Giai thoại – Truyện trạng Gầu

Trạng nguyên dân gian

by Moc Lam Quan

Truyện trạng Gầu – Tên Nôm của làng An Cầu, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên may thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng) vốn là làng Gầu, nhân dân hàng bao đời nay truyền tụng rằng đây là quê hương của một vị Trạng Nguyên đầu tiên ở nước ta. Thời điểm ra đời của quan Trạng không ai khẳng định được.

Người thì cho Trạng sống đời Triều Lý (544-693). Người lại nói Trạng đỗ đời Trần Thái Tông (1225-1258). Đối chiếu với sử sách từ xưa thì các tài liệu đều không khớp nhau. Nhưng câu chuyện được kể lại khá thống nhất về đại thể, vả lại được một tác giả khuyết danh dựng lại trong một truyện Nôm lục bát (cũng không biết ra đời vào giai đoạn nào), đó là truyện Tống Trân. Tống Trân là tên thực của Trạng Gầu. Tống Trân được quen thuộc với toàn thể nhân dân Việt Nam. Các đồng bào dân tộc ít người cũng biết đến Tống Trân. Bà con Tày ở Cao Bằng, Bắc Cạn có tập Tống Trân, hay Tống Tồng viết băng chữ nôm Tày.

Chuyện Trạng Gầu theo nhân dân kể lại và truyện Tống Trân của tác giả khuyết danh đều thông nhất đầu đuôi như sau:

Xưa kia, làng Gầu huyện Phù Hoa, có hai vợ chồng một ông lão mãi đến năm 60 tuổi mới sinh được một mụn con trai đặt tên là Tống Trân. Lên ba tuổi, cha mất, hai mẹ con phải dắt nhau đi ăn mày.

Một ngày kia, hai mẹ con lên tỉnh Sơn Tây, vào nhà một trưởng giả. Con gái trưởng giả là Cúc Hoa cảm thương cảnh ngộ, mới lấy một đấu gạo đem cho, không ngờ trưởng giả về thấy vậy nổi giận lôi đình,  bắt  Tống Trân vào hỏi lai lịch,  rồi buộc Cúc Hoa phải lấy làm chồng,  dù Tống Trân mới 8 tuổi. Cúc Hoa 13 tuổi. Bị bố đuổi ra khỏi nhà, nhưng được mẹ thương, lén cho con một ít tiền. Cúc Hoa nuôi thầy dạy học cho chồng, ngày Tống Trân đi thi, nhà cửa sạch không, Cúc Hoa đã toan bán yếm, nhưng Tống Trân ngăn lại, tự mình tay không đi hành khất dọc đường để lên kinh. Cúc Hoa tìm đến nhà trưởng giả xin giúp đỡ nhưng bị cự tuyệt.

Tống Trân trải nhiều phen gian khổ, tủi nhục trên bước đường đi, nhưng vừa thi chàng đã đỗ ngay Trạng Nguyên, được ban mũ áo, vua ngỏ ý muốn gả con gái cho trạng, nhưng trạng từ chối. Vua phải cho về vinh quy, lúc bấy giờ lão trưởng giả lại chạy đến xum xoe nhận con, nhận rể.

Ở kinh đô, nàng công chúa bị Tông Trân từ hôn, liền ton hót với vua cha, xin bắt trạng đem đi đầy. Nhà vua nghe lời mới xuông chiếu cử Tống Trân đi sứ mười năm. Tống Trân đành để mẹ già vợ trẻ ở nhà khóc lóc thảm sầu, rứt lòng tuân theo chiếu chỉ.

Hồi bấy giờ, Trung Quốc do nhà Tần thống trị, 18 nước cùng có sứ giả sang thông hiếu. Tống Trân phải bước vào một cuộc đấu trí để bảo vệ danh dự nước nhà, mà cũng để tự vệ. Đầu tiên, vua Tần sai đào hố giữa đường, trải chiếu hoa lên mời các sứ giả đi. Tống Trân biết mưu đi sang lề đường, nên vào thẳng được sân rồng trong khi sứ các nước đều ngã lăn xuống hố. Vua Tần lại sai đem trạng vào hãm ở trong một ngôi chùa, mười ngày không cho ăn uống gì cả. Trạng nhìn thấy trên bệ có ba ông bụt thếp vàng, lại có ba ấm nước bày sẵn, chàng bèn ngã bụt xuống ăn, thì hóa ra bụt đắp toàn băng chè lam. Mười ngày sau, vua gọi ra thấy Trạng vẫn còn sống. Hỏi đến bụt thì Trạng thưa bụt đã nhập tâm rồi. Vua rất khen ngợi, lại muốn gả con gái cho Trạng nhưng Trạng cũng từ chối.

Nhà vua mến Trạng, cho làm nhà ở kề một bên. Trạng vừa chầu vua, vừa đọc sách. Ngày ngày Trạng lại xử đoán một số vụ kiện tụng và do đó lại càng tỏ ra là một con người có tài năng. Đặc biệt có hai vụ. Một là vụ xử người đàn bà giết chồng. Trạng chỉ cần nghe tiếng khóc mà biết người này thật lòng thương chồng hay dối trá. Trạng cầm kéo cắt mái tóc chị ta đi, phát hiện được chiếc kim sào để chứng minh rằng: “Kim sào ấy thực là dao giết chồng”.

Vụ án thứ hai là vụ xử kiện cành đa. Có người lái buôn kiếm được số tiền sau những ngày lăn lộn, không đưa tiền về mà lại giấu ở một cây đa rồi mới về nhà, chắc anh ta đề phòng việc cướp bóc. Đêm ấy, anh ta kể chuyện cho vợ nghe, không ngờ tên nhân tình của vợ là xã trưởng mò đến nghe lỏm được, liền ra lấy mất. Người lái buôn chặt cành đa mang đến kiện với Trạng rằng cày đa biển thủ, không giữ của cho mình. Trạng lập mẹo điều tra bắt được thủ phạm, uy tín của Trạng càng rộng lớn trong triều ngoài nội.

Trong khi Tống Trân ở nước Tần, trưởng giả ở nhà sinh lòng phản trắc. Suốt bảy năm không nghe tin tức gì, hắn liền gọi Cúc Hoa về, bàn định cho nàng tái giá. Cúc Hoa không chịu, hắn liền bắt mẹ chồng nàng giam vào chuồng trâu, giữ Cúc Hoa trong buồng, đóng ba lần cửa, đánh đập không tiếc tay. Cúc Hoa đang đêm tìm cách trốn lên núi Ba Vì. Đến đây, nàng được Sơn Tinh giúp đỡ, bảo nàng viết thư cho chồng rồi thần hóa phép mang thư đến cho Tống Trân, lại đưa thư trả lời về.

Trưởng giả cho người tìm kiếm, lùng bắt được Cúc Hoa, nhất quyết gả chồng ngay cho yên việc. Một tên đình trưởng đến cầu hôn. Trưởng giả nhận lời, bắt phải ở rể ba năm, hết hạn, chúng tổ chức đám cưới linh đình nhộn nhịp, cả thôn xóm đều phải đóng góp. Ai cũng phải đến dự lễ cưới này, nếu không đến thì phạt vạ.

Tống Trân tiếp thư vợ, đem lên trình vua Tần. Nhà vua cảm động thương Cúc Hoa, giảm thời gian lưu trú, cho Tống Trân về sớm ba tháng.

Tống Trân đem quân về nước, đóng tạm trên sông Hồng. Trạng một mình cải trang làm người ăn mày về dò tình hình đám cưới. Trạng thấy Cúc Hoa than khóc, đem sách và áo cũ của chồng ra đốt đi, thắp cỗ hương ra khấn vái. Trưởng giả sai đem lễ cưới đến. Cúc Hoa không ăn, nhờ mấy cô nữ tỳ đem xuống chuồng trâu cho mẹ chồng, lại gửi thêm 8 nén vàng cho bà lo bề hậu sự, vì nàng đã quyết chết theo chồng. Bọn người hầu đem lòng gian manh chỉ đưa cỗ, còn vàng thì chúng chia nhau. Nhưng đàn chuột đã lây cắp đưa về cho trạng. Trạng mới phong cho chuột chức hương cống. Cái tên chuộc cống vì thế mới ra đời.

Biết  lòng dạ vợ rồi,  Trạng quay vào đám cưới xin ăn.  Đình trưởng chỉ cho miếng xương trâu.  Trạng bằng lòng nhận.  Có hai người chị vợ nhìn thấy Trạng,  nghi nghi hoặc hoặc,  tưởng nhớ đến Tống Trân nên thương hại đem cho xôi thịt,  liền bị họ hàng chửi mắng.  Trạng xuống chuồng trâu thử mẹ, giả làm thấy bói báo trước cho bà biết chỉ nay mai là con bà về. Sau đó trạng lại giả vờ ngồi bén đường, hát nghêu ngao chúc cho đình trưởng quan sang vợ đẹp. Đình trưởng nở mũi, gọi Trạng vào khen ngợi. Nhưng trưởng giả lại quát mắng đuối ra.

Trạng trở ra, trút lốt ăn mày, đem quân vây bắt. Cả đám cưới hốt hoảng chạy tán loạn. Vợ  chồng  trưởng  giả  ra  xin  chịu  tội,  tìm  cách  chối  quanh.  Trạng  ra  lệnh  phá  nhà  tên  Đình trưởng,  bắt  hắn cạp khúc xương trâu suốt  ba ngày,  bố vợ thì  hạ phục,  chỉ để tang một  năm. Làng nước ai tham gia vụ cưới đều bị phạt vạ. Họ kêu nài van vỉ Trạng mới tha cho. Mẹ con vợ chồng Tống Trân lại được xum vầy sung sướng.

Trạng làm quan được vua yêu mến. Nhân hoàng hậu bị bệnh, vua sai Trạng đi săn hươu kiếm thuốc. Nhờ vậy, Trạng mới được gặp công chúa Bạch Hoa. Nguyên nàng công chúa này, từ ngày Trạng về nước rất là thương nhớ, nằng nặc xin vua cho cho vượt biển theo chàng, không ngờ thuyền ra đến biển gặp bão,  công chúa bị dạt  vào rừng,  ngày ngày nhờ hươu nai kiếm quả nuôi sống. Trạng săn hươu, gặp nàng đem về trình bày mọi chuyện với vua. Vua cho vợ chồng đoàn tụ. Cúc Hoa và Bạch Hoa nhường nhau, không ai chịu làm vợ cả. Tống Trân phải mở cuộc thi. Đầu tiên, thi may áo rồi thi làm bánh, hai nàng đều không ai chịu kém ai. Trạng lại bày cuộc thi nấu cơm. Bấy giờ họ mới bị lúng túng, Trạng đi qua liền nhắc Cúc Hoa kinh nghiệp nấu ăn hồi xưa nuôi mẹ nuôi thầy, Cúc Hoa nấu cơm chín trước, được giữ địa vị chính thất. Gia đình từ đây thuận hòa vui vẻ.

Câu chuyện Tống Trân theo lời kể trong nhân dân và theo chuyện nôm chỉ có thế. Nhưng sách Thần tích còn chép thêm: Cúc Hoa không có con, đau bụng chết ngày 3 tháng 3. Tống Trân chôn cất vợ rồi ở nhà không làm quan nữa, mở trường dạy học, sau bị chứng mã đao mất ngày 5 tháng 5 năm Tân Hợi. Vua sai quan là Nguyễn Đình Hy đưa sắc về làng, tôn là “thượng đẳng tối linh phụ quốc đẩu nam Tống Trân đại vương”, hàng năm tháng 2, tháng 3 đều tế lễ. Các năm Tự Đức thứ 3, rồi thứ 33. Đồng Khánh thứ 2, Duy Tân thứ 3, Khải Định thứ 9 đều có sắc phong.

Cho đến nay, giới văn bản học vẫn chưa xác minh được thời điểm ra đời của truyện nôm Tống Trân, nhưng tài liệu thu lượm được về câu chuyện Tống Trân thì khá nhiều. Sách Nam sử tập biên, quyển 2 (ký hiệu TVKH A12) do Vũ Văn Lập soạn, Cao Xuân Dục đề tựa, ghi rõ Tống Trân sống dưới đời Trần Thái Tông, tám tuổi đỗ Trạng Nguyên, có làm văn đuổi hổ các sách Thần tích huyện Phù Cừ  (AE.A3),  Thần tích tỉnh Hưng  Yên (Q.  4018  (12),  lại nói Tống  Trân sống dưới thời triều Lý Nam Đế,  v.v…  ở địa phương,  văn miếu thôn Xích Đằng xã Lam Sơn, huyện Kim Động có thờ Tống Trân. Cúc Hoa cũng được thờ, vì cả hai vợ chồng đều được các triều đại phong thần. Hiệu là Tống Trân đại vương và Phù Anh công chúa. Ở địa phương, còn gọi Tống Trân bằng cái tên nôm na thân thiết: “Quang Trạng Gầu”. Sự tích Trạng Gầu cũng được đăng lên báo Nam Phong từ số 159, năm 1931. Thơ và câu đối về Tống Trân cũng khá nhiều.  Tuy nhiên vẫn chưa thể quyết  đoán về sự thực lịch sử.  Trong khi đó,  truyện nôm Tống Trân, Phương Hoa, Từ Thức, Hồng Hoa, hoàn toàn là đề tài Việt Nam. Có lẽ ở một giai đoạn nào đó trong lịch sử ta,  đã có câu chuyện thực của một  thanh niên có chí,  có người vợ hiếu nghĩa được bà con ca ngợi.  Từ đó,  nhân dân thêm bớt,  dựng thành một  truyện cổ tích.  Dựa trên cổ tích ấy, tác giả khuyết danh dựng thành truyện nôm. Truyện được lưu hành sâu rộng đến mức các nghệ nhân hát rong thời xưa đã sử dụng ở khắp vùng quê, kẻ chợ.

