Đổng Thị kỳ huyệt (phần 3) – Đối ứng

Trong bài Đổng Thị kỳ huyệt phần 3 này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về Đối ứng trong châm cứu Đổng Thị.

Tiếp theo của Phần 2 – Toàn tức

dong-thi-ky-huyet-3
Huyệt Đại Gian (ảnh chụp màn hình)

A3 Đối ứng

Tiêu u phú nói “ bệnh ở bên trái châm kim ở bên phải,…bệnh ở đầu châm kim ở châm” thầy Đổng dùng thượng bệnh hạ trị, hạ bệnh thượng trị , tả bệnh châm hữu , hữu bệnh châm tả, không châm cứu ở vùng cục bộ. Các huyệt đạo đối ứng thường được lựa chọn để điều trị, mang lại hiệu quả vượt trội. Có 8 phương pháp chọn huyệt đối ứng mà thầy Đổng thường áp dụng trong Đổng Thị kỳ huyệt:

– Đẳng cao đối ứng

Tức là, kim châm vào cùng một chỗ ở phía đối diện của điểm đau, bên trái có thể lấy cùng điểm bên phải, bên phải cũng có thể lấy điểm bên trái. Ví dụ, trong Đổng Thị kỳ huyệt: cơn đau Khúc Trì bên trái có thể được châm vào Khúc Trì bên phải. Điều này phù hợp với lý thuyết cộng hưởng của vật lý, việc phổ biến và áp dụng điều trị bệnh nội khoa cũng có thể áp dụng phương pháp châm cứu một bên hoặc hai bên tại các điểm khác nhau thay vì châm cứu hai bên cùng một điểm.

– Thủ túc thuận đối

Sắp xếp các chi trên và chi dưới thành một đường thẳng, tập trung từ khuỷu tay đến đầu gối. Có thể có các tương ứng sau: vai với hông, cánh tay trên với đùi, khuỷu tay đến đầu gối, cánh tay dưới đến bắp chân, bàn tay với bàn chân. Nếu bị bệnh ở hông thì lấy huyệt ở vai (ví dụ như huyệt Kiên Trung) để điều trị, nếu bị bệnh ở đầu gối thì lấy huyệt Khúc Trì hoặc Xích Trạch (trửu hậu ca ) để điều trị, (Ngược lại, nếu có bệnh ở vai thì bấm huyệt ở hông để trị, nếu có bệnh ở khuỷu tay thì cũng có thể bấm huyệt ở đầu gối để trị). Có người thường sử dụng huyệt Ngũ Hổ huyệt để điều trị đau ngón chân, và huyệt Tiểu Tiết để điều trị đau mắt cá chân, đây là một vận dụng của đối ứng.

– Thủ túc nghịch đối

Sắp xếp các chi trên và chi dưới theo hướng ngược lại, có thể tương ứng với các vị trí sau: đó là vai và bàn chân, cánh tay và bắp chân, khuỷu tay và đầu gối, cánh tay và đùi dưới, bàn tay và hông. Nếu bệnh ở bàn chân và mắt cá chân thì lấy huyệt ở vai, nếu bị bệnh ở đùi thì lấy huyệt ở bắp tay (Ngược lại, nếu có bệnh ở vai thì có thể chữa bằng huyệt ở chân, có bệnh ở cánh tay thì cũng có thể được chữa bằng huyệt ở đùi). Thầy Đổng thường lấy huyệt Linh Cốt và Hậu Khê trên tay để chữa đau thần kinh tọa, thường lấy Chi Câu, Ngoại Quan để chữa đau đùi, tất cả đều dựa trên việc áp dụng nguyên lý này.

– Thủ khu thuận đối pháp

Ngoài mối quan hệ tương ứng giữa chi trên và chi dưới, còn có mối quan hệ tương ứng với thân, nếu chi trên rủ xuống tự nhiên và thân xếp hướng về phía trước thì sự tương ứng như sau: và ngực (hoặc lưng), khuỷu tay và rốn (thắt lưng), cánh tay dưới và bụng dưới ( năm đốt sống thắt lưng, cùng xương cùng và xương cụt – Yêu để), bàn tay và bộ phận sinh dục (âm bộ). Nếu bị bệnh ở vùng hạ vị hoặc vùng bụng dưới thì có thể lấy huyệt dưới cánh tay để điều trị, bệnh thì có thể chữa bằng huyệt ở bàn tay (huyệt vùng bụng dưới hoặc vùng Yêu để để điều trị bệnh ở cánh tay dưới). Nguyên tắc chữa bệnh thoát vị của Đổng thị bằng huyệt Đại Gian là có liên quan đến nguyên tắc này.

