Liễu Chương Đài tình sử

“Chương Đài” là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu. “Hỏi Liễu Chương Đài” là hỏi thăm cây liễu ở đường Chương Đài. Đây có nghĩa là hỏi thăm người tình nhân cũ. Sở dĩ có nghĩa ấy do điển tích ở tình sử, gọi là tình sử Liễu Chương Đài

Một số câu thơ nhắc đến Liễu Chương Đài

– Khi về hỏi Liễu Chương đài,

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên lay. (Kim Vân Kiều)

– Xanh xanh khóm liễu Chương đài,

Tiếc thay đã để cho ai vin cành. (Thị Kính)

– Châu rơi có nhẽ phục-hoàn,

Cùng mong Liễu lại tay Hàn mai nay.(Thị Kính)

lieu-chương-dai-tinh-su
Liễu chương đài tình sử (ảnh minh họa)

Tình sử Liễu Chương Đài

Về đời Đường có một người danh sĩ, tên là Hàn-Hoành, tính người điềm-đạm, từ khi còn nhỏ đã tự-phụ là một bậc tài-hoa. Năm Thiên-Bảo, thi đỗ Tiến-sỹ, song vẫn ở vào cảnh bần-hàn, thực là vách nứa soi giăng, nhà gianh treo khánh. May được một ông láng giếng là Lý-tướng-quân, khi nào có rượu ngon, cũng mời sang uống. Hàn cho Lý-tướng-quân là một người hào-phóng, nên coi như bạn thân, và năng đi-lại chuyện-trò.

Lý-tướng-quân có một nàng hầu, họ Liễu, vốn là danh-kỹ một thời. Người hầu ấy, ngày thường hé vách nhìn Hàn Hoành xem chiều ăn-ở, thấy chàng tuy nhà gianh vách nát mà tính hay đãi khách, hễ thấy khách đến thì cố ý mời-chào.

Nhân khi thanh-vắng, Liễu-thị nói với Lý-tướng-quân rằng : « Hàn-Hoành là một bậc danh-sĩ, dẫu rằng cùng-quẫn, song bạn-bè toàn là những bậc tài-danh, có lẽ nào nghèo khổ mãi. Tướng-quân nên giúp-đỡ người ta ».

Lý-tướng-quân nghe qua mà chẳng đáp. Một hôm, Lý tướng-quân làm tiệc rượu thật lớn, mời Hàn-Hoành đến dự. Lúc rượu xong, mới bảo Hàn-Hoành rằng : « Tiên-sinh vốn là danh-sĩ, mà Liễu-thị cũng là danh-sắc ; danh-sĩ cùng với danh-sắc sánh vai, thì thực vừa đôi phải lứa ». Rồi bắt Liễu-thị ra tiếp rượu Hàn. Hàn e-e thẹn-thẹn, cố từ chẳng dám đương.

Lý-tướng-quân bèn nói : « Kẻ trượng-phu ở bên chén rượu gặp nhau, đã một nhời tâm-phúc, thì chết cũng chẳng quản gì, phương chi một người đàn-bà, đủ chi từ chối ». Hàn không thể đừng được, đành phải vâng nhời.

Lý-tướng-quân lại nói : « Tiên-sinh cam chịu cảnh nghèo hèn, thì phấn-chấn làm sao được. Liễu-thị có vài trăm vạn, cũng có thể tựa nương ». Rồi quay lại bảo Liễu-thị rằng : « Nàng là người giỏi giang, phải thờ chồng cho hết đạo ».

Hàn lúc ấy phân-vân trong dạ, song Liễu-thị nét mặt vui vẻ mà bảo rằng : « Lý-tướng-quân là người hào-dật, hôm qua đã bảo với thiếp rồi, chàng chớ nên nghi-ngại ».

Hàn bèn cùng Liễu-thị ra về. Hai năm sau, có quan Tiết độ ở Phan-thành, tên là Hi-Dật, tâu cho Hàn làm viên-ngoại. Lúc ấy Triều-đình lắm việc, Hàn không dám cho vợ đi theo, phải tạm để ở Đô-hạ ít lâu.

Khi kỳ hẹn đã qua, Hàn không thấy vợ đến. Hơn ba năm nữa cũng chẳng gặp nhau. Một hôm, Hàn lấy vàng lụa bỏ vào trong một cái hòm, đề một bài thơ gửi về cho vợ :

Đài-chương kia, cây liễu ấy,

Trước xanh nay có còn nguyên vậy ?

Tơ dài phỏng vẫn rủ như xưa,

Hẳn chịu tay người đà bẻ gẫy.

Nguyên tác : 

Chương đài liễu, Chương đài liễu, 

Tích nhật thanh thanh kim tại phủ 

Túng sử trường điều tự cựu thùy, 

Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.

 

Chữ hán

章臺柳章臺柳

昔日青青今在否

縱使長條似舊垂

也應攀折他人手

 

Khi Liễu-thị nhận được, chưa tiện đi ngay, cho nên cũng đáp lại bằng một bài thơ :

Cành liễu này tươi tốt đấy,

Tặng biệt năm năm buồn biết mấy !