Giới nghiên cứu hầu như đã nhất trí với nhau về nội dung, ý nghĩa của truyện Tống Trân. Đó là một câu truyện ca ngợi mối tình chung thủy, tố cáo hiện thực xã hội phong kiến xấu xa, chỉ trích thói ham danh lợi, ích kỷ và tàn bạo. Đồng thời, tác phẩm cũng đã biểu thị lòng tự hào dân tộc và nguyện vọng hòa bình hữu nghị giữa hai nước Việt Trung. Có thể nói cụ thể hơn, truyện Tống Trân đã vạch trần tính chất phản động của chế độ gia trưởng phong kiến. Truyện cũng nêu cao cuộc đấu tranh tất thắng của các nạn nhân trong chế độ ấy. Những con người như Tống Trân, Cúc Hoa đã chiến thắng mọi trở lực bằng phẩm chất, bằng cuộc sống sáng ngời của họ. Điều rất có ý vị của truyện là sự đấu tranh thắng lợi này, không hề có nguyên nhân ở sự giúp đỡ huyền bí của trời Phật (những chi tiết nhờ hổ đưa thư, chuột cống trộm vàng không đáng kể), mà hoàn toàn do ở ý chí và trí tuệ con người. Cũng khác với nhiều truyện nôm, truyện Tống Trân không hề viện đến những lẽ tuần hoàn báo ứng, hay lẽ sắp đặt gì của tạo hóa. Không có những câu thơ nào trong truyện lại nhắc đến ý này. Hơn nữa, chất dân gian của truyện lại rất đậm. Nhưng cuộc đấu trí của Tống Trân ở nước Tần, cuộc thi tài nữ công giữa hai bà vợ Trạng, những sự trừng phạt kẻ ác, v.v… đều hết sức dân dã. Đó là những nét hiếm trong cả kho tàng truyện nôm.

Về mặt nghệ thuật, đã có ý kiến rằng truyện Nôm này “nghèo hình ảnh, bố cục lỏng lẻo, tiêu chuẩn nghệ thuật  không theo kịp tiêu chuẩn tư tưởng,  v.v…”.  Sự thực đúng như vậy.  Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số điểm khác. Tác phẩm vẫn có nhiều chỗ làm nổi bật được hai tuyến tính cách song song, đối lập, bằng cách chọn được sự việc, hành động của mỗi phe chính nghĩa, phi nghĩa qua các nhân vật đại diện. Vài chi tiết sắp đặt như mở đầu truyện và kết thúc truyện vẫn hiện ra hình ảnh một kẻ ăn mày (lúc đầu là thật, sau là giả), v.v… Không phải là chuyện tình cờ, mà có thể giúp cho việc đánh giá nghệ thuật của tác giả khuyết danh một cách đúng mức hơn.

Văn bản truyện Tống Trân từ trước đến nay đã được công bố nhiều lần. Hiện có các bản sau đây:

a.  Chữ Nôm:

  1. Tống Trân tân truyện, Quảng Thịnh đường,  Duy Tân thứ 8 (tức là năm 1914,  ký hiệu TVKH TW: AB 217).
  2. Tống Trân tân truyện ở Thư viện Viện Sử học, ký hiệu HV 352, không còn tên nhà tàng bản (vì bị rách), nhưng còn ghi năm xuất bản: Khải Định Kỷ Mùi (tức là năm 1919).
  3. Tống Trân tân truyện, cũng ở Thư viện Sử học, ký hiệu HV 304. Bản này rách mấy tờ đầu, không rõ nơi và năm xuất bản.

b.  Chữ quốc ngữ:

Các bản quốc ngữ có khá nhiều. Chúng tôi chỉ chú ý đến 3 bản.

  1. Tống Trân Cúc Hoa diễn ca, Phúc Chi xuất bản, không đề năm tháng (nhưng xem cách in thì có thể ra đời trước 1930) ký hiệu TVKH,
  2. Tống Trân: Phổ thông, Hà Nội 1957. Bảng này do Nguyễn Việt Hoài hiệu đính và chú thích. Lời mở đầu nói rõ là đã “sưu tầm nhiều quyển, chọn lấy một bản tương đối đúng nhất”. Song lại không nói nhiều quyển là những quyển nào.
  3. Tống Trân: Cũng nhà Phổ thông, Hà Nội xuất bản lần thứ 2 năm Bản này là do Hoa Bằng hiệu đính. Hoa Bằng chưa rõ là ông dựa theo bản chữ Nôm do Quảng Thịnh Dường xuất bản năm Kỷ Mùi 1919 (tức là bản HV 352 nói trên).

Nhận xét, so sánh tất cả các bản trên đây, chúng tôi thấy tất cả các bản sao quốc ngữ đều giống nhau,  không có sự dị biệt  nào đáng kể.  Các ông Hoa Bằng,  Việt  Hoài có nói là đã làm việc hiệu đính. Nhưng khi ghi rõ những chi tiết hiệu đính ấy ở câu nào, so với các bản chưa hiệu đính ra  sao.  Hầu hết  các  bản đều giống  với  bán năm  Kỷ  Mùi  (1919)  của  Quảng  Thịnh đường và bản Phúc Chi (Q.8o417).

(Riêng có bản Quảng Thịnh đường năm Duy Tân thứ (Ất  Mão) 1914,  là nhiều chỗ khác.

Phần văn bản sau đây, bạn đọc sẽ thấy rõ).

Cân nhắc tình hình trên, chúng tôi chủ yếu sử dụng các bản đánh số:

  • Bản A: bản AB 217 (Quảng Thịnh đường 1914) ở Thư viện Trung Ương.
  • Bản B: bản HV 352 (Quảng Thịnh đường 1919) ở Viện sử họ
  • Bản C: bản quốc ngữ (Phúc Chi – ký hiệu 8o417).

Văn bản được sử dụng chính thức là hai bản B, C. như trên đã nói, thật ra hai bản này (một nôm, một quốc ngữ) hoàn toàn giống nhau, và cũng giống các bản của Hoa Bằng và Việt Hoài. Mặc dầu so với bản AB 217 (xuất bản năm 1914) hai bản này có niên đại ra đời muộn hơn, nhưng văn chương có phần thông suốt và hợp lý hơn. Mặt khác, trong nhân dân cho đến ngày nay, những người còn thuộc truyện nôm Tống Trân ít nhiều, đều gần gũi sử dụng theo cả năm bản quốc ngữ và bản chữ nôm đã ké.

Bản A, tức là bản AB 217 ra đời sớm hơn, lời văn mộc mạc thô sơ hơn, có thể cũng là một bản cần tham khảo, chúng tôi sẽ dùng để làm khảo dị. Trong hoàn cảnh hiện tại, chưa tìm được văn bản Tống Trân nào cổ hơn, cách làm như vậy có lẽ là hợp lý, không gây ngỡ ngàng cho bạn đọc lâu nay đã làm quen với truyện nôm này.

