Đổng Thị kỳ huyệt (phần 2) – Toàn tức

Đổng Thị kỳ huyệt là một trường phái về châm cứu được truyền lại từ tổ tiên của ông Đồng Cảnh Xương đã hơn 10 đời. Đây là một hệ thống châm cứu theo kỳ huyệt, có sự khác biệt với hệ thống châm cứu 14 chính kinh.
Trong khuôn khổ loạt loạt bài về Đổng Thị kỳ huyệt chúng tôi xin chia sẻ tới các bạn những lý luận cơ bản nhất về trường phái này.

Tiếp của phần 1

Đổng cảnh xương- đổng thị kỳ huyệt

A2 Toàn tức

Trong học thuyết thiên nhân hợp nhất trong Đông y, cho rằng mỗi bộ phận đều có liên quan đến tổng thể, mỗi bộ phận có thể phản ánh tổng thể, và cũng có thể trị liệu tổng thể. Đây cũng là quan điểm của thuyết ‘Toàn tức’.

Vì vậy, có rất nhiều phương pháp châm cứu như chưởng châm, nhãn châm, nhĩ châm, túc châm và đầu châm. Tất nhiên, điều quan trọng nhất là ‘thể châm’. Mặc dù thể châm mười bốn kinh mạch tương ứng với ngũ tạng lục phủ, tuy nhiên, nếu phân biệt rõ hơn từng bộ phận tay, chân, thì mỗi bộ phận có thể điều trị các bệnh riêng biệt của toàn thân. Thực tế này phản ánh đầy đủ tương quan tổng thể của cơ thể con người. Sự xuất hiện của ‘toàn tức luận’ đã làm sâu sắc thêm khái niệm tổng thể của Đông y. Theo toàn tức luận, bất kỳ chi nào trên cơ thể con người đều là một mô hình thu nhỏ của tổng thể. Có các huyệt tương ứng với toàn cơ thể, ví dụ đốt bàn ngón tay hai, có các huyệt tương ứng các huyệt vị ở các bộ phận đầu, cổ, chi trên, phổi, gan, dạ dày, tá tràng (thập nhị chỉ tràng), thận, thắt lưng, các huyệt tại các vùng trên bụng dưới, cẳng chân, bàn chân, v.v.,

Ở mỗi chi và các bộ phận lớn hơn và tương đối độc lập khác, đều có cùng một mô hình phân huyệt như ở đốt bàn ngón tay hai. Sự phân bố các huyệt đạo trên mỗi chi cũng theo tỷ lệ tương tự như ở bàn ngón tay hai: Huyệt nối giữa huyệt đầu và chân là huyệt vị. Huyệt nối giữa huyệt vị và huyệt đầu là huyệt phế. Huyệt phế và huyệt đầu được chia thành ba phần bằng nhau, hai điểm giữa tính từ huyệt đầu là huyệt cổ và huyệt chi trên theo thứ tự. Sự kết nối giữa huyệt vị và huyệt chân được chia thành sáu phần bằng nhau, năm huyệt ở giữa tính từ huyệt vị là tá tràng, thận, thắt lưng, bụng dưới và đùi huyệt chân theo thứ tự. Các huyệt trên chỉ là các huyệt đại diện, các huyệt khác có thể lấy các huyệt này làm điểm tham khảo

Sự phân bố huyệt đạo của Đổng thị kỳ huyệt cũng rất giống với quy luật Toàn tức, thầy Đổng nhấn mạnh rằng bộ phận nào trên cơ thể cũng có thể điều trị được các bệnh toàn thân. Dù thầy Đổng chia toàn bộ cơ thể thành 12 bộ phận điều trị, nhưng mỗi bộ phận đều có thể điều trị các bệnh độc lập của toàn cơ thể. Trong điều trị lâm sàng, bệnh nhân thường được điều trị bằng cách quyết định châm cứu ở tay hay chân. Các huyệt châm cứu có cùng tính chất tác dụng được phân bố ở tay và chân. Các huyệt Chỉ Ngũ Kim, Thủ Ngũ Kim, Túc Ngũ Kim; Chỉ Tứ Mã, Túc Tứ Mã là những ví dụ rõ ràng. Một ví dụ khác là bản thân một nhóm huyệt thường có ý nghĩa Toàn tức.

Ví dụ như Linh Cốt, Đại Bạch được Đổng sư sử dụng làm huyệt ôn dương bổ khí. Theo Toàn tức luận thì, Đại Bạch chủ thượng tiêu, Linh Cốt chủ hạ tiêu. Cả Đại Bạch và Linh Cốt chủ yếu là kim sâu, thấu qua cả tam tiêu thượng trung hạ. Do đó, hai kim bao phủ tam tiêu bất kể hướng dọc hay ngang. Hiệu quả là rõ ràng. Lại như huyệt Ngũ Hổ, từ đầu ngón tay đến lòng bàn tay, thứ tự là Ngũ Hổ một, Ngũ Hổ hai, Ngũ Hổ ba, Ngũ Hổ bốn, và Ngũ Hổ năm. Ngũ Hổ huyệt được Đổng sư điều trị toàn thân cốt thũng. Theo sự phân bố và chủ trị của 5 huyệt, theo ý Toàn tức, Ngũ Hổ một thường được dùng để chữa đau ngón tay, đau lòng bàn tay và viêm bao gân; Ngũ Hổ ba dùng để chữa đau ngón chân, (Ngũ Hổ hai là dùng để tăng cường cho Ngũ Hổ một, 2 huyệt cùng tác dụng); Ngũ Hổ bốn dùng chữa đau mu bàn chân; Ngũ Hổ năm dùng chữa đau gót chân.

Một số nhóm huyệt được sử dụng để điều trị các bệnh toàn thân ở Bát Bát (phần đùi) Thất Thất (phần bắp chân). Lại như Tứ Mã thượng, trung, hạ để điều trị các bệnh về phổi; Thiên Hoàng, Minh hoàng, Kỳ Hoàng điều trị bệnh của gan; Thận Quan, Nhân Hoàng, Địa Hoàng chữa bệnh thận.

Khi trên và dưới giao nhau, các tổn thương trên và dưới có thể được điều trị. Ví dụ, Linh Cốt có thể chữa đau gót chân cũng như chóng mặt. Khúc Trì có thể chữa chóng mặt và đau đầu gối ở phần dưới.

Phương pháp châm cứu Đảo mã của Đổng thị thường sử dụng song song hai hoặc ba kim, việc đặt cạnh nhau sẽ tăng cường hiệu quả điều trị. Đặc biệt là điều trị tạng phủ trong đó ba kim trên bộ vị được đặt cạnh nhau, càng liên quan chặt chẽ đến quy luật toàn tức. Ví dụ: Tứ Mã thượng, trung, hạ để chữa bệnh phổi; Thông Quan, Thông Sơn, Thông Thiên chữa bệnh tim; Thiên Hoàng, Minh hoàng, Kỳ Hoàng chữa bệnh gan; Thông Thận, Thông Vị, Thông Bối để điều trị các bệnh về thận. Chính có tác dụng thượng châm trị thượng bộ, trung châm trị trung bộ, hạ châm trị hạ bộ. Toàn thân hợp dụng, toàn thân được chăm sóc, điều trị tất nhiên là xuất sắc.

còn tiếp …

Xem tiếp: Đổng thị kỳ huyệt phần 3 – Đối ứng