Đổng Thị kỳ huyệt (phần 8) – Đổng thị kỳ huyệt với các học thuyết đông y

Trong bài Đổng Thị kỳ huyệt phần 8 này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về mối quan hệ giữa Đổng thị kỳ huyệt với các học thuyết đông y.

Tiếp theo của Phần 7 – Một số chú ý trong châm cứu Đổng thị

C Đổng thị kỳ huyệt với các học thuyết đông y

 

C1 Điều trị chú trọng học thuyết ngũ hành đến tạng tượng là tương ứng

Thầy Đổng rất coi trọng việc điều hòa ngũ hành và ứng dụng tạng tượng vào phương pháp chữa bệnh, những huyệt đạo được đặt tên theo ngũ hành và tạng tượng đều có tác dụng chữa bệnh tương tự và liên quan, chẳng hạn như:

Huyệt Thủy Kim có ý nghĩa là sự kết nối của kim và thủy, có tác dụng trị các chứng bệnh phế bất túc giáng và thận không nạp khí do kim thủy không thông gây ra, như ho, suyễn, trúng phong, chướng bụng, nôn mửa, khô khan. dịch tả, v.v.

Ví dụ khác, ba huyệt Tứ mã trung, thượng, hạ có thể trị bệnh phổi, Trung y cho rằng phổi chủ khí lại chủ bì phu, do đó, huyệt này có tác dụng đặc biệt đối với các bệnh viêm mũi, vẩy nến, mụn trứng cá, cũng có hiệu quả đối với các bệnh ngoài da khác nhau.

Ngoài ra, thông qua ngũ hành sinh khắc, còn chữa viêm kết mạc (khiến hỏa không khắc kim), bệnh bướu cổ (khiến kim sinh mộc ) cũng hiệu nghiệm. Ba huyệt Thiên Hoàng, Minh Hoàng, Kỳ Hoàng có thể điều trị bệnh xơ gan và viêm gan, cũng như chóng mặt và đau mắt. Thông Quan, Thông Sơn, Thông Thiên có thể chữa bệnh tim, thấp khớp do tim, đau đầu gối và phù nề chi dưới. Thông Thận, Thông Vị, Thông Bối lưng có tác dụng chữa viêm thận, sưng phù toàn thân, sưng phù chân tay, khô miệng và đau họng. Thận Quan chính là huyệt bổ thận chủ yếu, có tác dụng chữa đau thần kinh tọa, đau vai gáy, đau lưng, nhức đầu, đau lưng do thận hư gây ra.

Một ví dụ khác là huyệt Mộc hoả, có thể làm sơ can khu phong, lại có thể thanh nhiệt hoặc làm ôn dương, là huyệt rất tốt trị bán thân bất toại. Đây là những ví dụ về ứng dụng của học thuyết tạng tượng. Ngoài ra, thông qua học thuyết ngũ hành và tư duy phòng bệnh, phương pháp điều trị này có thể được sử dụng linh hoạt hơn, chẳng hạn như điều trị ho và hen suyễn, xưa nói “phát tắc trị phế, bình thời trị thận”. Lúc phát tác châm huyệt Thủy Kim phối hợp Khúc Lăng, Tam Sĩ. Lúc bình thường châm Hạ Tam Hoàng. Có rất nhiều trường hợp điều trị kiểu này.

cac-hoc-thuyet-dong y
Học thuyết ngũ hành

C2 Điều trị coi trọng học thuyết Tỳ vị

Đổng sư đã nghiên cứu sâu về thuyết tỳ vị, trên điều trị lâm sàng cũng đã tạo ra nhiều phát minh để điều lý tỳ vị. Việc điều trị các bệnh trên 2 kinh tâm phế tâm hầu hết đều bắt đầu từ kinh vị, ví dụ các huyệt thường dùng như Khu Mã thượng, trung, hạ, và huyệt Thông Quan, Thông Sơn, Thông Thiên với kinh vị đều có liên quan. Khu Mã thường được dùng để chữa viêm mũi, ý là bổ thổ sinh kim. Người ta thường dùng Thông Quan, Thông Sơn để chữa bệnh tim, ý là “tử năng lệnh mẫu thực”. (Huyệt Thổ Thuỷ nằm ở kinh phế có thể chữa bệnh ở vị, cũng là ứng dụng ngược lại của nguyên lý này).

Chữa bệnh thận hầu hết dựa vào kinh tỳ, bổ thổ để chế thủy, vì vậy ba huyệt Thông Thận, Thông Vị, Thông Bối đều ở trên kinh tỳ. Đối với bệnh tỳ thận lưỡng hư, bổ thận không bằng bổ tỳ. Trước nên điều hậu thiên. Dùng Hạ Tam Hoàng (Thiên Hoàng phó, Nhân Hoàng, Địa hoàng) để bổ thận, những huyệt này nằm trên kinh tỳ. Trị Protein niệu, tỳ thận song bổ, dùng Thận Quan rất tốt.
Những điều này đều phản ánh rằng châm cứu của Đổng thị có nguồn gốc và dựa trên cơ sở lý thuyết.