1. Lược bày đời vua Thái Tông,
Trị vì thiên hạ tây đông thuận hòa.
Có người ở huyện Phù Hoa,
Gần nơi Cửa Luộc, đấy là Kinh Nông ,
Nhà giàu cự phú hòa phong,
Điềm hùng chưa ứng còn mong phước trời,
Tháng ngày cầu khẩn các nơi,
Đúc chuông tô tượng đều thời cúng luôn.
Khó nghèo chẳng quản thiệt hơn,
10. Của đem làm phước làm duyên sạch làu.
Lòng thành thấu đến thiên tào,
Sai Văn Xương xuống kíp vào đầu thai.
Vợ thì tuổi đã sáu mươi.
Trai già may lại gặp hồi nấy châu.
Thoi đưa thấm thoát chẳng lâu,
Thời kỳ mãn nguyệt gặp đầu thai sinh.
Một trai tuấn tú tốt lành,
Khôi ngô rạng vẻ văn tinh khác đời.
Vợ chồng mừng rỡ hôm mai,
20. Nâng niu bú mớm chẳng rời tấc gang,
Đặt tên là Tống Trân lang,
Mai sau hương hỏa từ đường dài lâu.
Ai hay tạo hóa cơ cầu,
Có con hết của thêm đau tấm lòng,
Tống Trân số phận long đong,
Lên ba bỗng bị nhà thông chầu trời.
Mẹ già con bé thương ôi,
Kém bề no ấm, ngậm ngùi xót thay.
Xin ăn đắp đổi qua ngày,
Độ thân rau cháo qua ngày nuôi nhau.
Gặp cơn đói khổ thảm sầu,
Bốn phương đói kém đâu đâu mất mùa.
Lão bà nước mắt như mưa,
Con thơ mẹ yếu, bây giờ cậy ai.
Tống Trân than thở ngậm ngùi,
Kìa như chim quạ, kiếm mồi nuôi con,
Đến nay con đã lớn khôn,
Mẹ già con lại nhớ ơn đền bồi.
Huống chi ta lại là người
Khi nay chẳng được, vậy thời khi nao,
Nghĩ thôi, nước mắt tuôn trào,
Tháng ngày dắt mẹ rêu rao ăn mày.
Đường trường cách trở nước mây,
Một mình dắt mẹ xin rày dặm xa.
Một ngày giã huyện Phù Hoa,
Tới nơi An Phủ đó là Sơn Tây,
Nghe tin trưởng giả gần đây,
Cửa nhà phong phú đông tây tiếng đồn.
Thẩn thơ một mẹ một con,
Cùng nhau tới đó nỉ non ân cần.
Nỗi thương kể lể xa gần,
Lạy người mở lượng từ nhân ơn nghì,
Dám xin bố thí một khi,
Gọi là cứu kẻ lạc thì đường xa.
Quê tôi ở huyện Phù Hoa,
Gần nơi cửa Luộc, đó là Kinh Nông,
Cha già khuất bóng mấy đông,
Nay còn một mẹ tuổi cùng bảy mươi,
Cúc Hoa nghe thoảng vào tai,
Rời chân sẽ ngó song mai thử nhìn,
Thấy người nét mặt lành hiền,
Động lòng mới trở gót sen vào nhà,
Lấy một đấu gạo đem ra,
Gọi là cứu giúp cho nhà bồ côi.
Qua song gạn hỏi mấy lời,
Chẳng hay quê quán nhà người ở đâu.
Hãy xin kể hết tình đầu,
Thấy chàng tôi cũng xót đau cho chàng.
Tống Trân nước mắt hai hàng,
Xin người chớ hỏi tôi càng xót xa
Quê tôi ở huyện Phù Hoa,
Bồ côi từ thuở lên ba đến rày.
Cơ hàn đã tám năm nay,
Tôi phải dắt mẹ ăn mày độ thân,
Tự tình chưa hết phân vân,
Vừa khi trưởng giả dạo chân về nhà,
Thấy người thất nghiệp phương xa,
Cùng con trò chuyện lân la giãi lòng.
Cơn đâu nổi giận đùng đùng,
Đòi ba con gái vào trong dạy lời.
Sinh con mong sánh đáng nơi,
Trao tơ phải lứa, chọn người kết hôn.
Thiếu gì chức trọng quyền môn,
Hay đâu chăng đẹp lòng con sánh bày,
Còn nay một đứa ăn mày,
Thôi tao cũng gả cho mày tiếc chi,
Nói rời đòi đứa tùy nhi,
Bay ra gọi nó tức thì vào đây.
Đôi hầu vâng mệnh dám chầy
Hỡi chàng nam tử, vào ngay ông đòi.
Lão bà kinh hãi bồi hồi,
Ôm con mà khóc rụng rời chân tay.
Con ơi sao có sự này,
Đói no con ngửa bàn tay xin người.
Hay con gian giảo của ai,
Sinh lòng trộm cắp nên người đòi con.
Tống Trân nghe nói kinh hồn, 
Ôm mẹ mà khóc ồn ồn thương thay.
Con còn bé dại thơ ngây,
Đói thời con chịu dám thay tấm lòng.
Mẹ ngồi đây hãy thong dong,
Con vào xem thử vân mòng làm sao.
Nói thôi rảo gót theo vào,
Nhác trông ba ả má đào ngồi trong.
Giường ngà, chiếu ngọc bóng lồng,
Trên thời trưởng giả thị hùng ghê thay.
Roi song một cái cầm tay,
Hỏi rằng quê quán nhà mày ở đâu.
Cửa nhà điền địa ra sao,
Thời mày phải nói tiêu hao gót đầu,
Anh em thân thích nơi đâu,
Mẹ cha nghề nghiệp trước sau làm gì,
Tống Trân nét mặt sầu bi,
Trước sau miệng gửi chân qùi thưa qua.
Nhà tôi ở huyện Phù Hoa,
Bồ côi từ thuở lên ba đến rày.
Phong trần đã tám năm nay, 
Tôi phải dắt mẹ ăn mày khắp nơi,
Anh em chẳng có một ai,
Một mình lần nữa kiếm nuôi mẹ già,
Phú ông nghe nói xót xa,
Bảo con này thực, đuốc hoa chồng mày
Chị Hằng khen khéo xe dây,
Gieo cầu kết chỉ sự này tại con.
Nhân duyên thôi đã vẹn tròn,
Tơ hồng sớm liêu nghênh hôn chọn ngày.
Trăm năm kết tóc từ đây,
Thôi thì sính lễ liệu ngày sửa sang,
Liền cân cho hai lạng vàng,
Trâu bò làm cỗ cho làng no say.
Ăn cưới vừa được ba ngày,
Đòi con trưởng giả giãy bày gần xa.
Áo quần con gửi lại cha,
Thôi thì chịu khó về nhà làm dâu.
Cũng toan cho gả chồng giàu,
Lòng con đã đẹp trước sau chớ nề.
Cúc Hoa biết ý khôn chê,
Lạy cha cùng mẹ tỉ tê giải lòng,
Từ rày con về nhà chồng, 
Duyên ưa phận đẹp thỏa lòng bấy nay,
Thâu đêm chẳng lo thây ngày,
Đôi hàng nước mắt chảy ngay ròng ròng.
Nửa đêm tới chôn loan phòng,
Chàng ơi thức dậy tấm lòng xin thưa,
Thiếp mười ba tuổi còn thơ,
Chàng thì lên tám, mẹ vừa bảy mươi.
Mẹ chàng xem bằng mẹ tôi,
Sơm khuya mặc thiếp dưỡng nuôi lệ gì.
Ngày nay mới lấy nhau về,
Đói no thiếp cũng yên bề cho xong.
Nuôi mẹ hiếu thảo một lòng,
Lạy trời phù hộ vợ chồng tôi nay.
Ông tơ sớm đã xe dây,
Xin cho kết tóc được rầy nghìn đông.
Cơm thì để nuôi mẹ chồng,
Hiếu kính một lòng trời đất xét cho.
Muối dưa chẳng quản đói no,
Khuyên chàng đèn sách để hồ làm nên.
Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền,
Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.
Khó nghèo có mẹ có con,
Ít nhiều san sẻ vẹn tròn có nhau.
Lòng son nhường nhịn bấy lâu,
Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng.
Cúc Hoa nước mắt hai hàng,
Lạy mẹ cùng chàng chớ quản tôi chi.
Gọi là cơm tấm canh lê,
Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng.
Chàng ăn cho sống mình chàng,
Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là
Kể chi phận thiếp đàn bà,
Khó hèn chớ quản nỗi nhà thảm thương.
Thương con mẹ dấu cho vàng,
Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.
Cúc Hoa trong dạ đinh ninh,
Lạy mẹ còn có chút tình thương con.
Tức thì trở lại phòng môn,
Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng.
Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,
Này vàng mẹ thiếp cho ròng một chương,
Kế đoạn Cúc Hoa bán vàng, 
Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người,
Hai bên giá cả hẳn hoi,
Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.
Cúc Hoa trở lại thư trai,
Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.
Thiếp xin rước một ông thầy,
Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi.
Một ngày ba bữa chẳng rời,
Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.
Nàng thời nhiều ít cũng xong,
Đói no chẳng quản, khuyên chồng làm nên.
Khấn trời lạy bụt đòi phen,
Chúng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.
Khuyên chàng khuya sớm hôm mai
Cố chăm việc học đua tài cho hay.
Một mai gặp hội rồng mây,
Bảng vàng may được tỏ bày họ tên.
Trước là trả nợ bút nghiên,
Sau là thiếp cũng được yên lòng này.
Khen chàng họ Tống giỏi thay,
Ngũ kinh chư sử qua tay thuộc lòng. 
Học vừa được nửa năm ròng,
Đức vua có chiếu cửu trùng ban ra.
Chiếu truyền phủ huyện gần xa,
Đâu đâu chuẩn thứ mớ khoa kén tài.
Chàng nghe thi cử tới nơi
Hỏi nàng tiền bán vàng thời còn không.
Cúc Hoa mới nhủ cùng chồng,
Trình chàng quân tử xét cùng cho nao.
Bán vàng nào có là bao,
Ăn không núi cũng ngày hao một ngày,
Tiền thì tiêu hết trắng tay,
Gạo còn vài đấu để nay nuôi chồng,
Thiếp còn một tấm yếm hồng,
Bán làm hành lý giúp công ăn đường.
Thiếp thì dạ điểm hơi sương,
Quản chi những nỗi đoạn trường đâu anh.
Tống Trân nghe thấy sự tình,
Cầm tay lệ ứa, giãi tình khi nay;
Đói thì anh sẽ ăn mày,
Để yếm nàng mặc kẻo nay xấu nàng.
Xưa nay vẫn có ví rằng,
Nam tu nữ nhũ tài năng ai tày.
Các người bạn học khi nay, 
Thầy thầy tớ tớ từng giây lên đường.
Nghĩ chàng họ Tống mà thương.
Tiền gạo chẳng có, ăn đường khôn xoay.
Cúc Hoa riêng chạnh niềm tây,
Về nhà trưởng giả trình bày vân vi.
Chồng tôi sắm sửa đi thi,
Cha sao chẳng xót bù trì với nao!
Nữa mai đi đỗ quan cao,
Vinh qui bái tổ bước vào lạy ai.
Phú ông khi ấy trả lời:
“Vinh qui phú quí thì ngươi ăn nhiều.
Chớ điều danh vọng nhử trêu,
Bảng vàng cũng mặc, võng điều cũng thây”.
Cúc Hoa thảm thiết lắm thay,
Tức thì trở lại phòng tây than rằng:
Trời ơi có thấu tình chăng,
Xin trời phù hộ cho chồng tôi sang”.
Xót thay họ Tống lên đường,
Túi thơ một bánh vai mang chân trời,
Đường trường cách trở xa khơi,
Đến thành vua Việt là nơi kinh kỳ,
Năm nghìn cống sĩ vào thi, 
Đua nhau trận bút ai thì nhường ai.
Các quan giữ cửa đô đài,
Lấy tiền nộp quyển của người nặng thay.
Ai có tiền nộp vào đây,
Thì cho qua cửa trường này hành văn.
Ai mà chẳng có kim ngân,
Người đánh người đuổi khôn phân lẽ nào.
Tống Trân nước mắt tuôn trào,
Tôi nay đói khát xin vào hành văn.
Tống Trân từ thuở dời chân,
Cúc Hoa hương đốt kể gần nghìn đôi.
Lạy trời phù hộ chồng tôi,
Vào thi chiếm được tam khôi bảng rồng.
Trước là cho đẹp mặt chồng.
Sau là phận gái có công nuôi thầy.
Bừng bừng vừa mới rạng ngày,
Bảng vàng choi chói treo ngay cửa đền.
Năm nghìn cống sĩ xem tên,
Kề vai thích cánh cửa đền chen nhau.
Tống Trân ngồi ở bên lầu,
Hai hàng nước mắt nhuốm thân ròng ròng,
Đương khi rét cật đói lòng,
Tài non sức yếu vẫy vùng sao đây?
Biết rằng có đậu khoa này,
Ta mà chen nó, nó rày xô ta.
Đợi sau xem bảng những là,
Nhược bằng chẳng đậu thời ta trở về.
Tốt thay dòng chữ son phê,
Bảng vàng đệ nhất tên đề Tống Trân.
Năm nghìn cống sĩ tần ngần,
Cửa trường hội thí xa gần hồi qui.
Tống Trân xem được tên đề,
Tỏ tài cống sĩ nam nhi tiếng truyền.
Vua cho sứ hiệu Trạng nguyên,
Cho trẫm biết mặt biết tên bằng lòng
Trạng nguyên quỳ tấu đền rồng,
Mình trần trùng trục hãi hùng vội thưa
Trình lên ba tiếng tung hô,
Chúc vua vạn tuế thiên thu thọ tràng.
Vua đang ngự trị đền vàng,
Trông thấy mặt Trạng lòng càng thương thay.
Trạng nguyên mới đậu khoa này,
Gấm ban cho Trạng để may bây giờ.
Vua liền lấy áo ban cho,
Rõ ràng một bức gấm hoa vinh hồi. 
Đầu hoa mão, gót hán hài,
Vua liền hỏi Trạng muốn bài trao đây.
Trẫm có Công chúa tốt thay,
Tuổi vừa đôi tám cũng tày Trạng nguyên.
Trẫm mong kết chỉ xe duyên,
Đương triều văn võ đôi bên bằng lòng.
Trạng nguyên quì tấu đền rồng,
Chúc lên ba tiếng cửu trùng thiên thu.
Con vua nhật nguyệt phong tư,
Tôi là hàn sĩ học trò sao nên.
Xem tình vua chẳng ép duyên,
Ban yến nội điện cho liền xem hoa.
Trở về bái tổ quê nhà,
Năm mươi kiếm bạc, kiệu hoa chỉnh tề.
Trạng nguyên ngựa cỡi dù che,
Bảng vàng phỉ chí, nam nhi thỏa lòng.
Có người chẳng đậu vừa xong,
Về nhà mách bảo phú ông nhời này.
Ông giàu lại có phúc thay,
Rễ ông ngày rày, thi đậu tam khôi.
Trước là có phúc muôn đời, 
Sau là mồ mả táng nơi hàng rồng.
Phú ông nghe nói mừng lòng,
Gọi nàng lại báo tin chồng mừng sao.
Chồng mày thi đỗ quan cao,
Bây giờ mới thực rể tao từ rày.
Cúc Hoa lăn khóc bấy chầy,
Lạy cha chớ mỉa con rày làm chi.
Có đậu chồng con sẽ về,
Nhược bằng chẳng đậu con đi ăn mày.
Cúc Hoa trở lại phòng tây,
Ôm mẹ mà khóc lòng này kể ra.
Chồng tôi chẳng đậu khôi khoa,
Làng nước ở nhà lắm kẻ cười chê.
Ví dù chẳng có tên đề,
Lấy gì nuôi mẹ sớm khuya trong nhà?
Ai ngờ mới sớm ngày ra,
Có quan sứ giả người hòa tới ngay.
Hỏi thăm là chốn Sơn Tây,
Là quê vợ Trạng chúng bay dọn đường.
Trạng nguyên tên chiếu bảng vàng,
Vinh qui bái tổ, tên chàng Tống Trân.
Cúc Hoa mừng rỡ muôn phần, 
Mẹ con ta hẳn nên thân từ rày.
Bõ công tốn kém nuôi thầy,
Bây giờ cỡi ngựa phen này làm nên
Mẹ thì trăm tuổi đã yên,
Sinh con báo bổ cũng nên tấm lòng.
Tôi thì phận gái làm xong,
Phẩm vua lộc nước nhờ chồng vinh hoa.
Nói đoạn Trạng nguyên về nhà,
Vua ban khi ấy quan gia nghìn người.
Đến nhà xuống ngựa thư trai,
Cúc Hoa nước mắt tả tơi hai hàng.
Phúc nhà thi đậu bảng vàng,
Vinh qui bái tổ nay chàng lạy ai.
Phú ông nghe nói ngỏ lời,
Lấy chồng thế vậy ơn trời nên danh.
Xưa kia cha chẳng trái tình,
Cho nên con được hiển vinh muôn phần;
Cúc Hoa tủi thẹn tần ngần,
Cha sao chẳng sợ quỉ thần xét soi.
Cha xưa hắt hủi chúng tôi,
Bây giờ chễm chệ lên ngồi sao yên,
Đỉnh đầu hổ có hoàng thiên,
Làm người cần khổ mới nên thân người.
Phúc nhà thi đậu tam khôi,
Dù che ngựa cỡi hơn người vinh hoa.
Thoắt thôi vợ chồng hồi gia,
Phòng loan gối phượng đuốc hoa sánh bày.
Kể đoạn Công chúa chương đài,
Chẳng lấy được Trạng sánh vai làm chồng.
Bước vào tâu vua cửu trùng,
Trạng nguyên tình phụ mình rồng tóc mây.
Trạng về bái tổ chớ chầy,
Đã đậu thì bắt đi đày cho xa.
Đường đi ba tháng sơn hà,
Được mười đông trọn hãy tha cho về.
Vua nghe Công chúa nhiều bề,
Sai hai sứ giả tức thì đòi ngay.
Vợ chồng thấy sứ mừng thay,
Nghĩ đã lâu ngày vua nhớ triệu ra.
Làm yến thết sứ trong nhà,
Sứ ăn chẳng được nói ra lời này:
Ông ơi tôi thương ông thay,
Chiếu vua thượng vị cho ngay về đòi.
Thương ông chẳng nói ra lời,
Hãy xem chiếu chỉ ông coi dữ lành.
Trạng nguyên lĩnh chiếu triều đình, 
Giở ra mà đọc tâm tình xót thay.
Ôm lấy mẹ già khi nay,
Mẹ ơi có biết sự này khúc nhôi.
Nghĩ rằng thi đậu tam khôi,
Cho mẹ được cậy, vợ thời được trông.
Ai ngờ chiếu của cửu trùng,
Bắt con đi sứ mười đông sẽ về.
Mẹ ơi thương mẹ nhiều bề,
Lấy ai phụng dưỡng sớm khuya gia đình,
Ở nhà cậy có vợ lành,
Kể sao cho hết tâm tình khúc nhôi.
Bước đi để mẹ ai nuôi,
Thân già bóng chếch bảy mươi tuổi tròn.
Vợ thời còn trẻ chưa khôn,
Thất trinh thất hiếu tiếng đồn chẳng hay,
Cúc Hoa nghe nói lời này
Than rằng gặp sự tai bay bất kỳ,
Chàng ơi lên ngựa ra đi,
Đế thiếp dắt mẹ ở thì nơi nao.
Xưa nay sum họp có nhau,
Bây giờ mưa nắng biết hầu cậy ai.
Một mình vò võ trang đài, 
Chàng đi khuya sớm lấy ai hầu chàng.
Vợ chồng đồng tịch đồng sàng,
Anh giã ơn nàng nuôi mẹ anh đi,
Làm trai anh chẳng quản chi,
Sống thác vậy thì phải trả ơn vua.
Mới là nam tử trượng phu,
Mặc dầu số phận em lo ngại gì.
Khuyên nàng ở cho có nghì,
Mẹ già nuôi trọn đến kỳ mười đông.
Sống thì anh sẽ về cùng,
Dẫu khi thác xuống vợ chồng xa nhau.
Mẹ già dầu có về chầu,
Thì nàng táng ở đằng sau, mộ phần,
Một mai về chốn hương lân,
Trông thấy mộ mẹ nhớ ân nghĩa nàng,
Nói thôi Trạng nguyên đi đường,
Cúc Hoa cầm lấy dây cương than rằng:

Khấu đầu trăm lạy, khấn hết thiên tri, địa tri, Quan Âm Đức Phật, phù hộ chồng tôi đi sang Tần quốc, mười đông lại về. Trách nàng Công chúa, ngọc ghét vàng ghen, lòng ở chẳng hiền, trời Phật chứng quả.

