Đổng Thị kỳ huyệt (phần 5) – Kinh lạc và Ngũ Tạng

Trong bài Đổng Thị kỳ huyệt phần 5 này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về học thuyết ngũ tạng và kinh lạc được ứng dụng trong châm cứu Đổng Thị.

Tiếp theo của Phần 4 – Thể ứng

A5 Đổng thị kỳ huyệt và kinh lạc

 

– Tuần kinh

Chọn huyệt theo kinh mạch là nguyên tắc cơ bản nhất và phương pháp châm cứu, chọn huyệt dựa vào biện chứng. Đổng thị kỳ huyệt cũng không ngoại lệ. Bởi vì thầy Đổng được biết đến là người rất thành công trong việc sử dụng hệ thống kỳ huyệt, nên nhiều người không nhận ra rằng ông cũng là một bậc thầy trong việc vận dụng 14 kinh lạc, tìm hiểu và phát hiện ra nhiều kỳ huyệt 14 đường kinh. Chẳng hạn như dùng Tỳ Quan để trị cảm lạnh, Phục Miễn trị tim đập nhanh và các bệnh tim, Độc Tị trị Herpes, Công Tôn điều trị đau thắt lưng và tê tay, Tam m Giao trị đau thắt lưng và cứng cổ, m Lăng Tuyền trị đau đầu, Uyển cốt trị bệnh mắt, Kiên Ngoại Du điều trị đau bắp chân, Chích máu Cao Hoang trị đau đầu gối, Thừa Phù trị loa dịch scrofula, Phong Thị chữa đau vai gáy, sườn đau, liệt nửa người, Hãm Cốc trị đau đầu và tiêu chảy, Phong Thị trị chứng nôn mửa… v.v…

Mặc dù huyệt của thầy Đổng được gọi là “kỳ huyệt”, nhưng thầy Đổng vẫn thường gọi các huyệt này là “chính kinh kỳ huyệt”, các huyệt của thầy Đổng có mối quan hệ mật thiết với 14 đường kinh. Sau đây xin đưa thêm một số ví dụ khác: Thầy Đổng thường dùng Can Môn chữa bệnh gan, Trung y cho rằng gan bệnh phần nhiều do thấp, tiểu trường là cơ quan phân bố nước. Uyển Cốt là huyệt nguyên trên kinh tiểu trường, nên dùng tiểu trường chữa Hoàng đản. (Thông huyền chỉ yếu phú, Ngọc long ca, Ngọc long phú ). Điểm Can Môn nằm giữa kinh tiểu trường của cánh tay. Nó cũng phù hợp với lỳ thuyết trị can bệnh trung tiêu trong Toàn tức luận, hiệu quả rất tốt.

Một ví dụ khác là Chính Cân, Chính Tông điều trị chứng cổ cứng và có liên quan đến kinh bàng quang. Một ví dụ khác là Bác Cầu điều trị đau lưng; Kỳ Môn, Kỳ Chính, Kỳ Giác trị bệnh trĩ; Thiên hoàng, Minh hoàng, Kỳ hoàng điều trị bệnh gan; Hạ Tam Huỳnh điều trị các bệnh tiết niệu, tỳ vị và phụ khoa bao gồm cả huyệt Tam m Giao; Nhân Sĩ, Địa Sĩ, Thiên Sĩ, Khúc Lăng điều trị bệnh hen suyễn cảm lạnh, có liên quan đến kinh Phế; Môn Kim điều trị các bệnh về đường tiêu hóa, có liên quan đến kinh vị … v.v … Còn nhiều nữa.

Ngoài việc chọn huyệt theo kinh mạch, còn có các huyệt biểu lý với kinh, ví dụ như huyệt Hỏa Cúc của kinh mạch tỳ dùng để trị đau trước đầu (Dương minh đau đầu); Nội Quan trị bộ máy tam tiêu khí cơ không lợi; chích máu huyệt Tứ Hoa trung, ngoại, Phong Long trị đờm (tỳ tụ đờm thấp) v.v…..

