Cuộc xâm lược phương Nam của quân Tần và quá trình hình thành nước Âu Lạc

Cuộc xâm lược phương Nam của quân Tần và quá trình hình thành nước Âu Lạc

Sau nhiều thế kỷ chiến tranh liên miên vào cuối thời kỳ Xuân Thu, thường được gọi là thời kỳ “ngũ bá tranh hùng”, tiếp theo là thời kỳ Chiến Quốc bắt đầu vào thế kỉ V TCN1Phần đông giới học giả Trung Quốc dựa theo chủ trương của Tư Mã Thiên trong bộ sử ký ghi chép về Lục quốc niên biểu lấy năm 475 TCN, tức là năm Chu Nguyên vương lên ngôi làm năm mở đầu thời kỳ Chiến Quốc và năm 221 TCN là năm Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc làm năm kết thúc thời kỳ này. Song cũng có một số học giả lại dựa vào ý kiến của Tư Mã Quang trong Tư trị thông giám, lấy năm 403 TCN, tức năm nhà Chu công nhận ba nước Hàn, Triệu, Ngụy là chư hầu làm năm mở đầu thời kỳ Chiến Quốc. Nguyễn Gia Phu – Nguyễn Huy Quý, Lịch sử Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr. 22.

Trải qua một thời kỳ dài tiếp tục việc nước lớn thôn tính nước nhỏ, đến những năm cuối thế kỷ V TCN, đất nước Trung Quốc đã hình thành nên tình thế “Thất quốc tranh hùng”, tức là sử tranh quyền bá chủ trong 7 nước lớn đương thời.

Nhưng chỉ trong vòng không đầy 10 năm tò năm 230 – 221 của thế kỷ thứ III TCN, nước Tần với sức mạnh quân sử của mình, đã lần lượt tiêu diệt sáu nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, kết thúc cục diện “thất hùng”, thống nhất toàn Trung Quốc. Năm 221, triều Tần được thành lập, Tần Doanh Chính tự xưng là Hoàng đế, niên hiệu là Thủy Hoàng, đời sau vẫn quen gọi là Tần Thủy Hoàng. Hoàng đế đầu tiên họ Tần thực hiện việc củng cố chế độ trung ương tập quyền, trong đó quyền lực của Hoàng đế là tối cao vô thượng. Tần Thủy Hoàng theo lời tâu của Đình úy (Thừa tướng) Lý Tư phế bò chế độ phân phong cho các chư hầu từ thời Tây Chu, thực hành chế độ quận huyện, chia cả nước thành 36 quận, sau này tăng thành hơn 40 quận. Quận thú đứng đầu một quận, dưới quận là huyện với chức Huyện lệnh hoặc Huyện trưởng cai quản, các chức quan này đều do vương triều Tần bổ nhiệm. Ở Trung ương thực hiện cơ cấu thống trị do Tam công (Thừa tướng, Thái úy, Ngự sử đại phu) và Cửu khanh (Thái thường, Lang trung lệnh, Vệ úy, Thái phó, Đình úy, Điển khách, Tông chính, Trị túc nội sử, Thiếu phủ).

Trong chính sách đối nội, Tần Thủy Hoàng đã tiến hành thống nhất tiền tệ, đơn vị đo lường và văn tự toàn quốc. Những chính sách này bước đầu đã cải thiện tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa triều Tần, đặc biệt thúc đẩy sức sản xuất phát triển, sản lượng lương thực hàng năm được tăng lên đáng kể. Song vì triều Tần thi hành pháp luật để cai trị đất nước, theo phương châm do chính Tần Thủy Hoàng tuyên ngôn “mọi việc đều dùng pháp luật để quyết định, khắc bạc, không dùng nhân đức, ân nghĩa”2Hán thư, Thực hóa chí. Thể chế thống trị quá hà khắc của triều Tần, đã khiến cho nhiều người dân bị chính quyền đương thời khép vào tội phạm. Thư tịch từng chép: người phạm tội bị giải về kinh đô Hàm Dương đi chật đường, những nhà ngục đầy ắp tà nhân. Tần Thủy Hoàng còn cho thực thi “Phần thư khanh Nho” (đốt sách, chôn học trò), xây dựng cung điện, lăng tẩm xa hoa và hơn 700 hành cung trên cả nước. Chỉ tính riêng việc xây dựng cung A Phòng và lăng mộ Lệ Sơn phải huy động đến 720.000 người dân tham gia. Chính những điều này, đã khiến cho Tần Thủy Hoàng trở thành một vị Hoàng đế tàn bạo, xa xỉ của lịch sử Trung Quốc cổ đại.