Than ôi dóng ngựa lên đường.
Mấy ngày trải những dặm đường núi khe.
Tiếng quyên như giục đêm hè,
Vì ai nên nỗi biệt ly cửa nhà.
Tháng ngày vó ngựa xông pha,
Sang đến Tần quốc thành hà nghênh ngang,
Vua Tần nghe thấy Trạng sang,
Triệu mười tám nước viễn bang hội đồng
Chiếu hoa trải khắp sân rồng,
Cờ bay bươm bướm cắm dong ba ngày.
Đồn rằng có Trạng sang đây,
Cùng mười tám nước đi rày cho vui.
Kể từ Trạng sang tới nơi,
Tình cờ lại gặp hai người xưa kia.
Hai ông nước Tống, nước Tề,
Trạng nguyên Nam Việt đều thì cũng sang.
Tần vương chỉ phán đền vàng,
Bay đào một hố giữa đàng sâu thay.
Sâu hơn một trượng chớ chầy,
Chiếu hoa rải khắp đặt bày lên trên.
Bay ra rước Trạng vào đền,
Trạng nguyên Nam Việt đi bên đường hè.
Giữa đường để chánh sứ đi,
Trạng An Nam tiểu quốc đi về một bên.
Hai ông chánh sứ bước liền,
Đều sa xuống hố nhãn tiền cả hai.
Trạng nguyên bước qua chẳng dời,
Tần vương nhác thấy khen người anh hào.
Vua Tần chỉ phán thấp cao,
Gạo rang làm bột cho ta chớ chầy.
Đắp làm ba tượng khi nay,
Giã làm ông bụt bánh rày chè lam.
Chùa thì ba gian mới làm,
Có ba ông bụt chè lam thếp vàng.
Có ba ấm nước bày hàng
Ấm nào ấm nấy nắp vàng đậy trên
Bay ra rước Trạng vào đền,
Bắt Trạng vào hãm ở trên chùa này,
Đừng cho ăn uống chi nay,
Sống được mười ngày trẫm gả con cho,
Sứ Ngô rước Trạng vào chùa,
Liền đóng cửa lại, sứ Ngô ra về.
Lính hầu lăn khóc ngã kề,
Ông định ăn gì sống được mười ngày,
Chùa thì quét sạch đông tây, 
Dễ mà sống được nước này cho no.
Trạng nguyên rằng: bay chớ lo,
Ơn vua mà được ăn no vui lòng.
Nửa đêm giờ tí làm xong,
Đói thì ta ngả tượng ông ra thời.
Lính hầu lăn lóc tả tơi
Ai ăn bụt đất lạ đời nhà ông.
Trạng nguyên cười nhạt nhủ rằng,
Đến cơn đói lòng cho mạnh con trai.
Thầy tớ ngả bụt nằm dài,
Họa phúc mặc trời, bụt về thượng thiên.
Tớ thầy khi ấy ngồi nhìn,
Thấy rõ nhãn tiền(e) những bánh chè lam.
Trạng nguyên cười nói ầm ầm,
Đỡ khi đói lòng cho khỏe dạ ta.
Mười ngày khỏe mạnh cũng là,
Bụt lam ăn hết cả ba làu làu.
Uống ba ấm nước cạn khô,
Sứ Ngô mở cửa để hầu ngó xem.
Sứ Ngô mới trở về đền,
Tâu vua khi ấy: Trạng nguyên người trời!
Đức vua mới phán một lời,
Nào ba ông bụt đầu rời đem ra?
Trạng nguyên đặt gối tâu qua.
“Tâu vua muôn tuổi xót xa lòng này,
Vua tôi lòng chẳng thương thay,
Bắt đi sứ sự cho đầy mười đông.
Ai ngờ vua hãm đói lòng,
Tâu vua cửu trùng bụt đã nhập tâm”.
Tần vương mỉn miệng cười thầm.
An Nam tiểu quốc mưu thần giỏi giang
Tần vương chỉ phán đền vàng,
Trẫm có Công chúa thanh nhàn đẹp thay.
Trẫm có lòng muốn xe dây,
Cũng tày tuổi Trạng, trẫm rày gả cho,
Trạng nguyên nước mắt như mưa,
Tâu rằng: “Muôn đội ơn vua cửu trùng, 
Con vua nhật nguyệt tiên cung,
Con vua ngọc chuốt gương trong họa trò.
Tôi là hàn sĩ học trò.
Tôi đâu dám sánh con vua ngọc lành.
Thấy lời vua chẳng ép tình,
Làm nhà cho ở nội thành một bên.
Ngày thì chầu chực trên đền,
Đêm thời xem sách bút nghiên ai tày.
Tớ thầy ở được mười ngày.
Nhiều khi xuống tắm bến này cầu sông.
Thấy một cô gái giết chồng,
Mua trăm kim sắt để dùng cầm tay.
Nửa đêm chồng uống rượu say,
Kim sào nó giết chết ngay trong nhà.
Sáng ngày gái ấy làm ma,
Hành trang tế lễ đưa ra ngoài đồng.
Gái ấy quì xuống khóc chồng,
Khóc ma trăm tiếng lòng thương ai.
Tiếng khóc như bông hoa nhài,
Chỉ thấy khóc dài chẳng có thấy thương.
Ra đòi gái ấy hỏi tường,
Khóc chồng nghe thấy, như ai thương rày? 
Gái kia quì xuống chắp tay:
Lạy ông quả thực tôi nay thương chồng.
Trạng nguyên mỉm miệng cười thầm,
Gái này giết chồng bắt lấy cho tao.
Quan tài truyền lính đem vào,
Vội vàng làm sớ dân tâu Thành Hoàng.
Tâu vua mọi nỗi tỏ tường,
Từ tôi lên tám vàng sang sứ này,
Nhẽ nào tôi nói chẳng ngay,
Có trời có đất chứng rày cho tôi,
Sai người ra khám túc thời,
Dấu gì chẳng có ở nơi trong mình.
Đủ mặt văn võ triều đình,
Trạng nguyên cầm kéo phân minh xét rày,
Khám đầu thấy dấu tích này,
Cắt quang mái tóc thấy ngay kim sào.
Trạng nguyên làm sớ tâu vua,
Kim sào ấy thực là dao giết chồng.
Tân Vương nghe tấu mừng thầm,
Phong cho lưỡng quốc đền rồng Trạng nguyên.
Vì chưng gái có tình riêng,
Đang tay nỡ giết chồng hiền không thương. 
Tẩm dầu quấn sáp lặm gương,
Đốt đi để khói tuôn lên đến trời.
Tra xong án ấy vừa rồi,
Ba năm lại có một người lái hương.
Ba năm xa vắng bán buôn,
Ở nhà vợ đã buôn buồn cùng trai.
Bạc buôn vừa được trăm hai,
Đi đêm chẳng có một ai gặp rày.
Bạc này ta gửi cành cây,
Cành kia chú giữ bạn này cho tôi.
Sau khi gửi bạc cành rồi,
Lái hương sắm sửa tìm nơi trở về.
Vợ mừng chồng đã gần kề,
Hỏi rằng: buôn bán từ khi đến rày.
Buôn Tần bán Sở bấy chầy,
Ba năm anh lại về rày tay không.
Lái hương nghe nói giận lòng,
Vô tình chàng mới phô sòng nói ra.
Bạc anh đã gửi cành đa,
Trong nhà kín vách, ngỡ là không ai.
Nào hay xã trưởng đứng ngoài,
Căn nguyên nghe hết, tới nơi lấy liền,
Bừng bừng trời mới rạng đông,
Vợ chồng ra đấy đứng trông chẳng còn.
Lái hương nước mắt nỉ non
Thực thà than vãn nguồn cơn ngày rày.
Hôm qua anh gửi cảnh cây,
Ai ngờ oa trữ ra tầy đạo nhân.
Bạc ta gửi một trăm cân,
Ấy ai gian giảo nói lần ra đây.
Nàng về lấy dao ra đây,
Anh dẫn cành này đi kiện chẳng tha.
Lái hương cắt lấy cành đa.
Đem ngay sang kiện bên nhà Trạng nguyên,
Lái hương quì lạy tâu lên,
Xin người tra hỏi căn nguyên việc này.
Của tôi buôn bán bấy chầy,
Được trăm hai bạc gửi rày cành đa.
Chẳng chịu thì nói cho ra,
Ai ngờ cành lại gian hòa chia tang,
Trạng nguyên mới bảo lái hương,
Để ta nghiêm xét hội đồng cho ra.
Trạng nguyên bày mẹo cao xa, 
Đào hầm ở gốc cây đa đêm trường.
Cho người xuống hố sẵn sàng,
Rạng ngày lại đến tra tang đạo tình.
Cho người khảo đả phân minh,
Cây kêu biết mặt rành rành đạo nhân
Tra đi tra lại mấy lần,
Cây đa vẫn cứ khai lần thế thôi.
Trạng nguyên cho người giữ coi,
Đã đem cành kiện, hỏi tường cho ra
Sai người bắt lấy hỏi tra,
Phạt cho kiên ấy tiền hòa năm mươi,
Ngày thời tuân thủ xem coi,
Đêm hôm canh giữ chẳng sai đầu là
Tuần thủ phải nghe lời ta.
Đêm hôm tuần cẩn chẳng sai đâu mà.
Tuần thú vâng giữ cây đa,
Canh giờ cẩn mật để tra kiện này.
Lái hương hầu kiện ba ngày,
Trạng nguyên đòi lại lời này nói ra.
Khảo đánh ngày đã đủ ba,
Nó đà biết mặt, nó đà biết tên.
Lái hương cho về kiếm tiền, 
Mua trâu mà giết kỳ yên lễ thần.
Lại tế tiên tổ ân cần,
Mời khắp làng nước cỗ bàn no say.
Bao nhiêu con chó nhà mày,
Hiển thì buộc lấy, dữ rày thả ra.
Dù ai người có đến nhà,
Chó mừng quen mặt bắt ra nộp rày.
Lái hương về mua trâu ngay,
Giết đi làm cỗ để nay mời làng.
Mời khắp thân thích họ hàng,
Mời khắp làng nước mấy bàn con trai.
Đến tuần xã trưởng thứ hai,
Ba năm chó đã quen hơi chó mừng.
Vào vừa mới đến ngoài sân,
Người nhà bắt lấy kêu ầm trói gô.
Bắt ra khảo đả bấy giờ,
Trạng nguyên xem thấy mưu mô nực cười.
Xã trưởng kia hỡi chú ơi,
Lấy của sao chẳng chia đôi cho cành.
Cành kia đã thú phân minh.
Xã trưởng nó lấy, xưng danh tức thì.
Xã trưởng biết tội liền quì,
Lạy ông tôi thấy đêm khuya vắng người.
Bạc thời có một trăm hai,
Hãy còn vẻn vẹn chẳng sai đồng nào.
Thực tôi không dám tơ hào,
Nói xong liền nộp bạc vào chẳng sai.
Mới hay quan Trạng anh tài,
Kiện cành được của, còn ai sành bày.
Người kiện mà tra cành cây,
Làm cho đạo tăc sợ nay quá chừng.
Nọ mười tám nước biết tường,
Tần Vương thưởng Trạng bạc vàng nhiều thay,
Ở Tần được bảy năm chầy,
Ở nhà bố vợ lòng rày bất nhân.
Nửa đêm vắng vẻ xa gần.
Gọi vợ thức dậy sự cần phải lo.
Con ta gả chồng học trò,
Hàn vi cơ khổ đã lo mấy hồi.
Ngỡ là thi đậu tam khôi,
Ở nhà vợ được một mai cậy cùng.
Bây giờ sang sứ mười đông,
Âu là tìm kẻ tin dùng Cúc Hoa.
Ngày sau có trở về già,
Một mai có kẻ vào ra tớ thầy.
Chồng con thác đã lâu ngày,
Con còn chực tiết phòng tây làm gì.
Nghe cha định liệu một khi,
Mai sau phú quí con thì được trông.
Dại gì chầu chực mười đông,
Tội gì nuôi lấy mẹ không cho người.
Cúc Hoa nói chẳng ra lời,
Vật mình than khóc thương ôi hỡi chàng!
Cùng nhau đã bảy đông trường,
Ai ngờ phân rẽ thiếp chàng lìa đôi.
Phú ông nổi giận bời bời,
Khuyên con chẳng được lòng thời xót thay.
Đòi nàng Cúc Hoa vào đây,
Thoi vàng, xuyến bạc của này cha cho.
Tiền trăm bạc chục đầy kho,
Tiếng đồn phủ huyện nhiều đồ tư trang.
Cúc Hoa thổn thức gan vàng,
Vật mình than khóc thảm thương nỗi lòng.
Mình tôi chẳng xứng vóc hồng,
Tay tôi chẳng xứng đeo vòng điểm trang.
Tai tôi chẳng xứng nụ vàng,
Chân tôi chẳng xứng đeo mang hán hài.
Lấy chồng cơm tấm vải dầy,
Sống thời chăn gối, thác rày thủy chung. 
Phú ông, nghe nói thẹn lòng,
Bảo con chẳng được đùng đùng ra tay.
Đóng ba lần cửa kín thay,
Hãm con trong ấy áo rày cởi ra.
Roi song liền để trong nhà,
Cơm ăn chẳng được ngày ba trận đòn.
Cúc Hoa mặt võ xương mòn,
Phần đau cha đánh, phần thương mẹ chồng.
Những toan tự tử cho xong,
Thác đi sợ để mẹ chồng ai nuôi.
Chịu sầu ngậm đắng cho nguôi,
Đôi phúc cùng trời chẳng biết làm sao.
Phú ông dạ tức như bào,
Mẹ chồng cũng bắt hãm vào chuồng trâu.
Áo quần chẳng cho mặc đâu,
Đã bảy mươi tuổi giữ trâu hỡi bà!
Trước thì tôi tủi mình tôi,
Sau là thương mẹ nằm ngồi chuồng trâu.
Lão bà nức nở khuyên dâu,
Con nghe người dạy khỏi đau gan vàng
Chồng giàu hẳn được mình sang,
Họa may mẹ cũng vẻ vang cậy cùng.
Cúc Hoa nước mắt ròng ròng,
Dầu sông dầu thác đợi chồng mười niên!
Nào hay giờ tí nửa đêm,
Cúc Hoa thức dậy mình liền ra đi.
Một mình lên núi Ba Vì,
Chim kêu vượn hót kể chi đường rừng.
Dưới khe nước chảy vang lừng,
Đầu non thăm thẳm khơi chừng ghê thay.
Hồn chàng thác ở đâu đây,
Có thương đón thiếp đi rày mấy nao!
Sơn Tinh nghe tỏ tiêu hao,
Biến ra mãnh hổ hỏa hào năm mươi.
Ầm ầm lừng lẫy trong ngoài,
Hào quang biến hiện mười người hóa ra.
Đến khi ngọn hỏi ngành tra,
Sơn Tinh mới bảo Cúc Hoa lời này.
Chị là con gái đâu đây,
Cớ sao đem thịt cho rày hổ ăn?
Cúc Hoa nước mắt thấm khăn,
Chắp tay quỉ lạy Sơn thần hai bên.
Lạy ông tôi kể sự duyên,
Đoạn ông ăn thịt tôi liền tiếc chi.
Cha tôi trưởng giả nhà quê,
Giàu sang sớm đã sinh thì ba tôi. 
Hai chị lấy chồng hai nơi,
Còn tôi em út ép tôi duyên này.
Gả tôi chồng khó ăn mày,
Chồng thì lên tám mẹ rày sáu mươi.
Tôi mười ba tuổi nữ hài,
Nuôi chồng thi đỗ tam khôi bảng rồng.
Vua sai sứ sự mười đông,
Dặn tôi nuôi mẹ đợi chồng đến khi.
Cha tôi ra dạ bất nghi,
Được bảy năm vẹn bắt về rẽ duyên.
Chẳng nghe đòn đánh ngày đêm,
Tôi chịu chẳng được tôi bèn ta đi.
Thân này sông chẳng làm chi,
Xin ông xơi thịt tôi đi theo chồng.
Sơn tinh nước mắt ròng ròng,
Con ở có đức sao ông nỡ hoài.
Cắt sai mãnh hổ hai người,
Vàng cân tám lạng đưa thời Cúc Hoa.
Chờ cho bạch nhật đưa qua nàng về. 
Đứa nào bỡn vợ ông nghè.
Ất là thượng đế phân chi tồi tàn.
Bảo nàng xin chớ lo toan,
Ta sai mãnh hổ Tân bang thượng trình.
Vậy nàng tỏ hết sự tình,
Làm thơ cho Trạng, Sơn Tinh lên đường.
Cúc Hoa viết thư vội vàng,
Trao cho mãnh hổ đưa sang nước Tần.
Tạ từ mãnh hổ rời chân,
Tự nhiên biến hóa vô vàn Sơn Tinh.
Tầng tầng trời mới bình minh,
Sơn Tinh hiện hình sang nước Tần vương.
Biến ra mười người khác thường,
Áo xiêm đội mũ sẵn sàng suy nghi.
Hỏi thăm nhà Trạng ông nghè,
Tới nơi đầu ngõ một khi bước vào.
Trạng nguyên khi ấy ra chào,
Chẳng hay các tướng hỏi trao việc gì,
Mười tướng chắp tay liền quì,
Trạng nguyên đỡ dậy một khi mời ngồi.
Sơn Tinh kế lể khúc nhôi,
Lại sa nước mắt tả tơi ròng ròng.
Ông sang sứ sự mười đông,
Nào ông có biết vợ ông ở nhà.
Tôi kể chẳng hết đâu mà,
Mặc trong thư ấy xem ra dữ lành.
Trạng nguyên ôm thư vào mình,
Rõ ràng chữ vợ tâm tình quặn đau.
Lại có tên mẹ viết sau,
Đọc đi chẳng được thêm đau tấm lòng.
Cầm thư nước mắt ròng ròng,
Những lời anh dặn mười đông phụng thờ.
Giã ơn Sơn Tinh bây giờ,
Công đem thư ấy sang đưa bên này.
Sơn Tinh xin hãy giờ đây,
Tôi đem thư này tâu với Tần vương.
Họa là vua có lòng thương,
Giảm năm giảm tháng mở đường cho ta.
Trạng nguyên đem thư vào tòa,
Bây giờ hoàng đế xem qua thế vầy.