– Giao kinh

Giao kinh còn được gọi là thông kinh thủ huyệt pháp, trong đó tam âm thông tam dương; thái âm thông thái âm, dương minh thông dương minh, thiếu âm thông thiếu âm, thái dương thông thái dương, quyết âm thông quyết âm, thiếu dương thông thiếu dương, trên thực tế, sáu kinh mạch đều thông với nhau. Mối quan hệ này có ảnh hưởng đến sinh lý bệnh của cơ thể con người.

Thầy Đổng cũng thường dùng thông kinh pháp. Ví dụ, huyệt Uyển Thuận một, hai có thể dùng để chữa đau thắt lưng kinh bàng quang, và cũng có thể trị được chứng đau chân bên tương ứng. Một ví dụ khác là Ngư Tế khả có thể trị Công Tôn (thủ thái âm thông túc thái âm ), Ngũ Hổ huyệt để trị đau ngón chân cái. Phương pháp này đôi khi không cần bấm huyệt cố định để trị bệnh, chỉ cần bạn nắm vững kinh lạc và tỷ lệ tương ứng.

A6 Ngũ tạng biệt thông dụng

Đây là phần nổi bật nhất, bao quát nhất và tinh túy nhất trong ứng dụng huyệt độc đáo của Đổng thị. Ngũ tạng biệt thông được phát triển từ sự thay đổi từ sự đóng mở của lục kinh. Linh khu căn kết thiên nói: “Thái dương vi khai, dương minh vi hợp, thiếu dương vi khu, lại nói: “thái âm vi khai, quyết âm vi hợp, thiếu âm vi khu” Tam âm tam dương đồng khí tương cầu.

Theo cách này, phế kết nối với bàng quang, tỳ kết nối với tiểu trường, tâm kết nối với đởm, thận kết nối với tam tiêu, và can kết nối với đại trường, vị còn thông với bào lạc. Từ nguyên lý này có thể tìm hiểu sâu hơn nguyên lý ứng dụng của huyệt Đổng thị.

Ví dụ Trọng Tử, Trọng Tiên nằm trên kinh phế, nhưng có thể chữa đau lưng ở kinh bàng quang và đau vai. Huyệt Can Môn nằm trên kinh tiểu trường, tiểu trường là cơ quan phân tách nước, có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, nên chữa được bệnh viêm gan. Huyệt Nhãn Hoàng nằm trên kinh tâm, tâm đởm thông nhau nên chữa được bệnh vàng mắt. Huyệt Hoàn Sào nằm trên kinh tam tiêu, do kinh kinh tam tiêu thông với thận, nên có thể sơ can bổ thận, chữa các bệnh phụ khoa, vô sinh, …

Một ví dụ khác là huyệt Hỏa Bao thuộc kinh vị, vị và tâm bào thông nhau, nên có tác dụng chữa đau tim rất hiệu quả. Thông Quan, Thông Sơn nằm trên kinh vị cũng có tác dụng chữa bệnh ở tim. Huyệt Mộc nằm trên kinh Thái dương, nhưng có thể chữa thoát vị trên kinh gan. Đại, trung, tiểu Phù Gian nằm trên kinh đại trường, có thể chữa đau do thoát vị. Đau vai phần lớn nằm ở tiểu trường, châm Thận Quan. (trên kinh tỳ ) có tác dụng đặc biệt.

Lựa chọn huyệt của mười bốn điểm kinh lạc dựa trên nguyên lý của ngũ tạng, hiệu quả rất tốt, ví dụ như việc sử dụng Khúc Trì để điều trị chứng chóng mặt, là thông qua ứng dụng của đại trường và can tương thông. Uyển Cốt nằm trên kinh tiểu trường, có thể thanh tỳ thấp, chữa bệnh vàng da. Trung Chử trên kinh tam tiêu rất hiệu quả trong việc điều trị chứng thận hư và đau thắt lưng. Nội Quan là huyệt của kinh tâm bào, nhưng chữa đau đầu gối rất hiệu quả. Ứng dụng của phương pháp này cực kỳ linh hoạt, có rất nhiều ví dụ và hiệu quả rất tuyệt vời.

Còn tiếp …

Xem tiếp Phần 6 – Thủ pháp châm cứu trong Đổng Thị