Về đối ngoại, triều Tần liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh nhằm mở rộng lãnh thổ cả về phía bắc lẫn phía nam. sử gia Tư Mã Thiên trong tác phẩm sửký nổi tiếng, đã chép rõ tình hình triều Tần đương thời: “Lúc bấy giờ, nhà Tần ở phía bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía nam thì mắc họa với người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong. Trong hơn mười năm, đàn ông mặc áo giáp, đàn bà chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau. Kịp khi Tần Hoàng đế bàng hà thì cả thiên hạ nổi lên chống”3sử ký, Q.l 12, Sđd. Vùng đất phía nam sông Trường Giang, Trung Quốc đương thời, nơi cư trú của tộc người Bách Việt cũng trở thành một mục tiêu bành trướng của đế chế Tần.

Sách Hoài Nam tử của Lưu An4Lưu An (179 – 122 trước Công nguyên), là con trường cùa Hoài Nam Lệ vương Trường, em ruột vua Hán Văn đế (180-157 TCN). Năm thứ 16 niên hiệu Hán Văn đế (165 TCN), Lui) An được tập phong làm Hoài Nam vương. Lưu An là người thích văn học, từng phụng mệnh của Hán Vũ đế (157-141 TCN) viết Ly Tao truyện. An thường chiêu tập tân khách, thuật sĩ đến vài ngàn người, cùng nhau biên soạn thành cuốn Hồng Liệt được biên soạn vào thời kỳ cách đời Tần khoảng không đầy 50 năm, vì vậy những ghi chép trong bộ sách đáng tin cậy và có giá trị gần với sự thực lịch sử hom cả.

tần thủy hoàng - hình thành nước âu lạc
Tần thủy hoàng

Sau này, khi Lưu Hướng (77-6 TCN) chinh lý đã đổi tên Hồng Liệt thành Hoài Nam, bắt đầu từ Kinh tịch chí của Tùy Thư mới xuất hiện tên sách là Hoài Nam tử. Từ đó trở đi, Hoài Nam tứ thành tên gọi chính thức tác phẩm của Lưu An. (Từ Nguyên, Tu đính bản, Thương vụ ấn thư quán, 1992, Bắc Kinh, tr. 1833). Sách đáng tin cậy và có giá trị gần với sự thực lịch sử hơn cả. Sách Hoài Nam tử có chép một đoạn mô tả khá chi tiết về công cuộc “bình định Bách Việt” của quân Tần như sau: “Nhà Tần lại ham sừng tê, ngà voi, lông chim trả, ngọc châu và ngọc cơ của đất Việt, bèn sai ú y Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân, một đạo đóng ờ đèo Phàn Thành, một đạo đóng giữ ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Phiên Ngung, một đạo giữ miền Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nở. 

Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương, để đánh nhau với người Việt. Giết được Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. [Quân Tần] thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người, [nhà Tần] bèn phát những người bị đày đến đóng giữ”5Lưu An, Hoài Nam, Nhân gian huấn, Q. 18.

Tư Mã Thiên không chi chép việc nhà Tần bành trướng xuống phương Nam của Tần Thủy Hoàng, mà còn ghi lại tình hình kháng cự của tộc Việt trong Bách Việt “[Nhà Tần] sai úy Đồ Thư đem quân xuống nam đánh đất Bách Việt, sai Giám Lộc đào cừ chở lương để vào sâu đất Việt. Người Việt bỏ trốn. [Quân Tần] đánh giữ lâu ngày, lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh. Quân Tân đại bại. [Nhà Tân] bèn sai úy Đà đem binh đóng giữ đất Việt”6sử ký, Q.112, Sđd. sử ký còn chép thêm sự kiện liên quan đến việc quân Tần đánh xuống phía Nam như sau: “Năm 33 (214 TCN), [Nhà Tần] phát những người trốn tránh, người ở rể và lái buôn, cướp chiếm đất Lục Lương, đặt làm các quận Quế Lâm, Tượng và Nam Hải”7sử ký, Q.6, Tần Thủy Hoàng đế, Bản kỷ, Sđd.

Cuộc chiến tranh chinh phục đất Việt (Bách Việt) ở phía Nam của Tần Thủy Hoàng đã được thư tịch cổ Trung Quốc xác minh là có thực. Con trai của Tần Thủy Hoàng là Tần Nhị Thế lên nắm quyền vào năm 210 TCN, hai năm sau tức là năm 208 TCN, còn ban lệnh bãi binh xâm chiếm phía nam. Tư Mã Thiên đã viết: trong hơn mười năm, trước khi Tần Thủy Hoàng chết vào năm 210 TCN, triều Tần đã tiến hành cuộc Nam chinh vào đất [Bách] Việt, dân chúng vô cùng cực khổ, nhiều người bị chết8sử ký, Q.112, Sđd. Dựa vào ghi chép thư tịch cổ, có thể khẳng định, cuộc xâm lược của triều Tần được tiến hành từ năm 218 TCN và kết thúc vào năm 208 TCN.