Vậy có thư rằng:

Tên tôi Cúc Hoa, tài hèn phận nhỏ, cha mẹ gả chồng, phải nơi nghèo khó. Chồng là hàn sĩ, mẹ già sáu mươi, một mình tôi nuôi, hết đường cùng khổ. Khuyên chàng kinh sử, đón rước tìm thầy, được nửa năm chầy, ơn vua thi đỗ. Cũng may phận số, chiếm bảng tam khôi, phấn vua ơn trời, cho tôi được cậy. Ai ngờ khi ấy, vua bắt sứ quan, cha tôi rẽ duyên, gả cho chồng khác. Tôi liều mình thác, để nuôi mẹ chồng, giữ đạo tam tòng, một lòng khẩn thiết. Cha tôi đánh ghét, hãm mẹ chuồng trâu, đã được bấy lâu, mặt sầu vò võ. Dù sinh dù tử, dù đói dù no, kể hết duyên đo, để chàng soi xét. Biết bao tình tiết, thư chẳng hết lời, ngàn dặm xa khơi, xin thương đến thiếp .

Vua Tần cầm thư xem ngay,
Khen rằng thực gái thảo ngay hết lòng.
Lại truyền khắp cả nội cung,
Đàn bà đức hạnh công dung thế này.
Nước Nam sao lắm người hay,
Mới mười mấy tuổi thảo ngay thờ chồng.
Thật là tận hiếu tận trung,
Trẻ thơ biết đạo tam tòng xưa nay.
Ước gì nàng ấy sang đây,
Trẫm nuôi tức khắc để rầy làm con.
Tiền thời trẫm thưởng mười muôn,
Sắc phong Công chúa sánh cùng Công khanh,
Ở lâu trẫm cũng thương tình,
Giảm cho ba tháng, qui ninh từ rày.
Trạng nguyên bái tạ tâu bày,
Tôi xin về rày trả nghĩa Sơn Tinh.
Tức thì mở tiệc sắm sanh,
Cỗ bàn gà lợn linh đình thết ngay.
Rượu thì một hũ rót đầy,
Sơn Tinh ăn uống no say tâu quì.
Ông cho chúng tôi trở về,
Kẻo chúa tôi đợi ngồi kề đầu non.
Trạng nguyên làm bức thư son
Giao cho mãnh hố đưa nàng Cúc Hoa.

Vậy có thư rằng:

Anh là Tống Trân, ba người bảng xuân, tên anh đệ nhất. Nghỉ mừng gia thất, bái tổ vinh qui, lòng vua có nghi, gả nàng Công chúa. Lòng anh thương vợ, có nghĩa có nhân, nuôi mẹ ân cần, nghĩa nặng khẩn khẩn. Công chúa lòng giận, làm bản tâu lên, đày anh viễn biên, hầu vua Tần quốc. Nước người làm chước, đào hố giữa đường, sâu mười trượng trường, chiếu hoa trải khắp, ba quân đón rước, cờ sắp hai bên. Chánh sứ bước lên, đều sa xuống hố. Mình anh nước nhỏ, đi một bên đường, bước vào tòa vàng, quì ngay công phủ. Vua Ngô phán nhủ, hãm anh vào chùa, ba tượng mới tô, thếp vàng choi chói, ba gian nhà ngói, ba ấm bày hàng, hai cái gáo vàng, sứ Ngô đóng cửa. Mình anh khi ấy, hoài tượng sống mình. Mười ngày bình minh, vua sai mở cửa. Còn ba năm nữa, vua mới cho về. Anh dặn nàng thì ở cho có nghĩa. Như nàng Lý Thi, bắt chước Chu Dung, gái nuôi mẹ chồng, cũng là có nghĩa.

Từ ngày Sơn Tinh đi rồi,
Cúc Hoa luông những ngậm ngùi lao đao,
Lại lên chốn cũ tiêu dao,
Đem tin vừa lúc thư trao đem về.
Cúc Hoa tiếp lấy thư kia,
Tạ từ Sơn chúa một khi ân cần.
Xem thư đứng đọc tần ngần,
Trách chàng quân tử bất nhân chăng là.
Lại thêm trách mẹ cùng cha,
Lại trách Công chúa, cùng là trách nhân.
Lại trách cả vua nước Tần,
Chỉ ơn mãnh hổ sơn quân có nghì.
Phú ông lên ngựa một khi,
Đầu ghềnh bước tới tức thì tìm con.
Cúc Hoa đương đứng đầu non,
Phú ông đổ đến trúc côn ta cầm.
Sơn Tinh thét mắng ầm ầm,
Cớ sao mày được gian dâm vợ người.
Ở sao chẳng sợ bụt trời,
Trêu ghẹo vợ người tội ấy nặng thay.
Mày ở cho ích mình mày,
Có tài mày xuống dưới này cùng tao.
Cúc Hoa kể lể thấp cao,
Ấy là cha thiếp phải nào ai đâu.
Mãnh hổ nghe nói trước sau,
Tạ từ liền mới cúi đầu bước ra.
Phú ông đem con về nhà,
Xông hương đánh phấn ướp hoa nào rời.
Hoa thì kén những hoa tươi.
Phấn thì kén thứ chẳng phai màu hồng.
Cúc Hoa vò võ thương chồng,
Hoa cài trên vách, lược hồng mái tranh.
Tóc mây bỏ tới linh tinh,
Gương tàu để bụi, sáp bình để meo.
Phú ông thấy con ủ sầu,
Kíp truyền làng nước mõ rao xa gần.
Rằng mình có gái thanh xuân,
Tơ hồng chưa kết, Châu Trần vẫn không.
Tuổi mới hai mươi làm xong,
Chồng con chưa có giao thông ai rày,
Đình trưởng nghe nói mừng thay,
Lấy vàng tám lạng đưa ngay đến nhà.
Phú ông mừng rỡ nói ra.
Hỏi thì ta gả con ta cho mày.
Thế gian có câu ví này,
Ba năm làm rể đoạn đầy tóc tơ.
Đình trưởng vội vàng toan lo,
Bắt ngay đứa ở sắm đồ vào ngay.
Làm rể được ba năm chầy,
Phú ông tính lại, đã đầy mười đông.
Tức thì mở cửa loan phòng,
Hỏi Cúc Hoa hỡi đợi chồng nữa chăng?
Bây giờ đã được mười đông,
Nếu có còn sống đã hòng về đây.
Cúc Hoa bấm đốt ngón tay,
Mười năm đã trọn thương thay cảnh chồng.
Phú ông bảo rể làm xong,
Con về sửa lễ để hòng cưới ngay.
Trâu ba mươi con nộp đây,
Cỗ bàn làng họ ba ngày ăn chơi.
Trước là mở tiệc làm vui,
Sau là mừng rể được người giàu sang.
Mõ rao khắp cả trong làng,
Thôn nào giáp ấy bảo ban lời này.
Tre thì mỗi người một cây,
Tranh thì ba cái phải rày như y.
Mẹ nào con ấy cùng đi,
Nhỏ thì lên một lớn thì lên ba.
Đứa nào không đến nhà ta,
Thì làng bắt khoán tiền là quan hai.
Ba ngày ăn uống trong ngoài,
Nem công chả phượng nghìn chai rượu nồng.
Ngoài thì năm trăm đàn ông,
Trong nhà chín dòng toàn những nữ nhi.
Ngồi trên bố vợ chiếu huê,
Dưới chú đình trưởng ngồi kề cậu cô.
Nhà đương ăn uống say no.
Hay đâu ông Trạng bên Ngô vừa về.
Giã mười tám nước đề huề,
Giã vua Tần quốc, Trạng về An Nam.
Vua Tần trong dạ bàng hoàng,
Trạng về trẫm nhớ muôn vàn chẳng yên.
Trạng đi lên tám thiếu niên,
Trạng về mười tám bằng tiên ai tày.
Tần Vương mới bảo con rày,
Một ngày nên nghĩa chồng mày đó con.
Công chúa bước xuống cung son,
Chân đi hài phượng ngỡ tiên đan trì,
Công chúa bước xuống một khi,
Cầm lấy tay Trạng vân vi giãi lòng.
Chàng về phượng chạ loan chung,
Bao giờ trọn nghĩa tương phùng chàng ôi.
Kiếp này chưa đẹp duyên hài,
Nguyện xin kiếp khác so đôi chữ đồng.
Tay tiên thảo bức thư hồng,
Xui chàng, ghi nhớ mười đông nước Tần.

Vậy có thư rằng:

Thiếp phận nữ nhi, con vua Thánh Đế, nhờ ăn giảng trị, trọn đạo phu thê. Chàng trở ra về. An Nam nước Việt. Thiếp còn giữ tiết, trọn đạo khăng khăng, thiếp chực loan phòng, mười đông Vắng vẻ. Đường trường xiết kể, thiếp nhớ chàng thay. Chàng trở về rày, khi nao họp mặt? Việt nam Tần bắc, thương nhớ trăm đường, thảo bức thư chương, mọi nhời phong kín, khi nào nhớ đến, trông thấy xin thương. Châu lệ hai hàng, mặt sầu vò võ. Khác nào Chức nữ, vẫn nhớ Ngưu Lang, khác nào chàng Trương, nhớ nàng Oanh nữ. Thơ ngây ý tử, như hạc cưỡi rồng, như ả Phù Dung, gặp chàng Dương Thế (?). Như chàng Hậu Nghệ, gặp ả Hằng Nga. Khác nào đôi ta, chàng về thiếp ở. Gửi thư mấy chữ, chàng thấu chăng chàng?