C3 Điều trị chú trọng hoạt huyết hóa ứ, sử dụng kim tam lăng rất tốt

Sử dụng kim ba cạnh để chữa bệnh có thể nói là độc chiêu của thầy Đổng, tôi học thầy Đổng nhiều năm và theo thầy, thầy Đổng dùng kim ba cạnh là chuyện thường, để chữa trị các bệnh nặng thường vài năm mới lành, lúc đau dữ dội cũng có thể khỏi, hiệu quả thật không thể tin được. Phạm vi sử dụng của các huyệt đạo thầy không bị sách cổ hạn chế, trừ hốc khuỷu tay, nếp gấp đầu gối, trán bên, dưới lưỡi, mười hai tỉnh huyệt, thập tuyên, sau tai và các bộ phận khác thường được các bác sĩ đa khoa sử dụng. Ông sử dụng tốt và thích dùng với các vùng bắp tay, cẳng chân, cổ chân, mu bàn chân, mu bàn chân… hầu như chỗ não cũng có thể chích máu, nhất là vùng eo lưng, thường dùng để chữa các bệnh toàn thân.

Đổng sư sử dụng kim tam lăng để điều trị rộng rãi nhiều loại bệnh, chẳng hạn như Ủy Trung chữa đau thần kinh tọa, đau thắt lưng, gáy cứng, thấp khớp chi dưới, trĩ; Xích Trạch chữa tức ngực, hen suyễn và viêm khớp vai (五十肩); Túc Tam Lý trị bệnh dạ dày và viêm đường ruột; sử dụng huyệt Thái Dương (Tương đương với phần của huyệt Lãnh Yếm ) để trị đau nửa đầu, chóng mặt, viêm kết mạc; huyệt Tam Kim trị đau đầu gối; huyệt Kim Mộc trị đau đùi; huyệt Tinh Kỹ trị đau bắp chân; huyệt Song Phượng trị tê tay và chân; huyệt Tam Giang trị bệnh phụ khoa; huyệt Tổng Xu trị trẻ em sốt cao, nôn trớ … Phạm vi điều trị có thể kể đến nội, ngoại, phụ nữ, trẻ em, chấn thương.

Đặc điểm lớn nhất của phương pháp chích máu thầy Đổng là hầu hết các huyệt đạo đều ở xa vùng bị bệnh, phù hợp với phương pháp truyền thống “tả lạc viễn châm”, hiệu quả vượt trội và đáng tin cậy, ngược lại với phương pháp châm cứu hiện nay. và việc chích máu thường lấy “A thị huyệt” hoặc các huyệt gần đó, hiệu quả có thể không nổi bật.

C4 Điều trị coi trọng phối hợp với tiết khí

Trong phương diện trị bệnh theo các mùa có nói: “Xuân châm huyệt vinh, hạ châm huyệt du, thu châm huyệt hợp, đông châm huyệt tỉnh,” lại nói: “Can chủ mùa xuân,… tâm chủ mùa hạ,… tỳ chủ mùa trưởng hạ, … phế chủ mùa thu, … thận chủ mùa đông, … “, Đổng sư tìm hiểu nội hàm của nội kinh, ông thường châm cứu tại các huyệt liên quan đến tạng phủ vượng chính. Ngày xuân châm Tam Hoàng; hạ châm Thông Quan, Thông Sơn; thu châm Tứ Mã; đông châm Hạ Tam Hoàng, v.v … thường gặp trong lâm sàng. Đối với người bệnh mãn tính, suy nhược cơ thể, thì thường phối hợp với mùa để châm cứu các huyệt đạo liên quan đến kinh ‘mẫu’ nhằm bổ sung chỗ thiếu hụt. Điều trị lâm sàng bệnh viêm khớp, coi trọng mối quan hệ giữa các mùa và các triệu chứng.

Mùa xuân khi trúng gió hay gặp hành tý, mùa đông hay gặp thống tý, mùa hè , thu thấp hay gặp trước tý. Phương pháp điều trị chủ yếu là vào can hoặc tỳ thận, mỗi phương đều dựa vào tạng phủ của mùa, kết hợp với các phương pháp điều trị tạng phủ khác, hiệu quả rất nhanh. Ngoài ra, nó thường phối hợp với phương pháp ‘nhật nhật tứ thời phân’ trong nội kinh, được sử dụng trong điều trị các bệnh khác nhau. Ví dụ như để trị ho, trước hết châm Thủy Kim, sau đó châm thêm theo phương pháp nội kinh ‘sáng châm vinh, trưa châm du, chiều châm hợp, tối chân tỉnh’, gia thêm các huyệt Ngư Tế, Thái Uyên, Xích Trạch mỗi lần châm chỉ hai huyệt và hiệu quả rõ rệt với số lượng kim châm ít hơn. Đối với Tý ngọ lưu chú, mặc dù Master Dong không nói rõ tầm quan trọng của nó, nhưng ông cho rằng chích máu lúc 3 đến 5 giờ chiều (giờ Thần) sẽ có tác động gấp đôi đến các tổn thương kinh bàng quang so với bình thường (chẳng hạn như chích ở Ủy Trung đối với bệnh trĩ). Thực ra đây là ứng dụng phương pháp Tý ngọ lưu chú, điều này cho thấy thầy Đổng cũng có kiến ​​thức đáng kể về thời gian học.

Còn tiếp …

Xem tiếp: Phần 9 – Mở rộng điều trị Đổng thị kỳ huyệt