Kết cục, triều Tần đã chiếm đất và lập ra ba quận mới gồm: Quế Lâm, Tượng và Nam Hải. Trong đó, Quế Lâm là vùng Bắc và Đông Quảng Tây và Nam Hải là vùng Quảng Đông, được xác định chắc chắn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, nhưng còn vị trí quận Tượng (Tượng quận) ở đâu? Đây là một vấn đề được các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản… tranh luận khá gay gắt từ xưa đến nay và vẫn chưa ngã ngũ. Vì sao vấn đề này lại được sự quan tâm sâu sắc của giới học giả như vậy? Phan Huy Lê cho rằng: “Đây là vấn đề liên quan đến cuộc tiến quân xâm lược của quân Tần và cuộc kháng chiến của người Tây Âu – Lạc Việt, của nhân dân Văn Lang – Âu Lạc”9Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 97.

Các nhà nghiên cứu đã nêu lên sự nhầm lẫn của các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam về việc xác định vị trí quận Tượng tương ứng với quận Nhật Nam (gồm cả Giao Chỉ và Cửu Chân). Đó là xuất phát từ một nhầm lẫn của Nhan Sư Cổ (581-645) chú thích sách Tiền Hán thư viết về quận Nhật Nam đời Hán: “Quận Nhật Nam – quận Tượng cũ của Tần. Vũ Đinh năm thứ 6 đời Vũ đế (111 TCN) mở quận đổi tên. Có 16 sông nhỏ, gồm 3.189 dặm, thuộc Giao Châu”10Tiền Hán thư, Quyển 28 hạ, Tờ 10b6, Dần theo Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Sđd, tr. 313. Tiếp theo, Nhan sư cổ còn chép thêm: “Nói nó ở phía nam mặt trời (chi chữ Nhật Nam), nên gọi là Khai Bắc hộ (Mở cửa phía Bắc) để hướng về mặt trời”11Tiền Hán thư, Quyển 28 hạ, tờ 10b, Sđd.

Nhưng, ngay chính trong bộ Tiền Hán thư, phần Bản kỷ về Hán Chiêu đế (87 – 74 TCN) cũng đã chép rõ về đất quận Tượng như sau: “Năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Phượng (Hán Chiêu đế, tức năm 76 TCN), bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”12Tiền Hán thư, Địa lý chí, Q.7, tờ 9a. Trong một đoạn khác cũng của Tiền Hán thư, khi chú thích việc Hán Cao tổ là Lưu Bang vào năm thứ 5 (202 TCN) sai “Lấy Trường Sa, Dự Chương, Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải lập Bà Quân Nhuế (tức là Ngô Nhuế) làm Trường Sa vương”, Nhan Sư Cổ cũng dẫn lời của (Thần) Toàn nói: sách Mậu Lăng thư chép:

Tượng quận đóng ở Lâm Trần, cách Trường An một vạn bảy ngàn năm trăm dặm”13Tiền Hán thư, Quyển 1 hạ, Sđd, tờ 9b. Quận Uất Lầm là vùng Quảng Tây, quận Tường Kha ở phía tây quận Uất Lâm và một phần thuộc Quý Châu. Như vậy, quận Tượng gồm vùng Tây Quảng Tây và một phần Nam Quý Châu. Trị sở của Quận Tượng là Lâm Trần ở phía tây Nam Ninh, thuộc huyện Tân Dương tỉnh Quảng Tây14Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 172.

Từ việc xác định nhầm về vị trí của quận Tượng của Tiền Hán thư đưa tới một hệ quả là: Các sách sử Việt Nam và Trung Quốc sau này vẫn chép vị trí của quận Tượng tương ứng với quận Nhật Nam. Các tác giả bộ Quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư đã chép thêm về cuộc xâm lược của quân Tần và coi Tượng quận là “An Nam” như sau: “Đinh Hợi năm thứ 44 [214 TCN] (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33), nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể, người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai Hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh Quảng Tây), Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam), cho Nhâm Ngao làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là huyện của quận Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta”15Dại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 138. Từ đó, hình thành nên một thuyết lưu truyền khá phổ biến cho rằng: quận Tượng đời Tần bao gồm cả nước Văn Lang đời Hùng Vương và nước Âu Lạc đời An Dương Vương, kéo dài đến Nhật Nam. Như vậy, cũng đồng nghĩa với việc coi cuộc kháng chiến chống Tần của người Tây Âu – Lạc Việt đã bị thất bại16Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 110.