Thư đưa lòng luông tần ngần,
Khối duyên ai biết đường gần hóa xa.
Đông mặt văn võ năm ba,
Ngô vương cầm bút phong qua đền vàng.
Phong cho lưỡng quốc quan sang.
Lấy vàng cho Trạng ăn đường nghìn hai.
Trạng nguyên bái tạ điện đài,
Giã mười tám nước nay tôi xin về.
Ngày đi ba tháng kể chi,
Đến khi Trạng về chẳng tới mười ngay,
Ngựa đi màu ngỡ tên bay,
Có quan hướng đạo người nay chỉ đường.
Trạng nguyên nước mắt hai hàng,
Than cùng chư tướng bách quan lời này.
Chẳng nói chư tướng chẳng hay,
Nói ra chẳng thẹn lòng này mấy thân.
Tuổi ta lên tám phong trần,
Vợ thời mới cưới Canh Dần mười ba.
Mẹ ta bảy mươi tuổi già,
Ta phải đi sứ đường xa vương kỳ.
Ơn vua nay được trở về,
Quan quân đóng đó ta về thử nay.
Chư tướng hãy tạm đóng đây,
Mình về thăm viếng bên này tổ tiên.
Chư quân vâng lệnh phán truyền,
Tức thì đóng lại ở trên Hồng Hà.
Đoạn xong quan Trạng bước ra,
Vừa buổi đông chợ ai mà được hay.
May đâu gặp chú ăn mày,
Hỏi rằng đình đám ai rày hỡi con.
Ăn mày kể hết nguồn cơn,
Chẳng nói ông đánh tôi khôn dấu mà.
Đình trưởng ăn cưới Cúc Hoa,
Mỗi ngày giết những hai ba trâu cày.
Cỗ bàn rượu thịt đã đầy.
Tôi vào ăn mày nó chẳng có cho.
Trạng nguyên nghe biết nguyên do,
Con cởi áo rách ông cho áo lành.
Quần áo cho mày sắm sanh,
Quạt mo bị gậy để giành đưa tao.
Đầu thì vò rối mặt bào,
Da ngà bôi mực khác nào con điên.
Trạng nguyên đổi dạng vào liền,
Qua mấy xóm ngõ tới miền nhạc gia.
Làng nước năm trăm trẻ già.
Còn đương ăn uống rượu trà, bò trâu.
Trạng nguyên đứng đợi giờ lâu,
Đoạn thời giả cách khấu đầu kêu ngay.
Nhà người có ma hay chay
Trâu bò giết lắm thế này ông ơi!
Nhà người có cưới con người,
Chú sao mở miệng nói lời chay ma?
Có đường chú tránh cho xa,
Chú còn đứng đấy ắt là dùi mang!
Trạng nguyên trở lời vội vàng,
Chẳng biết min hỏi cương cường đánh ai.
Chẳng biết min hỏi min chơi,
Miễn cho chú được mạnh dùi chú kia!
Nói thôi lại bước chân đi,
Lên nơi phòng vợ thử nghe lời nàng.
Mở cửa vườn hoa vội vàng,
Bước vào trong cửa thấy nàng ngồi may.
Thấy hai hầu gái chân tay,
Cỗ bàn xôi thịt trình bày Cúc Hoa.
Bà ơi này cỗ cưới bà,
Ông tôi cho dặn tôi ra nói rày.
Xin bà ăn uống no say,
Đến mai tốt ngày bà về làm dâu.
Cúc Hoa nét mặt buồn rầu,
Ai làm cho cực lòng nhau hỡi chàng!
Bảo đôi hầu gái rõ ràng,
Cỗ kia mày để phòng hương bên này.
Đốt một nén hương lên đây,
Đũa so rượu chuốc tao nay khấn chồng.
Tam hồn thất phách Tống công,
Khôn thiêng xin hưởng về cùng thiếp đây.
Hay là cách trở nước mây,
Giang sơn nghìn dặm đường đi nặng nề.
Thiếp khấn chàng chẳng kịp về,
Âm dương sắp ngửa thiếp thì được hay.
Cúc Hoa cầm tiền lên tay,
Trời phù bụt hộ, sấp ngay một đồng,
Cúc Hoa quì xuống khóc chồng,
Chàng ơi phu phụ mười đông giao hòa.
Người ta ăn uống trẻ già,
Mẹ thì chịu đói dưới nhà chuồng trâu.
Chẳng ai cho miếng gì đâu,
Bằng dao cắt ruột thiết đâu hỡi chàng.
Một tuần thiếp đã tiến hương,
Hai tuần tiến tửu tế chàng thương ôi
Ba tuần thượng thực khuyên mời
No say xin sớm đợi tôi đi cùng,
Mới bảo đôi hầu làm xong,
Vào lấy hòm áo trong phòng ra đây.
Con hầu bưng áo đến ngay,
Giở ra ba bộ khóc rày lại than.

Vậy có lời than rằng:

Thảm thiết thương ôi, bác mẹ sinh tôi, nữ nhi phận gái, lòng trời xui lại, cá nước duyên may, kết tóc xe dây, kề từ Hoa huyện. Chàng dắt mẹ đến, ăn mày nhà tôi, thấy chàng bồ côi, tuổi còn đương độ. Chàng để mẹ đó, chàng vào ăn mày. Thấy chàng thương thay, xúc cho đấu gạo, tôi dấu trong áo, tôi liền đem ra. Cha tôi về nhà, chẳng may bắt được. Tưởng tôi gian ngược, ép gả cho chàng, đánh mà chẳng thương, như đòn kẻ cắp. Mẹ tôi thương tiếc, giấu cho nén vàng, bán tám mươi quan, nuôi thầy chàng học. Nhà chàng có phúc, học được nửa năm, thì đỗ bảng rồng, vua gả Công chúa. Lòng chàng thương vợ, chàng chẳng lấy nào. Vua bắt chàng vào, đày sang Tần quốc. Mười năm sứ lược, mới cho chàng về. Cách trở sơn khê, thảm thương từ đấy.