– Thủ khu nghịch đối pháp

Sắp xếp các chi trên và thân mình theo chiều ngược lại, và các tương ứng sau có thể được thực hiện: bàn tay (cổ tay) và đầu (cổ), cẳng tay và ngực (lưng), khuỷu tay và (thắt lưng) cánh tay trên và bụng dưới (hoặc thân), vai và vùng âm bộ. Nếu bị bệnh ở khoang ngực, có thể dùng huyệt ở cẳng tay để điều trị, còn nếu bị bệnh ở vùng bụng dưới thì có thể dùng huyệt ở trên cánh tay để trị. (Nếu cẳng tay và cánh tay bị bệnh, cũng có thể ấn huyệt trên khoang ngực và vùng bụng dưới để điều trị.). Đổng sư điều trị bệnh viêm âm đạo phụ khoa bằng điểm Thiên Tông, Vân Bạch trên vai. Phương pháp châm cứu chữa bệnh ở đầu bằng châm ngón tay phổ biến hiện nay có liên quan đến nguyên lý này

– Túc khu thuận đối pháp

Chi dưới ngoài mối quan hệ tương ứng giữa chi trên, còn có mối quan hệ tương ứng với thân, các chi và thân đặt cạnh nhau có sự tương ứng như sau: đùi và ngực (lưng), đầu gối và rốn (thắt lưng), bắp chân và bụng dưới (yên để), bàn chân và âm bộ. Nếu ngực và lưng bị bệnh thì có thể bị bệnh ở đùi, nếu bị bệnh ở bụng dưới thì có thể bị ở bắp chân, ngược lại nếu bị bệnh ở đùi và ở bắp chân thì cũng có thể được chữa ở ngực và bụng. Lâm sàng Nội Đình thường được sử dụng để điều trị đau bụng kinh. Đại Đôn, Ẩn Bạch điều trị Băng Lậu, Phục Lưu điều trị đau lưng (yên để), Tam m Giao điều trị bụng dưới đau, v.v. và các ứng dụng của chúng phù hợp với nguyên tắc này.

– Túc khu nghịch đối pháp

Sắp xếp các chi dưới và thân mình theo hướng ngược lại, có thể có các mối quan hệ tương ứng sau: bàn chân và đầu, mắt cá và cổ, bắp chân và ngực (lưng), đầu gối và rốn ( eo lưng), đùi và bụng dưới (yên để). Nếu bị bệnh ở khoang ngực thì có thể châm ở bắp chân, nếu bị bệnh ở phần bụng dưới thì có thể châm ở phần đùi, ngược lại thì phần khoang ngực và phần bụng dưới cũng có thể chữa được phần chân trên và dưới. Trên lâm sàng, Lâm Khấp thường được dùng chữa thiên đầu thống, Hãm Cốc để trị chứng Dương minh đau đầu, Thúc Cốt trị đau đầu. Thầy Đổng cũng dùng Chính Cân, Chính Tông điều trị chứng cổ không thỏai mái, đều liên quan đến phương pháp tương ứng này.

– Đầu để đối ứng pháp

Ngoài sự tương ứng trên, thì đầu mặt và phần xương cùng cụt cũng hình thành sự đối ứng. Ví dụ như lâm sàng điều trị bệnh đầu não bằng huyệt Trường Cường vùng xương cùng, chữa sa hậu môn bằng huyệt Bách Hội ở đầu là một ví dụ phổ biến. Thầy Đổng thường dùng huyệt Xung Tiêu để trị chứng đau đầu, đó cũng là cùng vận dụng một nguyên tắc.

– Thủ túc đối ứng

Bạch Hội trên đỉnh đầu cũng tương ứng với Dũng Tuyền ở lòng bàn chân, gọi là “thiên đỉnh đối địa môn”, vì vậy Dũng Tuyền được dùng để chữa các chứng đau nhức đầu và các bệnh về não.

– Tiền hậu đối ứng

Giữa mặt trước và mặt sau cơ thể con người cũng có mối quan hệ tương ứng như ngực-lưng, eo-bụng, cổ-miệng,… ví dụ trong Đổng Thị kỳ huyệt: Thầy Đổng thường dùng Tổng Xu ở cổ để điều trị chứng phát âm yếu và nôn mửa, v.v… Sử dụng Thừa Tương để điều trị cổ cứng, đó là ứng dụng tương ứng này.

Còn tiếp …

Xem tiếp Phần 4 – Thể ứng