An dương vương - hình thành nước âu lạc
An Dương Vương

Thuyết lưu truyền này, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đã bị giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam đặt vấn đề hoài nghi và phê phán bác bỏ. Tiêu biểu là sử thần Vũ Phạm Khải17Vũ Phạm Khải (1807-1872), người làng Phượng Trì, xã Yên Mạc, Tam Điệp, Ninh Bình, đỗ thi Hương năm 1828, sau thi đỗ Cử nhân năm 1831, mấy lần tham gia thi Hội nhưng đều vì phạm trường quy mà không đỗ. Sau khoa thi Hội năm 1835, Ông dứt bỏ con đường khoa cử, nhận chức Tri huyện Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, từng giữ các chức Đô sát viện Iễ khoa Cấp sự trung, lang trung bộ Hình. Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ… Ông tính cương trực, nhiều lần dâng sớ điều trần khuyên ngăn vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức về việc phòng thủ đất nước, xây dựng kinh tế…, đàn hặc tệ nạn của các quan, nhưng cũng không tránh khỏi có lúc trái ý vua, nên đã hai lần bị giáng cấp, 19 lần bị phạt tiền lương. Đặc biệt, Ông đã ba lần tham gia Quốc sử quán với các chức vụ Toàn tu, Biên tu và Phó Tổng tài. Ông có quan điểm khá tiến bộ, trung thực, có tinh thần phê phán khi cùng các sử thần tiến hành biên soạn bộ Đại Nam thực lục, khi tham gia Quốc sử quán, từng giữ chức Phó Tổng tài, biên soạn Đại Nam thực lục, có lần trao đổi thư từ với các bạn sử thần Tô Trân18Tô Trân (1791- ?), danh thần triều Minh Mệnh (1820-1840), người làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Xuân cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên), đỗ Tiến sĩ năm 1826, từng giữ chức Tuần phù Định Tường, bị cách. Sau được phục hàm Hữu Tham tri bộ Lễ, sung làm Toản tu Quốc sử quán rồi về trí sĩ, Phạm Hữu Nghi19Phạm Hữu Nghi, nguyên quán Nghệ An, sau di cư vào huyện Diên Phước, Quảng Nam, đỗ Cử nhân năm 1821, đi sứ Thanh về thì bị cách chức. Sau được phục chức, làm quan đến chức Tham tri bộ Lễ, được sung làm Toản tu Quốc sử quán. về việc viết sử, đã thẳng thắn phủ nhận quan niệm quận Tượng thuộc Việt Nam. Sử quan họ Vũ viết: … Sách Tập lãm chú: “Quế Lâm nay là Quảng Tây, Nam Hải nay là Quảng Đóng. Tượng quận có đất đai rộng mênh mông, nay là các phủ Liêm, Lôi đất Quảng Đông, phủ Khánh Viễn, Thái Bình đất Quảng Tây và gồm cả nước An Nam”. Theo như lời chú ấy thì Tượng quận thời Hán có hai phần ở vùng Lưỡng Quảng, còn một phần thuộc nước Nam ta. Vậy thì lẽ nào lại gọi ta là nước? Vả lại, năm đó, nước ta thuộc đời vua Thục An Dương Vương năm 44 (214 TCN). Đất nước ta có vua đứng đầu, nước chia làm 15 bộ. Vậy lẽ nào nhà Tần lại đặt quận trên đất nước ta! Đó là điều ngờ thứ nhất”20Vũ Phạm Khải, Đông Dương thi văn tuyển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 260.

Theo quan điểm của Vũ Phạm Khải: “…Tượng quận là vùng đất Việt21Chữ Việt 粤 này được viết bên trên chữ “hướng” trong là bộ “mễ” phần dưới là bộ “cung” trong Bách Việt, không phải đất Việt22Chữ Việt 越 này được viết một bên chữ “tẩu” bên trong phía phải là bộ “Việt” thuộc nước Việt ta”23Đông Dương thi văn tuyến, Sđd, tr. 261. Đồng thời, ông phê phán những người biên soạn các bộ Quốc sử cũ của ta không thẩm định kỹ, dẫn đến ghi chép sai lầm: “Tóm lại, nhà Tần đặt quận trên đất nước ta, tuy không thể coi là không dính líu đến đất nước ta, song không thể coi là trùm lên cả đất nước ta. Bắc sử ghi chép chỉ nêu đại khái. Còn sử cũ của ta thì không biện luận rõ, cho nên đã cho là toàn bộ bờ cõi nước An Nam thuộc quận Tượng của Tần, thực sai lầm lắm”24Đông Dương thi văn tuyến, Sđd, tr. 261.