Chiếc lá vàng bay chợt báo thu,

Chàng dẫu có về khôn bẻ lấy.

Nguyên tác : 

Dương liễu chi, phân phi tiết, 

Khả hận niên niên tặng ly biệt. 

Nhất diệp tùy phong hốt báo thu, 

Túng sử quân lai khởi kham chiết.

 

Chữ hán

楊柳枝芬菲節

可恨年年贈離別

一枼随風忽報秋

縱使君來豈堪折

 

Liễu-thị nghĩ mình nhan-sắc, mà ở một mình, sợ cũng khó lòng giữ nổi, dắp toan cắt tóc ở chùa. Khi Hàn theo Hi Dật vào chầu, có ý dò-la thăm-hỏi để tìm Liễu-thị, nhưng mà tăm cá bóng chim. Mãi sau mới biết rằng nàng đã bị tướng Phiên là Sa-Trá-Lỵ bắt làm thiếp.

Một hôm, Hàn đi vào các Trung-Thư, đến góc thành phía đông-nam, chợt gặp một cái xe đi qua, nghe có tiếng người ở trong xe hỏi rằng : Có phải Hàn viên-ngoại ở Thanh-châu đấy không ? » Hàn đáp : « Phải ».

Người trong xe mở màn ra trông Hàn, sụt-sùi mà nói : « Thiếp là Liễu-thị, đã mắc vòng Sa-Trá-Lỵ bấy lâu, tự biết cá chậu chim lồng, khôn đường thoát khỏi. Nếu chàng nghĩ tình xưa nghĩa cũ, thì ngày mai xin cứ đường này đón thiếp để cho thiếp gửi lại một nhời ».

Hàn về nhà rất đỗi ngậm-ngùi. Hôm sau y hẹn đến đón. Vụt thấy một chiếc xe đi qua, bên trong ném ra một gói, mở ra xem thì là một hộp nước hoa, ngoài bọc khăn điều, Liễu thị thấy Hàn, nước mắt như mưa, chỉ nói được một câu rằng : « Chàng ơi, cách tuyệt từ đây, còn mong bao giờ gặp mặt ».

Hàn chưa kịp đáp, thì « một xe trong cõi hồng trần như bay », mắt với trông theo, hai hàng lệ ứa. Cách ít lâu thì Lâm-truy đại hội, bạn bè Hàn đặt tiệc tại cao-lâu, có viết thiếp mời. Hàn y hẹn đến, song trong lòng thương-cảm, sắc mặt không vui.

Khi uống rượu, người trong tiệc đều hỏi rằng : « Hàn viên-ngoại vốn cười-nói phong-lưu, lúc nào cũng vui-vẻ, nay sao dường có dáng lo-buồn ? » Hàn mới đem hết chân-tình giãi-tỏ.

Lúc ấy có Ngu-hầu Hứa-Tuấn, người còn trẻ tuổi, khí phách hào-hùng, bỏ chén rượu xuống mà nói rằng : « Tuấn nay nghĩa-liệt là lòng, ngay giữa đường gặp việc bất-bình cũng còn giúp-đỡ. Nếu Hàn viên-ngoại viết cho mấy chữ, thì châu kia Hợp-phố sẽ đem về ».

Nhân Hứa-Tuấn nói thế, mọi người cũng đều đồng-thanh khuyến-khích. Hứa-Tuấn giục Hàn viết thư, rồi đóng đồ cho ngựa, lại dắt thêm một con ngựa nữa theo sau, mà đi tắt lại nhà Sa-Trá-Lỵ.

Khi đến, thì vừa lúc Sa-Trá-Lỵ đi chơi vắng, Hứa-Tuấn bèn bảo người canh cửa rằng : « Sa-tướng-quân ngã ngựa, cho tôi đem ngựa về đón Liễu-phu-nhân ».

Liễu-thị sợ chạy ra, Hứa-Tuấn đưa thư của Hàn làm tin, rồi cắp Liễu-thị lên yên, vượt đường tắt mà về. Tiệc rượu chưa tan, mà Hứa-Tuấn đã đem Liễu-thị đến bảo Hàn rằng : « May không nhục mạng ». Lúc bấy giờ Sa-Trá-Lỵ có công, vua Đại-Tôn rất yêu đương và hậu-đãi. Những người ở đấy sợ thành cháy vạ lây, dắt nhau đến nói cùng Hi-Dật. Hi-Dật nghe nói, vểnh râu dài cổ, cả giận mà rằng :

« Những việc bất bình như thế trước kia ta đã thường làm, ai ngờ Hứa-Tuấn mà cũng có những cử-chỉ đó ». Bèn lập-tức dâng biểu hạch tội Sa-Trá-Lỵ đã hiếp-đoạt vợ người, mà Hứa-Tuấn là chàng nghĩa-hiệp.

Vua Đại-Tôn tấm-tắc khen ngợi, ngự bút châu-phê rằng : « Cho Sa-Trá-Lỵ lụa tấm hai ngàn, mà Liễu-thị cho về với Hàn-Hoành ».

Phan Mạnh Danh dịch

Nguồn: Điển cố truyện và thơ