Áo này thi đỗ vua ban,
Áo này nho sĩ cơ hàn lấy nhau.
Áo này từ thuở làm dâu,
Ba bộ áo ấy xưa sau vẹn tuyền.
Ngỡ là giai lão bách niên,
Thung dung đẹp cánh chim uyên trên đời.
Ai hay cơ sợ tại trời,
Chồng nam vợ bắc bồi hồi xiết lo.
Chàng đi chốc đã mười thu,
Phần thương nỗi mẹ, phần lo nỗi chồng.
Tam hồn thất phách Tông công,
Khôn thiêng xin hiện về cùng thiếp nay.
Thiêng thì lĩnh lấy áo này,
Một mai thiếp thác xuống nay mặc cùng.
Lấy lửa mà đốt áo chồng,
Sau đốt hòm sách nửa đông nuôi thầy.
Cầu chàng gặp hội rồng mây.
Ai ngờ chàng phụ thiếp rày chàng ơi.
Trạng nguyên đứng ở bên hồi,
Nghe lời vợ nói chân dời bước ra.
Trông lên bố vợ chiếu hoa,
Dưới thì Đình trưởng ngồi hòa nghiêm trang.
Trạng nguyên dời chân bước sang,
Quạt mo phe phẩy trình chàng văn nhân
Trình người cho miếng gì ăn.
Đình trưởng bảo lấy cho phần xương trâu.
Trạng nguyên đứng giận giờ lâu,
Cũng vào cầm lấy để đầu bàn tay.
Một ngày giết ba trâu cày,
Cho miếng xương này ăn thực là ngon.
Xương này ăn được trí khôn,
Khăn điều bọc lấy tay còn cầm chơi.
Trông vào cả họ đương ngồi,
Xôi thịt bị bỏ chân rời vào trong.
Ngồi trên cô cậu đôi dòng,
Chú bác đủ mặt ngồi cùng đệ huynh.
Hai chị thấy Trạng phân minh,
Kìa ai thất nghiệp như hình Tống Trân.
Họ hàng thét mắng đã ran,
Chúng bay tưởng sự Tống Trân làm gì.
Tống Trân còn sống về thì,
Hai họ khó nỗi tì tì ngồi ăn.
Hai chị mặt ủ mày nhăn,
Thương tình em rể mười phần chẳng nguôi.
Ngỡ là thi đậu hoa khôi,
Để mẹ được cậy, vợ thời được trông.
Ai ngờ đi sứ mười đông,
Để vợ lấy chồng thảm thiết thương ôi!
Lòng nào ăn uống cho vui,
Ăn xấu ăn hổ cũng ngồi mà ăn.
Hai chị thương xót tần ngần,
Bảo nhau xôi thịt nắm phần đem trao.
Họ hàng thét mắng xôn xao,
Mày mà cho nó thì tao cắt phần.
Trạng nguyên cầm lấy dời chân,
Hai chị còn có chút phần thương tôi.
Dễ ai biết ngọc ở đời,
Có hai chị gái biết tôi chăng là.
Đố ai biết mặt khôi khoa,
Có hai chị gái biết là tiên cung.
Chốn ấy ta thử đã xong,
Lại xuống thử mẹ dưới phòng chuồng trâu.
Con bà đâu, cháu bà đâu,
Cớ sao bà giữ chuồng trâu cho người?
Lão bà nước mắt ngùi ngùi,
Ông đừng nói nữa ma tôi đau lòng.
Con tôi lên tám làm xong,
Dắt mẹ chẳng quản mấy đông ăn mày.
Đến nhà trưởng giả giàu thay,
Gả con cho nó tuổi rày mười ba.
Nàng ấy có nghĩa thay là,
Nuôi chồng đi học đăng khoa bảng rồng.
Khen nàng giữ tiết mười đông,
Cứ nuôi mẹ chồng chẳng quản điều chi.
Cha nó ra dạ bất nghi,
Được bảy năm trọn bắt về rè duyên.
Chẳng nghe đòn đánh cho liền,
Bắt tôi giam hãm ở miền chuồng trâu.
Sống này nhờ bởi nàng dâu,
Nó nuôi tôi sống bấy lâu yên lành,
Con tôi sứ sự Tần đình
Chưa về báo được chút tình nàng dâu.
Trạng nguyên nước mắt rầu rầu,
Nghe lời mẹ nói âu sầu xót xa.
Bà ơi tôi ngẫm mình bà,
Khác nào như thế mẹ già tôi xưa.
Nắm xôi ăn mày ban trưa,
Tôi thương bà đói tôi đưa biếu bà.
Tôi xem độn toán biết xa,
Thử xem con bà đã được về chăng.
Lão bà nghe nói liền mừng,
Nhờ thầy đoán quả xem chừng hộ tôi.
Trạng nguyên độn đoán một hồi,
Ngẫm xem quẻ độn tam khôi bảng rồng.
Như quẻ đời vua Thái Tông,
Đi chơi gặp được đội rồng tranh đua.
Con bà đỗ Trạng hai vua,
Đi sang sứ sự vua cho về rồi,
Có cờ có biển tốt tươi,
Kíp thời ngày một, chầy thời ngày hai.
Thực như quẻ đoán không sai,
Có tiền nên thưởng một hai trăm đồng.
Trạng nguyên muốn ngỏ thực lòng,
Sợ mẹ mừng dạ nói cùng người ta.
Mặt trời bóng đã tà tà,
Đợi mai lễ cưới xem nhà rước dâu.
Trạng nguyên ngồi ở bên lầu,
Lắng tai nghe thử nông sâu nỗi nàng.
Nón rách lấy để che sương,
Giả làm ngói lợp tòa vàng năm gian.
Áo rách giả làm hồng vân,
Bị rách trải đất làm lần chiếu hoa.
Quạt mo giả làm quạt ngà,
Đời vua Hồng trước ban ra quạt này.
Vừa sang trống ba canh chầy,
Thấy hai hầu gái cỗ bày bưng ra.
Đem lên trình với Cúc Hoa,
Bà ôi thôi chớ xót xa nỗi chồng.
Chồng cũ đã đi mười đông,
Bây giờ chồng mới tin dùng yêu đương.
Đỏ chen đen tránh là thường,
Xin nguôi kẻ khó mà thương kẻ giàu.
Cắm sào mà đợi nước sâu,
Hoa tàn nhị rữa còn đâu má hồng.
Kìa như Lã hậu đền rồng,
Hán Hoàng mới thác đã lòng riêng tây.
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Hồng nhan sớm liệu kén tay anh hùng.
Cúc Hoa nước mắt ròng ròng,
Có đâu tao lại nghe mòng chúng bay.
Lòng ta sắt đá khôn lay,
Nhược bằng có thác ta nay theo chồng.
Mới bảo hai hầu giúp công,
Mày vào lấy sách của chồng tao ra.
Cúc Hoa nước mắt nhỏ sa,
Chàng ơi để sách đây mà làm chi.
Có thiêng linh xuống âm ti,
Lĩnh xuông mả để làm ghi lâu dài.
Để thiếp thác xuống tuyền đài,
Nuôi chàng đi học thi tài âm cung.
Thuở sống duyên nợ chưa xong,
Một mai thác xuống vợ chồng no đôi.
Mới bảo hai đứa con đòi,
Mẹ tao nhịn đói còn ngồi chuồng trâu.
Nào có cho miếng gì đâu,
Cỗ này bưng xuống chuồng trâu kính bà.
Tám nén vàng này của ta,
Tưởng là bà thác làm ma cho người.
Ai ngờ bà sống bà ơi,
Vàng này tám nén tới nơi kính bà.
Nàng dâu gửi lại mẹ già,
Để xin thác trước làm ma theo chồng.
Đôi hầu bưng xuống làm xong,
Bưng ra một cỗ đến trong đầu hè.
Bảo nhau ra dạ gian phi,
Vàng này tám nén ta thì chia nhau.
Bà rồi cũng thác chẳng lâu,
Vàng chia làm vốn ta sau lấy chồng.
Hai đứa bảo nhau một lòng,
Rồi ta bưng cỗ đến không cho bà.
Đôi hầu bưng đến thưa qua,
Kính bà cỗ ấy gọi là quả dâu.
Thương chồng ăn chẳng được đâu,
Bảo tôi bưng xuống chuồng trâu kính bà.
Này dâu gửi lạy mẹ già,
Để xin thác xuống làm ma theo chồng.
Lão bà nước mắt ròng ròng,
Gửi lời bà giã ơn cùng nàng dâu.
Bà xin thác trước chuồng trâu,
Làm chi yếu đuối giữ trâu thế này.
Vì đâu ta sống đến nay,
Đế dâu thác trước đêm ngày cậy ai.
Hôm nay gặp kẻ hiền tài,
Đồn rằng giờ ngọ, ngày mai Trạng về,
Nhược bằng chẳng có tin chi,
Mẹ con cùng thác, sống thì đợi ai.
Cho hay những kẻ đơn sai,
Làm tôi phản chúa vô loài không hay.
Trời sai đàn chuột xuống ngay,
Vàng kia tám lạng, chuột nay tha liền.
Tha đến bên mình Trạng nguyên,
Vàng lại rơi xuống nhãn tiền lạ thay!
Trạng nguyên cầm lấy trên tay,
Vàng này đích thực của rày vợ tao,
Chuột kia mày ở nơi nao,
Vàng này tám nén đưa tao chớ chầy,
Ơn vua tao sống về đây,
Phong chức cho mày hương cống chuột kia!
Phong cho chức ấy cũng kỳ,
Vì nàng bắt kẻ gian phi trong nhà,
Ông ngồi hết trống canh ba,
Nghe thấy bố vợ nói ra lời này:
Đòi chủ Đình trưởng vào đây,
Ăn uống chín ngày còn một ngày mai.
Con về kiếm của sính ngơi, (nghi)
Giờ Dần mang đến tới nơi nhà này.
Đình trưởng trở về khi nay,
Mở ra một tráp vàng đầy nghìn hai.
Bạc năm trăm nén không sai,
Đích thực vàng mười cây lấy chục cân.
Lụa là vó nhiễu hồng vân,
Mỗi thức mỗi vẻ đủ ngần đem đi.
Trạng nguyên giả cách ra uy,
Chẳng hay Đình trưởng nó đi đường ngào.
Ta giả cách ngồi bờ ao,
Làm điều bắt rận ta vào thử chơi.
Giờ lâu Đình trưởng tới nơi,
Lụa là vóc nhiễu sính ngơi bạc vàng,
Đình trưởng mắt Trạng vội vàng.
Thiếu chỗ dềnh dàng sao lại ngồi đây?
Chú là một kiếp ăn mày,
Cớ sao ngồi chắn anh nay giữa đàng.
Trạng nguyên trả lời vội vàng,
Có chi hẹp đường chú lại mắng ai.
Ngứa rận thì ta bắt chơi,
Trên đường bắt rận ta ngồi xuống đây.
Giàu sang cũng mặc chú thay.
Có ngựa chú cỡi ai rày sợ chi.
Đình trưởng giục ngựa lại đi,
Trạng nguyên mặc áo tức thì theo lên.
Chúc cho Đình trưởng bách niên,
Chúc cho đình trưởng sánh liền Cúc Hoa.
Vợ chồng yêu nhau đến già,
Chồng loan vợ phượng đuốc hoa động phòng.
Sinh năm con trai đầu lòng,
Sinh năm con gái thong dong là mười.
Trai thì ngự sử đô đài,
Ông chỉ huy sứ, ông coi triều đình.
Gái thì sánh với công khanh,
Cung phi Hoàng hậu triều đình nghênh ngang.
Đua nhau điện ngọc tào vàng,
Đầy triều văn võ quan sang hơn người,
Đình trưởng nghe chúc liền cười:
Chú kia thất nghiệp chúc lời thực hay!
Chú hãy theo anh vào đây.
Chú vào trong này xơi chén rượu ngon.
Trạng nguyên theo vào lầu son,
Một mình một cỗ ngồi tròn chiếu hoa.
Phải khi bố vợ đi qua,
Mắng rằng thất nghiệp chiếu hoa dám ngồi!
Trạng nguyên ngoảnh mặt mỉm cười,
Người đã nói vậy ta ngồi làm chi.
Âu là ta giở ra đi,
Đem quân vây bắt ta thì thử chơi.
Thoắt thôi quan Trạng tái hồi,
Đem quân vây bắt ở nơi đầu hàng.
Chư quân mừng rỡ reo vàng,
Mừng vì xa chốn quê hương lâu ngày.
Áo rách cởi cho ăn mày,
Con ơi con hỡi con rày theo ông.
Trạng nguyên sắm sửa làm xong,
Mũ áo vàng gấm kiệu rồng bước lên.
Phấn vua trang điểm như tiên,
Nam nhi như vậy mới nên anh hùng
Cờ bay, ngựa đuổi, trống rung,
Kẻ mang kiếm bạc, người dùng dây cương.
Kẻ mang tán vóc tàn vàng,
Vua phong lên ngựa quan sang lâu dài,
Đủ mặt văn võ trong ngoài,
Trạng rằng có đám cưới ai lạ lùng,
Chư quân nhỏ bụng thì thôi,
Đứa nào lớn bụng cho ngồi cỗ to.
Trạng nguyên khi ấy truyền hô,
Vừa qua đầu chợ tới nhà phú ông,
Trẻ già làng nước đang đông,
Đầy nhà ăn uống ngoài trong chín hàng.
Ngoài bày trăm cỗ họ hàng,
Trong nhà ăn uống ngồi toàn nữ nhi,
Màn trướng che nắng tứ vi,
Còn đang san sát đang khi mời ngồi.
Cỗ bàn trưng ra vừa rồi,
Đũa mới chia người, rượu mới rót ra.
Ngồi bên bốn cũ lão già,
Ho hen thúng thắng nói ra lời này.
Quân ai đã kéo về đây,
Như quân quan Trạng về rày làng ôi.
Phú ông xin làng hãy ngồi,
Thiếu chi quan khách mọi nơi đi đường!
Trạng về gương bạc lọng vàng,
Hai hàng quân tướng nghênh ngang bước vào.
Làng nước bỏ chạy xôn xao,
Tớ thầy bỏ chạy lao đao hãi hùng.
Chia nhau chạy khắp tây đông,
Xô nhau đẩy đạp lung tung trong nhà.
Đàn ông đổ lộn đàn bà,
Chen nhau như lũ chim sa trong lồng.
Con trẻ lăn khóc tây đông,
Trưởng giả hãi hùng kín tiếng nhọc hơi.
Bảo vợ mới nói một nhời,
Mở đang cửa hậu cho người ta ra.
Có ao năm sào trong nhà,
Người như tôm cá nhảy ra ào ào.
Sau nhà có một bờ rào,
Chông gai người cũng bước vào nhảy qua.
Thương thay con trẻ đàn bà,
Tay bồng tay dắt bước ra hãi hùng.
Thương thay cụ lão long đong,
Áo quần tơi tả rách tung như bào,
Bay ơi đưa gậy cho tao,
Đường đi nẻo nào bay bảo cho ông.
Áo thời rách hết đã xong,
Quần thì lấm láp còn mong nỗi gì.
Làng nước bỏ chạy tứ vi,
Cũng may trời bụt độ trì làng ta.
Làng ta dày phúc chăng là,
Lấy gì lễ Trạng vậy hòa làng ơi,
Trạng hỏi Trưởng giả một lời,
Trâu dê bò lợn ăn chơi việc gì?
Trưởng giả bước ra liều quì,
Sự tình bày tỏ quan thì rõ hay.
Khốn vì con ma nhà này,
Nó làm điên đảo mời thầy thuốc thang.
Giải trừ nhà đã được an,
Cỗ bàn yến ẩm giao hoan ăn mừng.
Sự tình kể hết tưng bừng,
Để cho quan Trạng biết chừng nhà ta,
Trưởng giả trở gót vào nhà,
Trẻ già lớn nhỏ đều là mắng ông.
Vì ông bất nghĩa trở lòng,
Thực là trăm sự tại ông làm điều,
Con ông có bụng chi đâu
Mõ rao kén rể ông cầu làm công.
Ông rằng ông cứ đổ vung
Mỗi người một bị theo ông phen này,
Mẹ vợ lòng khiếp sợ thay,
Không ra chào Trạng, sợ rày phép quan.
Mụ già bước ra thở than:
Kính mừng quan Trạng cư quan mới về.
Trạng nguyên khen cụ có nghì,
Nay tôi trở về mừng cụ sống lâu.
Mụ già rằng: tôi vẫn cầu,
Mười đông sứ sự mong mau ông về.
Một lòng cầu nguyện sớm khuya,
Cầu trời mạnh khỏe độ trì cho ông.
Con tôi bảo nó thờ chồng,
Cố công nuôi mẹ mười đông chớ rời.
Trạng nguyên nghe nói mỉm cười,
Ơn cụ săn sóc mẹ tôi trong ngoài.
Bức thư ngày nọ tới nơi,
Vua Tần mở đọc ngậm ngùi thương thay.
Vua Tần phán bảo tôi đây,
Sắc phong cho cụ vào ngay vạc dầu.
Đình trưởng làm rể đã lâu,
Có công làm rể đã hầu ba đông,
Vì nó muốn kén má hồng,
Cho nên nó chịu cố cùng làm tôi,
Ở nhà mở tiệc làm vui,
Có kho chứa thóc có nồi nấu ninh.
Trạng nguyên kể hết sự tình,
Bốn bên có cả triều đình bách quan.
Ta đây lưỡng quốc vua ban,
Cũng là Tể tướng nước Nam bên này.
Cỗ bàn thôi đã đặt bày,
Thôi thì mau biếu cỗ này thết ta.
Vua đào lỗ giải chiếu hoa,
Làm chùa đúc tượng hãm ta mười ngày,
Ơn vua ta sống về đây,
Lại khen Nam Việt ta rày gan sao!
Chư quân vậy cứ bước vào,