Xung quanh việc xác định vị trí quận Tượng, từ đó hình thành nên hai cách kiến giải khác nhau gắn liền với vấn đề cuộc tiến quân xâm lược của triều Tần và cuộc kháng chiến của các tộc Tây Âu và Lạc Việt. Cách kiến giải thứ nhất: đại biểu là học giả người Pháp L.Aurousseau, đặt vị trí quận Tượng theo thuyết lun truyền tức là quận Tượng là Nhật Nam, hay bao gồm cả 3 vùng đất: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam25L.Aurousseau, La première conquête chinoise des pays Annammites. B.E.F.O XXIII, 1923. Dần theo Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 111

Vào năm 1944, nhà nghiên cứu Trần Tu Hòa trong tác phẩm Việt Nam cố sử cập kỳ dân tộc văn hóa chi nghiên cứu, cho rằng: “Quận Tượng chi là quận Nhật Nam đời Hán (Trung Trung Bộ), không bao gồm quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Trần Tu Hòa chì rõ: quân đội nhà Tần từ Phiên Ngung, dùng lâu thuyền vượt biển vào chiếm cứ vùng Nhật Nam, lập ra quận Tượng ở đó”26Trần Tu Hòa, Việt Nam cổ sử cập kỳ dân tộc văn hóa chi nghiên cứu, Nxb. Cón Minh, 1944

Cho đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nhà nghiên cứu người Trung Quốc Sầm Thánh Mần vẫn còn biện hộ cho việc chú thích nhầm về Tượng quận của Tiền Hán thư là có sở cứ. Học giả họ sầm viết như sau: “Lời tự chú về Nhật Nam quận của Ban cố là có sự thật lịch sử làm căn cứ”27Tạp chí Ấn độ China số 4, năm 1981.

Hai tác giả Trương Tiếu Mai, Quách Chấn Đạc khi viết quyển Việt Nam thông sử vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI (2001) cũng theo các thuyết sai lầm xưa kia của các thư tịch Trung Quốc như Hán thư – Địa lý chí, khẳng định việc “chú thích của Ban cố về

Nhại Nam (là quận Tưựng đời Tần), là hoàn toàn chính xác” và “Trị sở của quận Tượng phải nằm trong vùng đất quận Nhật Nam đời Hán thì cũng không thành vấn đề”28Quách Chấn Đạc – Trương Tiếu Mai, Việt Nam thông sử, Nxb. Đại học nhân dân Trung Quốc, Bắc Kinh, 2001, tr. 134-137 (tiếng Trung). Hệ quả tất yếu của cách kiến giải này là: Quân Tần đã tiến vào đất Nhật Nam (Trung Bộ Việt Nam) và cuộc kháng chiến chống xâm lược của Tây Âu – Lạc Việt của nhân dân Văn Lang – Âu Lạc đã bị thất bại. Cách kiến giải thứ hai, lại theo xu hướng coi quận Tượng cùng với quận Nam Hải, Quế Lâm, chi nằm trong phạm vi tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần Quý Châu. Như vậy, dẫn đến việc khẳng định: Quân Tần mới chi tiến vào địa bàn cư trú của người Tây Âu đã bị chặn đánh mạnh mẽ, chưa đưa quân đến được Văn Lang – Âu Lạc và do đó không có cuộc kháng chiến của người Lạc Việt29Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 111. Đại biểu cho cách kiến giải này là học giả người Pháp H.Maspéro và học giả người Nhật Guimei Saeki (Tá Bá Nghĩa Minh)30H.Maspéro, Le commanerie de Siang, B.E.F.O XVI, 1916; Tá Bá Nghĩa Minh, “Tượng quận vị trí khảo”, Nam Phong, số 137, tháng 9/1928. Dần theo Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 110. sử gia Vũ Phạm Khải cũng đưa ra quan điểm cá nhân cho rằng quân Tần chưa vượt qua được Quế Lâm, bằng những lập luận có sở cứ như sau: “sách Hoàn Vũ ký chép: “sử Lộc đào sông từ Linh Lăng đến Quế Lâm”. Con sông mà sử Lộc chi đào đến Quế Lâm. Vậy quân sĩ của Đồ Thư làm sao có thể vượt Quế Lâm mà tiến về phía nam được?”31Đông Dương thi văn tuyến, Sđd, tr. 261.

Tác giả Trung Quốc hiện đại là Lam Hồng Ản căn cứ vào thư tịch cùng di vật khảo cổ học, cũng đưa ra quan điểm: Sau khi Thục Vương Tử (họ Khai Minh) bị đánh bại vào năm 316 TCN, khó có cơ hội tìm được đường thông đến vùng đất Giao Chi xa xôi32“Thục Vương Tử chăng? Hay là Trúc Vương Tử?”, Sđd, tr. 19-21.

Cho đến năm 2004, học giá Nguyễn Duy Hinh cũng đưa ra nghi vấn có hay không cuộc tấn công từ vùng Ba Thục, Tứ Xuyên đến vùng đất Giao Chỉ đi qua nước Điền (Vân Nam)33Văn minh Lạc Việt, Sđd, tr. 58. Cùng thời gian này, học giả Lê Mạnh Thát cho rằng: “Biên cương nhà Tần, sau khi đưa Úy Đà (Triệu Đà) và Đồ Thư xuống đánh vùng Lục Lương, để lập nên ba quận Nam Hài, Quế Lâm và Tượng Quận, đã không vượt quá vùng đất hai tỉnh Quảng Đông và Quý Châu bấy giờ của Trung Quốc”34Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Sđd, tr. 327.

