Ốc làm Quyền phát ở Ung Châu, hằng ngày phải báo tin của An Nam hành doanh về triều. Vua Tống còn đem bản đồ của cuộc hành quân chỉ rõ cho quần thần. Nhưng đến khi được tin quân Tống không thể qua sông Phú Lương được, vua tôi nhà Tổng rất bất bình, rồi đổ lỗi cho nhau.

Thấy quân Tống đang trong tình thế vô cùng nguy khốn, tiến thoái lưỡng nan, tiếp tục tấn công thì không đủ sức, đóng quân lại thì có nguy cơ bị tiêu diệt, rút lui thì hổ thẹn làm mất thể diện Thiên triều, hơn nữa quân Lý qua một đợt chống trả quyết liệt cũng cần có thời gian để củng cố và bảo toàn lực lượng, Lý Thường Kiệt đã chủ động đặt vấn đề điều đình để mở lối thoát cho quân Tống nhằm sớm chấm dứt chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất cho dân tộc. Để bảo toàn lực lượng, đồng thời để bảo toàn độc lập quốc gia, Lý Thường Kiệt bèn “dùng biện sĩ để bàn hoà”, làm như thế “không nhọc tướng tá, khỏi tốn máu mủ, mà bảo toàn được tông miếu”13Bia chùa Linh Xứng trong Thơ văn Lý – Trần, sưu tập: Hoàng Xuân Hãn,

bản dịch của Đoàn Thăng, bản đánh máy, tư liệu Viện Sử học, tr. 15. Lý Thường Kiệt sai sứ giả tới nói với Quách Quỳ: “Xin hạ chiếu rút đại binh về, thì lập tức sai sứ sang tạ tội và tử cống”. Kể cả những vùng đất quân Tống đã chiếm trước mắt hãy tạm để cho Tổng “chỗ nào quân Tống đã chiếm là đất Tống”.

Về phía quân Tống, đang trong tình trạng khốn đốn vì thiếu ăn, lương hết, mệt mỏi, yếu đau, quân sĩ chết quá nhiều, mùa hè lại sắp đến “… Lúc ra đi, quân có 10 vạn. Vì nóng nực và lam chướng, quân đã chết mất quá nửa rồi, còn non nửa cũng đều ốm”, gặp đề nghị của Đại Việt, quân Tống khác nào như kẻ sắp bị chết đuối vớ được sào. Quách Quỳ bèn quyết định nhận lời với sứ giả của Đại Việt về việc lui quân và không tính chuyện vượt sông nữa, rồi cho người mang biểu của vua Lý về triều. Phải chấp nhận đầu hàng và rút lui trong “danh dự” Quách Quỳ đã tự an ủi rằng: “Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức, để báo mệnh triều đình, đó là bởi trời! Thôi ta đành phải liều một thân ta, chịu tội với triều đình, để mong cứu hơn 10 vạn nhân mạng”14Hoàng Xuân Hân, Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 212. Khi triều đình Tống nhận được tin, Tống Thần Tông bực lắm định điều thêm viện binh để cố qua sông, nhưng nhiều quần thần can ngăn rằng chiến tranh đã kéo dài, hao người tốn của, Tống Thần Tông phải nghe theo. Quách Quỳ đã định ngày rút quân, nhưng không dám công khai vì viên chù tướng này vẫn còn nơm nớp lo sợ quân Lý đuổi theo, đành bí mật thực hiện kế hoạch của mình. Đang đêm, vào đầu tháng 2 năm Đinh Tỵ (1077), Quách Quỳ lệnh cho quân sĩ lập tức rút quân. Tàn quân Tống, cả bộ binh lẫn kỵ binh hoảng hốt không kịp chinh đốn hàng ngũ đã xéo đạp lên nhau mà đi.

Trong tình thế rút lui của quân Tổng như vậy, việc truy kích tiêu diệt chủng không khó khăn gì, nhưng Lý Thường Kiệt đang muốn mau chóng đem lại hoà bình cho dân tộc và không muốn bội ước nên đã để cho quân Tống rút lui một cách yên ổn. Nhưng về đất đai thì khi quân Tống rút lui đến đâu, Lý Thường Kiệt đã cho quân tiến theo chiếm lại đất đến đó. Quân dân nhà Lý thu hồi ngay được các châu Quang Lang, Môn, Tô Mậu và Tư Lang một cách nhanh chóng. Còn châu Quảng Nguyên thì hai năm sau (1079) nhà Tống phải trao trả nốt cho Đại Việt. Cuộc kháng chiến chống Tống vĩ đại của quân dân nhà Lý, đứng đầu là vị tướng tài ba văn võ song toàn Lý Thường Kiệt đến đây đã thắng lợi hoàn toàn. Mộng tường đánh được Giao Chỉ, chiếm được Giao Chi, thôn tính Giao Chỉ “đặt châu huyện như nội địa” của nhà Tống bị chôn vùi vĩnh viễn.

Bên triều đình nhà Tống, người ta chúc mừng nhau thắng trận nhưng có ai biết được, nhà Tống đã phải mất bao năm chuẩn bị, dồn bao sinh lực, tâm trí và của cải vào cuộc chiến tranh này để cuối cùng không đạt được mục đích gì đến nỗi người hao, của tồn. Lúc tàn quân trở về đến nơi, vua Tống cho kiểm điểm binh mã chi còn lại có 23.400 người và 3.174 con ngựa, tiêu hao cả thảy mất 5.190.000 lạng vàng15Tục tư trị thông giám trường biên, sđd, tr. 216. Không chỉ có thế mà cả vùng biên giới sang Đại Việt còn bị tàn phá nặng nề như các trại Thái Bình, Vĩnh Bình,  Cổ Vạn, Thiên Long cùng các thành Khâm, Liêm, Ung, v.v… Mọi hy vọng về việc tháng Giao Chỉ sẽ uy hiếp được Liêu, Hạ của Tể tướng họ Vương cũng bị tiêu thành mây khói.

Đối với Đại Việt, thắng lợi này có ý nghĩa hết sức lớn lao là đã đập tan vĩnh viễn được mộng xâm lược Đại Việt của nhà Tống, khiến tập đoàn phong kiến thống trị Trung Hoa phải hơn thế kỷ sau không dám nghĩ đến việc xâm lăng Đại Việt.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: 

You may also like