Không biết cỗ nào ta cứ ngồi ăn.
Ăn cho hết sạch mọi phần,
Ấy là yến của vua Tần thết ta.
Ăn rồi ta sẽ ngôi tra,
Trong ngoài đóng cửa cho ta chớ chầy.
Làng nước bỏ chạy đông tây,
Dao bầu chặt thịt bỏ đầy năm nong,
Ăn rồi sẽ dịch vào trong,
Tường cao công kín mặc lòng nghỉ ngơi.
Quân ta vây kín trong ngoài,
Dân phu hỗn độn chém tươi mặc lòng.
Không cho mình mẹ tới cùng.
Cúc Hoa nước mắt ròng ròng sầu thay.
Xui phu quân mở cửa này,
Để cho thiếp kể niềm tây rõ ràng.
Bấy lòng giữ tiết phòng nhanh,
Mười đông nuôi mẹ bữa thường cần chuyên.
Chàng về thiếp đã nguôi phiền,
Cớ sao khinh thiếp phận hèn chàng ơi!
Trạng nguyên giả cách nặng lời,
Gái kia ở bạc đạo giời chẳng ngay.
Về bảo Đình trưởng ra đây,
Ta sẽ giúp việc cưới này cho ngươi,
Cúc Hoa kinh hãi trở lui,
Xuống trông vẫn thấy mẹ ngồi chuồng trâu.
Mẹ ơi rầy đỡ lo âu,
Chồng tôi đi sứ bấy lâu đã về.
Lão bà mới dạy: Thế thì
Con bỏ cái gậy mẹ đi ra cùng,
Mẹ con vừa tới cửa công!
Trạng nguyên giả cách đùng đùng hỏi ngay:
Bà kia sao đến chi đây,
Chuồng trâu bà cứ lui ngay bà ngồi,
Lão bà nghi giận ngùi ngùi,
Con đã nói vậy, mẹ ngồi làm chi.
Quan quân đật gối tâu quì,
Lão bà vả lại, xưa kia mẹ người.
Trạng nguyên mới ngỏ một lời.
Mẹ thời cũng nhớ, vợ thời cũng thương.
Lòng ta còn nỗi lo thường,
Xét tra minh bạch làm gương đời này.
Tưng bừng vừa mới rạng ngày,
Trạng nguyên khi ấy nói ngay một lời:
Bởi vì hai họ nhà người,
Đã ăn cỗ cưới phải thời đưa dâu,
Thôi thì bạn gái giúp nhau,
Bạn trai sắp sửa đưa dâu đến nhà.
Bảo mõ rao khắp gần xa,
Mèo kêu chó cắn, thì ta lấy đầu.
Quân ta từ trước đến sau,
Gương vàng giáo bạc theo hầu sắp ra.
Đuốc đèn soi khắp gần xa,
Đưa nhau đến chốn đuốc hoa động phòng.
Trạng nguyên liền cưỡi ngựa hồng,
Mình mặc áo tía tiên phong bước vào.
Cửa nhà quang cảnh lạ sao,
Trong ngoài vắng vẻ âu sầu không ai,
Trạng nguyên khi ấy ngỏ lời:
Cớ sao nhà nó vắng người hỡi bay?
Công ta đưa dâu đến đây,
Không ai thết đãi ta rầy biết sao?
Âu ta cứ đưa dâu vào,
Cúc Hoa kêu khóc ồn ào bước ra.
Nhà này có quỉ hay ma,
Đưa dâu vào nhà, dâu lại ra sân.
Nào là chư tướng, chư quân,
Truyền quân cứ lệnh chớ phần thờ ơ.
Chư quân có lệnh bấy giờ,
Ba tòa Đình trưởng một già phá tan.
Cửa nhà triệt hại đã an,
Trạng nguyên lên ngựa tái hoàn hồi gia
Trạng nguyên chân bước vào nhà,
Khen rằng bụng dạ ông bà tốt thay!
Quân đâu lấy vạc ra đây,
Bỏ dầu đầy vạc đốt ngay hỏa hào.
Trước mời cậu mợ bước vào,
Sau đến làng nước cả bao họ hàng
Ai ai trông thấy kinh hoàng,
Khấu đầu kêu lạy thượng quan xét cùng.
Thực là sự bởi phú ông,
Chúng tôi quả thực chánh thành vạ lây
Trạng rằng: Khoan thứ cho bay,
Tha cho làng nước, cùng nay họ hàng,
Đòi chú Đình trưởng kíp sang,
Khỏe răng bắt cắn khúc xương ba ngày.
Ta thương hai chị lắm thay,
Vàng cân hai lạng thưởng rày cho coi.
Mấy ai biết ngọc ở đời,
Có hai chị gái biết tôi ăn mày.
Xót tình hai chị khi nay,
Thứ cho cậu mợ còn nay cửa nhà,
Từ rày đế chế nhạc gia,
Một năm tiểu phục gọi là thế thôi.
Trạng nguyên lại nói một lời,
Ba làng tiền nộp mỗi người năm quan,
Mười ngày yến ẩm giao hoan,
Mỗi người mỗi suất năm quan tiền đồng.
Trai tơ vâng chịu đã xong,
Đàn bà con trẻ đau lòng kêu ca.
Con tôi nó hãy còn thơ,
Mà ông cũng bắt nộp vừa năm quan.
Không đi thì sợ phép làng,
Xin ông chuẩn thứ cho đàn trẻ nay.
Trạng rằng: nói cho mụ hay,
Con mụ thơ dại, bụng rày nở nang,
Miếng thịt lại đèo miếng gan,
Năm quan cũng đáng kêu van nỗi gì?
Các cụ lão bước tới quì
Chúng tôi già lão, tuổi thì sáu mươi,
Ăn thì chẳng được bằng người,
Lạy ông chuẩn thứ chúng tôi ơn cùng,
Trạng nguyên mới nói giãi lòng,
Già nua tuổi tác nghe cùng không nghe.
Chưa mời thì lão đã đi,
Giường cao chiếu sạch, lão thì ngồi trên.
Xướng ca hiếu hỉ đến liền,
Rượu chè cứ đánh, thâu đêm thâu ngày.
Việc gì lão cũng sai trai,
Nào gan nào lưỡi thóp chài thái ra,
Thịt mỡ thái vuông con cờ,
Lão đánh đáo lưỡi càng ra tinh thần,
Trai thì phải dọn miên man,
Lão thì chem chém trên bàn no say.
Lẽ thời một chục mới đầy,
Năm quan đã đáng kêu nay nỗi gì,
Làng nước nộp tiền một khi,
Được năm nghìn rưởi khôn ly nửa đồng.
Trạng nguyên thấy thế nguôi lòng
Bảo rằng ta thử tấm lòng xem qua.
Đình trưởng nó cưới vợ ta,
Cho nên mất cửa mất nhà một khi,
Của làng tôi cho đem về,
Gọi là một chút nhân nghì về sau.
Ba làng nghe nói mừng sao,
Cảm ơn quan Trạng ngôi cao đền rồng.
Trạng nguyên xét việc vừa xong,
Vội vàng lạy mẹ tấm lòng biệt ly.
Mẹ ơi con sống được về,
Tưởng là thác ở bên kia nước Tần.
Bây giờ mang đội hoàng ân,
Trạng nguyên lưỡng quốc, tể thần gia phong.
Cúc Hoa nàng thực có lòng,
Mười năm nuôi mẹ thờ chồng kính tin.
Bây giờ nhà cửa đã yên,
Nghĩa vợ bằng núi khôn đền cho qua.
Lão bà cùng mấy Cúc Hoa,
Thoắt nghe Trạng nói châu sa cùng sầu.
Trạng nguyên xong việc vào chầu,
Lão thân nghe nói mừng thay,
Cúc Hoa cũng thỏa lòng này bấy lâu.
Thoắt thôi quan Trạng vào hầu.
Đường vương thấy Trạng trước sau chu tuyền.
Vua ban gấm vóc bạc tiền.
Làm dinh cho ở nội đền bên tây.
Trạng về được nửa năm chầy.
Thoắt thôi hoàng hậu phải rày bệnh lao.
Quì tâu bệ hạ tuổi cao.
Lòng tôi muốn dùng thịt hươu ngày rày.
Phán đòi văn võ vào nay.
Rằng bà hoàng hậu muốn rày thịt hươu.
Trạng thì vâng cử lời trao.
Thái Tôn thấy Trạng trước sau chu toàn.
Liền ban gấm vóc bạn vàng,
Truyền công bộ mở phủ đường bên tây.
Trạng nguyên vinh hiển lắm thay,
Ai ngờ hoàng hậu phải rày bệnh lao.
Thịt hươu đòi bữa khát khao,
Tâu vua sai kẻ ra vào rừng săn.
Vua đòi văn võ tửu ban,
Phán rằng Hoàng hậu ân cần thịt hươu.
Trạng nguyên tài cả trí cao,
Đi săn cho được thịt hươu mang về.
Trạng nguyên vâng cứ ra đi,
Chó săn quăng đuổi tức thì được hươu.
Đem về sớm tối dâng vào,
Hoàng hậu ăn được, bệnh lao khỏi dần.
Đoạn này kể chuyện nước Tần,
Bạch Hoa công chúa muôn phần nhớ mong.
Trạng về vừa được nửa đông,
Chiêm bao mơ tưởng ở bên giường nằm.
Đêm ngày mơ tưởng âm thầm,
Mặt phai nét ngọc, dạ đầm vẻ sương.
Một mình vò võ tư đường,
Chàng ơi biết thiếp loạn trường này chăng?
Ba thu đằng đẵng khơi chừng,
Vì ai kẻ Tấn người Tần bơ vơ.
Tần vương một bữa ngự qua,
Thấy con mày liễu mặt hoa võ vàng.
Hỏi rằng: Sao trẻ lo lường,
Để cho mặt võ mày vàng hỡi con?
Công chúa tâu hết nguồn cơn,
Rằng con từ chực phòng hương bấy chầy.
Tống Trân sang sứ bên này,
Ơn cha đã định duyên may vợ chồng.
Bây giờ kẻ bắc người đông,
Xui nên phận gái má hồng phôi pha.
Phán rằng Nam Việt cách xa,
Bên này cha kén duyên hòa nên chăng?
Công chúa đặt gối tâu rằng:
Xin cho con vẹn đạo hằng mấy nao!
Chẳng tham chức trọng quyền cao,
Chẳng tham đài các ra vào làm chi.
Xin cho quân sĩ, thuyền bè,
Đưa con sang mấy thỏa thuê cùng chồng.
Vua đòi văn võ vào cung,
Thuyền bè quân sĩ kén dùng uy nghi.
Và nay hà hải sơn khê,
Quân đưa, cẩn thận trẫm thì khỏi lo.
Lại cho các vệ, các cơ,
Bạc tiền gấm vóc lụa là thiếu chi.
Quan quân vâng chiếu ra đi,
Công chúa vào trước lạy quì mẹ cha.
Tạ từ phụ mẫu ở nhà,
Cho con sắm sửa vượt qua Nam thành.
Than ôi nguyệt lão vô tình.
Nước non muôn dặm phụ mình hồng nhan.
Thuyền ra giữa bể gặp cơn,
Mây đen mù mịt, mưa tuôn lưng chùng,
Lại thêm sóng gió ầm ầm,
Quan quân mấy đội phó cùng thủy hương.
Lòng trời chưa dứt má hường,
Cứu cho Công chúa Tần nương vẹn tròn.
May đâu vịn được cánh buồm,
Sóng đưa nàng tới đầu non Cô Hồng.
Kìa dặm trúc, nọ ngàn thông,
Một mình phận gái má hồng xót xa.
Lòng trời chưa dứt tiên nga,
Đàn hươu kiếm quả đưa ra nuôi người.
Ngoài thì hươu đực kiếm mồi,
Trong thì hươu cái đứng ngồi vào ra.
Lần lần tháng nọ ngày qua,
Bỗng đâu gặp Trạng buổi vừa săn hươu.
Tứ bề dăng lưới vây vào,
Kẻ ra đánh thỏ người vào cắm chông.
Đàn hươu nghe súng hãi hùng,
Sán quanh Công chúa não nùng thảm thay.
Công chúa xem thấy thương thay,
Rằng ai săn bắn để rày hại ngươi?
Hươu liền ra hiệu đầu đuôi,
Ấy là quan Trạng bổ mười lưới vây.
Công chúa mới phán lời này:
Các con chứ sợ ta rày kêu cho.
Trạng nguyên súng bắn quân hô,
Công chúa quì xuống vội thưa sự tình:
Xin người cất lưới thu binh,
Bấy lâu hươu có công trình nuôi tôi.
Trạng nguyên khi ấy dạy lời,
Ở đây như có tiếng người hỡi bay!
Công chúa quì xuống tâu bày:
Tôi là Công chúa cha rày Tần vương.
Vì chồng nên phải theo sang,
Chẳng may sóng bể mưa ngàn dạt trôi.
Trạng nguyên nghe nói lụy rơi,
Chẳng hay vượt bể qua vời làm chi?
Công chúa kể hết vân vi,
Bởi chàng nghĩa nặng phải đi tìm chàng.
– Hai người khi ấy tái hoàn,
Cùng nhau vào lạy thiên nhan cửu trùng.
Vua khen Công chúa có lòng,
Trọn đạo thờ chồng kính tín thảo ngay.
Vua ban gấm vóc cho đầy,
Hai người lĩnh lấy tâu bày bước ra.
Cúc Hoa mừng rỡ ở nhà,
Nghe tin ra rước giao ca một phòng.
Tiệc bày chén cúc chén đồng,
Hai người thuận chữ xướng tòng cả hai.
Trạng rằng nhà cửa hôm mai,
Hai người phải chọn một người chính thê,
Cúc Hoa rằng: kể tôi chi,
Nhường Bạch công chúa thượng vì Tần Vương.
Tôi thì gái Việt tầm thường,
Cha tôi dân dã thôn hương quản gì,
Bạch Hoa bày giãi vân vi:
“Nhà tôi Tần quốc thành trì ở xa.
Nàng thời kết tóc từ xưa,
Hai vi mấy độ, rau dưa mấy lần.
Nuôi chồng nuôi mẹ một thân,
Tôi đâu dám lạm giữ phần riêng tây”.
Trạng nguyên rằng: đã thế này,
Hai người tương nhượng biết rày chọn ai,
Lụa này ta chia làm hai,
Đem về may áo xem tài ai ngoan.
Ai mà tinh tế đảm đang,
Chính thê vị ấy chủ trương việc nhà.
Hai người lĩnh lấy xem qua,
Có tiên xuống giúp đều hòa đường may.
Bừng bừng vừa sáng rạng ngày,
Cùng đem áo nộp ai rày hơn ai.
Trạng nguyên mỉm miệng nực cười,
Cùng tay thầy thợ cùng tài khéo may.
Âu là lĩnh đấu gạo này,
Đem về làm bánh xem tài ai hơn.
Hai người lĩnh lấy gạo ban,
Cả hai cùng có người tiên làm thầy.
Bừng bừng trời mới rạng ngày,
Bánh nào bánh ấy tài tày như nhau.
Trạng nguyên ngẫm nghĩ giờ lâu,
Còn chước này nữa xem hầu ai hơn.
Hai người phải thử nấu cơm,
Xem ai chín trước thì hơn tài này.
Mỗi người một vác mía dày,
Lĩnh gạo lĩnh nước cùng tay đem ra.
Công chúa mình vốn cung nga,
Cơm bưng tận mặt chuyên trà tận tay.
Biết đâu trong bếp ngoài ngòi,
Nấu cơm chẳng được mém tươi nét vàng.
Cúc Hoa nấu chẳng được cơm,
Lửa lên lại tắt hai hàng châu sa.
Trạng nguyên nhân lúc đi qua,
Bày mưu bày chước dạy qua lời này:
Vừa ăn vừa nấu mới hay,
Thuở xưa nuôi mẹ nuôi thầy làm sao?
Cúc Hoa học được chước cao,
Bấy giờ mới lấy mía vào ngồi ăn.
Ăn rồi đun nấu dần dần,
Cúc Hoa nấu đoạn mới bưng cơm vào.
Trạng nguyên cười nói tiêu hao,
Nào cơm Công chúa khi nào bưng lên?
Công chúa ren rén thưa liền,
Tôi đâu có dám tranh quyền chính thê.
Cho nên chẳng nấu làm chi,
Xin chàng trao vị chính thê cho nàng!
Từ rày hiếu phụng gia đường,
Ứng điềm thái mộng, ứng tường bạch vân,
Một nhà hòe quế đầy sân,
Lâu đài phúc lộc thiên xuân thị tường.
Trai thì đèn sách văn chương,
Gái thì kim chỉ theo đường cung nga.
Vườn xuân cây phúc nở hoa,
Bút nghiên lại nối khôi khoa bảng rồng.
Đền thời hưởng phúc nhà chung,
Mối duyên cũng vẹn chữ đồng cũng yên.
Vui nhờ chăn ấm chiếu êm,
Tiểu tinh được dự cung tiên chị Hằng.
Cây cù bóng mát đâu bằng,
Tuyết sương che chở cát đăng cũng vui.
Hai tình vẹn vẻ hòa hai,
Động phòng cũng đượm, chương đài cũng êm.
Ngón đàn dịu dặt tay tiên,
Cung cầm tiếng sắt lẫn chen tiếng vàng.
Đầy sân nô nức hoa hương,
Thơm tho cành quế, nở nang cây đồng.
Ngẫm xem đèn sách có công,
Lúc còn niên thiếu cơ cùng mới nên.
Phúc to lại được vợ hiền,
Vinh hoa như Tống Trạng Nguyên mấy người.
Nhân khi thong thả thư trai,
Giở xem truyện cũ, đặt bài quốc âm.

Phiên âm từ bản Nôm “Quảng Thịnh đường”, ký hiệu thư viện Viện sử Học HV 352 và tham khảo thêm bản Phúc Chi, ký hiệu thư viện KHXB Q8o417.

Nguồn: Giáo sư VŨ NGỌC KHÁNH

Xem thêm:

You may also like