Các tác giả bộ Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X sau khi đưa ra nhận định về: “thành tựu lớn nhất của Tần trong việc chinh phục Bách Việt phía nam là chiếm đất lập 3 quận mới là Quế Lâm, Tượng và Nam Hải”, đã kết luận: “Như vậy, quân Tần chưa vào tới đất Bắc Việt Nam, địa bàn trung tâm cùa người Lạc Việt”35Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 171.

Phần đông các học giả đều thống nhất cho rằng, quân Tần đã xâm lược xuống phía nam, đàn áp chiếm cứ và lập ra 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Nhà Tần thống trị 3 quận trên, đặt ra các chức Úy, Lệnh để coi giữ, điều này đã uy hiếp trực tiếp đến đời sống của vùng dân cư ở miền Bắc Việt Nam. Chúng ta cũng nên phân tích cho thật chính xác và thấu đáo những dòng ghi chép trong Hoài Nam tử và sử ký, chi mới xác định dân Việt chống lại sự xâm lược của quân đội nhà Tần do viên tướng Đồ Thư dẫn đầu. Tư liệu của hai bộ sách trên đưa ra một cách chung chung là dân Việt, chắc chắn đó là những cư dân thuộc tộc Bách Việt, tính chung từ phía nam sông Dương Tử trở suông, chứ không ghi rõ đó là dân Lạc Việt. Vì thế, chúng ta chưa thể coi cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tần đã xảy ra trên vùng đất Lạc Việt được. Sử gia Vũ Phạm Khải đã từng thảo luận với những giả thuyết khoa học để khẳng định quân Tần chưa vào tới vùng Bắc Bộ và cho rằng ghi chép của thư tịch cổ Trung Quốc, chỉ là chép khống mà thôi: “Giả sử quân Tần có vào tới bờ cõi nước ta, chẳng qua cũng chi tới một, hai nơi đại loại như vùng đất Lục Châu, Chiêu Tấn ở Hưng Hóa mà thôi. Nhưng từ sau khi người Việt đánh giết Đồ Thư, vùng đất này tất lại thuộc nước ta, gọi là quân của Tần ch36Đông Dương thi văn tuyển, Sđd, tr. 261ng qua cũng chỉ ghi chép khống tên gọi, chứ không thể có thực vùng đất nước Việt ta”1.

Lê Mạnh Hùng, tác giả của bộ sử Nhìn lại sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2007, cũng dựa vào ghi chép của thư tịch cổ Trung Hoa, đặc biệt phần tư liệu của sách Hoài Nam từ kể lại cuộc xâm lược của nhà Tần vào đất Bách Việt, để đưa ra một nhận định: “Cuộc tiến quân về phía nam của nhà Tần như vậy là bị sa lầy trên các vùng rừng và núi của tỉnh Quảng Tây. Không có đủ quân trấn đóng, nhà Tần phải gởi thêm binh lính đến trú đóng ở các vùng mới chiếm được này. Những thành phần binh lính là những người đào vong, tù tội, người nghèo ở rể (chuế tuế), lái buôn. Họ ở hỗn cư với dân Bách Việt. Tuy nhiên những đám quân Tần này vẫn bị hoàn toàn cô lập với nhân dân địa phương đến nỗi năm 214 TCN, khi Triệu Đà được cử vào làm Úy quận Nam Hải37Lê Mạnh Hùng đã nhầm, khi đó Triệu Đà còn là Huyện lệnh Long Xuyên, chưa làm úy quận Nam Hải. Năm 208, úy quận Nam Hải là Nhâm Ngao trước khi chết, mới dặn dò và viết giấy trao quyền úy quận cho Triệu Đà. đã phải dâng biểu về xin cấp cho ba vạn đàn bà góa hoặc con gái chưa chồng để “may vá quần áo cho quân sĩ’. Triều đình nhà Tần chi gửi được có một vạn năm trăm nghìn người. Tình hình cứ như vậy cho đến khi Tần Thủy Hoàng chết (vào năm 210 TCN)”38Nhìn lại sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ, Sđd, tr. 74-75.

Lê Mạnh Hùng cũng cho rằng, quân Tần hoàn toàn chưa thể tiến đến vùng biên giới nước ta khi đó và hoài nghi về việc quân đội Hùng Vuơng tham gia chiến đấu chống quân Tần “căn cứ vào các dữ kiện còn lại trong sử ký, Hán thư và Hoài Nam từ, ta có thể thấy rằng quân đội nhà Tần lúc đó tiến tối đa là tới khu vực thượng lưu sông Tây Giang mà thôi, còn cách biên giới nước ta cả mấy trăm cây số. Khó có thể tưởng tượng rằng lúc đó, với Hùng Vương chỉ như một thủ lãnh của một liên minh bộ lạc lại có thể gởi quân đi hàng trăm dặm giúp đỡ một đất nước khác mà mình không có liên hệ”39Nhìn lại sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ, Sđd, tr. 75.

