Đổng Thị kỳ huyệt (phần 4) – Thể ứng

Trong bài Đổng Thị kỳ huyệt phần 4 này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về Thể ứng trong châm cứu Đổng Thị.

Tiếp theo của Phần 3 – Đối ứng

dong-thi-ky-huyet

A4 Thể ứng

Thể ứng là phương diện phát minh và ứng dụng điều trị nhiều nhất của Đổng thị kỳ huyệt, nắm vững nguyên lý này không những có thể tác dụng huyệt Đồng sâu hơn, hiệu quả hơn, mà mười bốn kinh mạch cũng có thể củng cố và làm nổi bật tác dụng của nó. Các điểm chính của phản ứng cơ thể là: lấy cốt trị cốt; lấy cân trị cân; lấy nhục trị nhục; lấy mạch trị mạch.

– Dĩ cốt trị cốt

Gai xương thường dùng Cốt châm để trị, Tứ Hoa Trung và Hạ Tam Thốn trong đảo mã, hai kim áp sát đầu xương mới có tác dụng. Nhóm huyệt này rất hiệu quả trong việc điều trị tràn dịch khớp gối, phì đại khớp xương và thoái hóa khớp. Thầy Đổng chọc kim, áp sát xương nhiều nhất càng tốt, chẳng hạn như Linh Cốt, Hỏa Chủ, Đại Bạch và các huyệt khác châm sát vào xương, không chỉ châm tăng cảm giác mà còn có tác dụng chữa bệnh cao. Một ví dụ khác là huyệt Cửu Lý (Phong Thị) thường được sử dụng sâu đến tận xương để điều trị các bệnh phong bệnh, đau nhức và liệt nửa người hiệu quả rất tốt. Hiện nay, có giả thuyết nhấn mạnh sự dẫn truyền của màng xương và cho rằng màng xương có tác dụng dẫn truyền, do đó, khi châm kim vào xương hoặc sát xương càng tốt thì hiệu quả càng cao.

– Dĩ cân trị cân

Châm sát gân có thể chữa các bệnh về gân, ví dụ: Xích Trạch sát cạnh gân lớn có tác dụng chữa các bệnh về gân trên toàn thân, vận dụng có hiệu quả tốt. Lại như Chính Cân, Chính Tông (gân Achilles) là một gân lớn Châm cứu vào Chính Cân, Chính Tông có thể điều trị nhiều loại bệnh về cơ như gân cổ, gân bắp chân căng cứng.

– Dĩ nhục trị nhục

Ví dụ như Tứ Mã và Kiên Trung đều có rất nhiều cơ, được dùng nhiều nhất để chữa các bệnh về cơ, đặc biệt là bệnh teo cơ, cho kết quả rất tốt. Trong mười bốn đường kinh, Khúc Trì, Thủ Tam Lý, Hợp Cốc đều là nơi có nhiều cơ nhục, tác dụng chữa bệnh về cơ nhục cũng tốt hơn. Đương nhiên, bệnh teo cơ phần lớn là dương minh thấp nhiệt hoặc hỏa thước phế kim, châm cứu tại các huyệt này có tác dụng cao đối với thanh dương minh và phế kim. Tứ Mã, Kiên Trung, Khúc Trì, Thủ Tam Lý, Hợp Cốc và các huyệt khác cũng có hiệu quả chữa bệnh ngoài da cũng rất tốt.

– Dĩ mạch trị mạch

Các huyệt gần mạch có thể chữa các bệnh về mạch, như châm kim ở Nhân Tông, Địa Tông, vì nó gần mạch máu, điều chỉnh lưu thông máu, chữa bệnh tim và xơ cứng động mạch rất hiệu quả. Huyệt Thái Uyên của kinh phế là nơi mạch hội bên cạnh mạch, có tác dụng chữa các bệnh về mạch máu.
____
Ngoài ra, theo nguyên lý tương sinh của ngũ hành, có thể lấy cốt trị thận, lấy gân bổ gan, lấy mạch trị tỳ, lấy bì phu để trị phổi, … có thể thấy ở khắp nơi trong sách của thầy Đổng. Vì vậy sẽ không có thêm ví dụ ở đây.

Còn tiếp  …

Xem tiếp Phần 5 – Kinh lạc và Ngũ tạng