Vấn đề quân Tần đã đưa cuộc chiến tranh xuống tận vùng đất nước ta chưa, vẫn còn cần phải thảo luận và tìm thêm các tư liệu minh chứng. Nhưng có thể khẳng định, do tính chất nghiêm trọng của cuộc chiến tranh tiếp giáp địa vực dân cư, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh mệnh của cả dân tộc, cho nên nhân dân các tộc Lạc Việt đã tham gia tích cực, góp phần làm thất bại cuộc bành trướng xuống phía nam của quân đội nhà Tần.

Cuộc chiến đấu của các tộc Bách Việt, nhất là của tộc Tây Âu (hay Âu Việt hoặc Tây Âu Việt), chống lại cuộc xâm lược của quân Tần diễn ra vô cùng khốc liệt. Nhà Tần huy động một lực lượng quân đội đông đảo và mạnh mẽ, đã dần chiếm cứ được nhiều vùng phía nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, tạo nên một nguy cơ uy hiếp trực tiếp Vân Nam và khu vực Bắc Bộ Việt Nam.

Quân đội nhà Tần đã sát hại Thủ lĩnh (Quân trưởng) của tộc Tây Âu là Dịch Hu Tống, vơ vét tài nguyên sản vật nổi tiếng và có giá trị nhất là sừng tê, ngà voi, ngọc châu và ngọc cơ. Nhân dân tộc Tây Âu cùng với các tộc Bách Việt đã chiến đấu dũng cảm, không cam chịu thất bại, ẩn náu vào rừng sâu, chọn cử ra những người “kiệt tuấn” làm chỉ huy, đêm đêm bất ngờ đổ ra đánh quân Tần. Kết quả, hàng mấy chục vạn quân Tần bị đại phá “thây phơi máu chảy”, giết chết được viên tướng cầm đầu là Đồ Thư. Mặc dù cuộc kháng chiến giành được thắng lợi nhưng các tộc Bách Việt, đặc biệt tộc Tây Âu, bị tổn thất nặng nề. Quân Tần chiếm được đất, thành lập 3 quận Quế Lâm, Tượng và Nam Hải. Tộc Tây Âu bị đẩy xuống vùng phía nam cộng cư với tộc Lạc Việt. Sách Hậu Hán thư, truyện Mã Viện, truyện Nhâm Diên đều chép rõ: người các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc Việt. 

Do địa vực cận kề, từ trước hai tộc Tây Âu và Lạc Việt đã có những mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại chặt chẽ cả về kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán… Mối quan hệ giữa những tộc láng giềng, bao gồm cả mặt tích cực như giao lưu hữu hảo, trao đổi kinh tế… và tồn tại cả mặt tiêu cực như mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi, có thể dẫn đến đấu tranh. Nhưng đồng thời cả hai tộc Tây Âu và Lạc Việt đều thuộc về các tộc Bách Việt, cùng có nguồn kinh tế chủ đạo là nông nghiệp, do đó có nhiều nét tương đồng văn hóa, tập tục, thông cảm hiểu biết lẫn nhau, dễ hòa đồng cùng nhau. Trong cuộc sống hòa bình thường ngày, người dân hai tộc Tây Âu, Lạc Việt đã có những cơ sở liên kết với nhau như vậy, nên khi chiến sự nổ ra, họ càng có cơ hội để hợp tác, đoàn kết gắn bó hơn.

Chiến tranh chống Tần, mặc dù chỉ nổ ra trên đất Tây Âu, song nguy cơ uy hiếp đến Lạc Việt rất nghiêm trọng. Vì thế, người dân Lạc Việt đã không quản hiểm nguy, sát cánh cùng người dân láng giềng Tây Âu đánh lại sử xâm lược của ngoại bang. 

Lúc này, Tây Âu đã bị quân Tần dồn ép xuống phía nam, sát với Lạc Việt, họ đã chọn cử người “kiệt tuấn” lên làm tướng. Thục Phán chính là người có đủ tài năng, uy tín để làm chủ tướng chống quân Tần của người Tây Âu khi đó. Thục Phán lên nắm vai trò thủ lĩnh, đã liên kết với

cư dân Lạc Việt chống trả ngoan cường, khiến cho quân Tần càng tiến sâu về phía nam càng liên tiếp phải hứng chịu những thiếu thốn “lương thực bị tuyệt và thiếu”, lại lâm vào cảnh “tiến không được, thoái cũng không xong”, phải chuốc lấy thất bại to lớn như: tướng chỉ huy bị giết, rất đông quân lính phơi thây trên chiến trường. Kết cục thảm bại nặng nề của quân Tần đã khiến cho lòng dân nước Tần oán thán, chứa chất ý chí phản kháng. Vì thế, khi Tần Thủy Hoàng vừa chết năm 210 TCN, lập tức, nhiều cuộc nổi dậy bùng nổ ở Trung Quốc, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa do Trần Thắng, Ngô Quảng lãnh đạo và phong trào chống Tần của Hạng Vũ và Lưu Bang năm 209 TCN là lớn nhất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sụp đổ của đế chế Tần. Trước tình hình nghiêm trọng trong nước như vậy, con của Tần Thủy Hoàng là Tần Nhị Thế vừa nối ngôi, sang năm 208 TCN đã lập tức phải ra lệnh bãi binh phương Nam. Cuộc xâm lược xuống phía nam của nhà Tần kéo dài hơn 10 năm từ 218 -208 TCN, nhưng thực tế cuộc chiến đấu liên kết giữa Tây Âu và Lạc Việt diễn trong vòng ước chừng 4, 5 năm (kể từ khi quân Tần đánh lui người Tây Âu xuống vùng đất giáp ranh với tộc Lạc Việt). Quá trình liên kết này đã tăng cường mối quan hệ thân thiện vốn có giữa hai tộc của Bách Việt. Thử thách qua cuộc chiến đấu trường kỳ và thắng lợi giành được trước quân Tần hùng mạnh đã nâng cao địa vị và uy tín của thủ lĩnh Thục Phán trong cư dân Tây Âu và nhất là thu phục được cảm tình và sự mến mộ của người dân Lạc Việt. Thục Phán đã xác định được vai trò lãnh đạo của mình trong cộng đồng cư dân Tây Âu – Lạc Việt. Trong đó, Tây Âu (hay Tây Âu Việt) bao gồm hai thành phần Tây Âu và Âu Lạc, cùng với Lạc Việt tạo nên một thể cộng đồng mới, cơ sở hình thành một quốc gia lớn hơn, vững mạnh hơn là Âu Lạc.

Sự ra đời của quốc gia Âu Lạc, được thư tịch cổ Việt Nam ghi chép vào năm 257 TCN: “Giáp Thìn, năm thứ nhất (năm 257 TCN) (Chu Noãn Vương năm thứ 58). Vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia, vua nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng lương mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng: “Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?” Rồi, Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tinh, rồi thồ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương”40Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 136-137.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào giữa thế kỉ XIX, cũng chép nội dung tương tự41Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 78, đồng thời chép thêm “Năm Giáp Thìn (257 TCN (Thục An Dương Vương năm thứ 1): Thục Vương đã lấy được nước Văn Lang đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê”42Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 79

Nhưng thực tế cho thấy, các ghi chép của thư tịch cổ Việt Nam đã nhầm lẫn và cần được đính chính, vì thời điểm quốc gia Âu Lạc ra đời phải sau khi cuộc kháng chiến của tộc Việt chống Tần thắng lợi và sau khi Tần Nhị Thế ban lệnh bãi binh năm 208 TCN. Điều này được khẳng định thêm từ sách (Đại) Việt sử lược cho biết: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay”43Việt sử lược, Sđd, tr. 14. Nội dung phản ánh trong một số thần tích và truyền thuyết dân gian sưu tầm về Hùng Vương và An Dương Vương lại coi Thục Phán là “dòng dõi”, hoặc là “cháu ngoại” của vua Hùng.

Cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng Vương và Thục Vương đã xảy ra một cuộc xung đột kéo dài44Địa chí Cồ Loa, Sđd, tr. 199-200 cuối cùng Hùng Vương đã nghe theo lời khuyên của con rể là Tản Viên Sơn Thánh, tự động nhường ngôi cho Thục Phán45Địa chí Cồ Loa, Sđd, tr. 207.

Quốc gia Âu Lạc ra đời là kết quả của một quá trình dung hợp hòa bình, tuy không tránh khỏi có những xung đột của hai tộc Tây Âu và Lạc Việt. Hai tộc này đã cùng giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết chống lại sự uy hiếp mạnh mẽ của thể lực ngoại bang. Trong chiến đấu hoạn nạn, họ được một thủ lĩnh tài ba là Thục Phán lãnh đạo.

Sau khi đánh tan giặc ngoại xâm, hai tộc Tây Âu, Lạc Việt thống nhất xây dựng một quốc gia mới với lãnh thổ rộng lớn hơn, dân số đông hơn. Thông qua sự lựa chọn khá nhất trí của cộng đồng dân cư Tây Âu – Lạc Việt và việc nhường ngôi tự nguyện của Hùng Vương, Thục Phán đã được cử làm người đứng đầu Quốc gia Âu Lạc và đóng đô tại cổ Loa. Quốc gia Âu Lạc tuy mới được thành lập, nhưng đây là một sự kế thừa và phát triển cao hơn trên cơ sở của nước Văn Lang thời Hùng Vương

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: