Giai thoại – Truyện trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi

by Moc Lam Quan

Mạc Đĩnh Chi là một quan đại thần và nhà ngoại giao nổi tiếng triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Dưới đây là một số câu chuyện về trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi còn lưu lại.

Mạc Đĩnh Chi tự Tiết Phu, hiệu là Tích Am, người làng Lan Khê, huyện Bình Hà, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sau đó dời đến xã Lũng Động, huyện Chí Linh, cũng trong châu đó (nay thuộc tỉnh Hải Dương).

Ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn (1304), niên hiệu Hưng Long 12 đời vua Trần Anh Tông, làm quan đến chức Thượng thư Tả bộc xạ. Sau khi về trí sĩ, ông mở trường dạy học, dân gian sau này vẫn gọi là “Trạng nguyên cổ đường” (Ngôi nhà cổ của ông Trạng).

1. Một con người liêm khiết

Mạc Đĩnh Chi vốn là người sống rất thanh liêm, cương trực, vì thế tuy ông làm quan lớn song gia cảnh vẫn thanh bần, được nhiều người dân kính phục, yêu mến. Có lần, vào năm 1323 triều vua Trần Minh Tông, Vua cho gọi viên quan nội thị đến nói nhỏ:

– Trẫm nghe nói các quan và dân chúng đều khen Mạc Đĩnh Chi là người thanh khiết, cương trực lắm. Trẫm định thử xem có đúng như lời đồn chăng?

Nói đoạn, Vua lấy mười quan tiền đặt vào tay viên quan nội thị; rồi ghé tai thì thầm to nhỏ. Viên quan nội thị tâu:

– Thần sẽ làm đúng như ý lời sai bảo.

Sáng hôm sau, Mạc Đĩnh Chi dậy sớm hơn thường lệ. Lúc trời còn chưa sáng hẳn, ông đã tập xong 2 bài quyền. Ông vươn người hít thở bầu không khí trong lành buổi sớm. Xong việc thường lệ, ông lững thững đi vào nhà. Vừa bước lên bậc cửa, ông bỗng kêu lên kinh ngạc:

– Ô ! tiền của ai đánh rơi mà nhiều thế này?

Ồng nhặt lên đếm, vừa đúng mười quan. Ông nghĩ thầm: “Lạ thật ! Tối qua không có ai lại chơi, sao có tiền rơi được?”. Ông khăn áo chỉnh tề vội vã vào yết kiến nhà vua:

– Tâu bệ hạ, sáng nay Thần nhặt được mười quan tiền ở trước cửa nhà, hỏi khắp nhà mà không ai nhận cả, thần xin trao lại đế bệ hạ trả lại kẻ làm mất.

Nhà Vua mỉm cười gật đầu:

– Không ai nhận, thì người cứ lấy mà dùng…

Mạc Đĩnh Chi tâu

– Thưa bệ hạ, số tiền này không ít, người làm mất chắc xót ruột lắm, vẫn nên tìm người để trả lại thì hơn.

Nhà Vua nói

– Nhà ngươi cứ an tâm giữ lấy mà dùng. Đây là tiền thưởng cho lòng chính trực, liêm khiết của nhà ngươi.

Bấy giờ Mạc Đĩnh Chi mới vỡ lẽ, ra là nhà vua thử lòng mình. Ông chào tạ ân rồi trở về.

2. Bài phú Ngọc liên tỉnh

Tương truyền tướng mạo của Mạc Đĩnh Chi trông khá khó coi; thân người vừa lùn lại vừa đen, miệng rộng, trán dô, mũi tẹt . Song ông lại rất thông minh, từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng. Năm 1304, ông đi thi, tuy bài làm của ông hay hơn cả, nhưng vua nhìn thấy ông xấu xí, nên không muốn để ông đỗ đầu. Ông biết ý vua, nên làm bài phú Ngọc liên tỉnh (ý là Hoa sen trong giếng ngọc) dâng vua, vừa nói lên phẩm giá thanh cao mà cũng là gửi gắm ý chí của mình.

Trong bài phú như sau:

Tiếng Hán Hán Việt
玉井蓮賦  Ngọc tỉnh liên phú
客有: Khách hữu:
隱几高齋,夏日正午。
臨碧水之清池,詠芙蓉之樂府。
Ẩn kỷ cao trai, hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì, vịnh phù dung chi Nhạc phủ
忽有人焉: Hốt hữu nhân yên:
野其服,黃其冠。
迥出塵之仙骨,凜辟穀之臞顏。
問之何來,曰從華山。
迺授之几,迺使之坐。
破東陵之瓜,薦瑤池之果,
載言之琅,載笑之瑳。
Dã kỳ phục, hoàng kỳ quan.
Huýnh xuất trần chi tiên cốt, lẫm tích cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết tòng Hoa San.
Nãi thụ chi kỷ, nãi sử chi toạ.
Phá Đông Lăng chi qua, trãi Dao Trì chi quả,
Tái ngôn chi lang, tái tiếu chi tha.
既而目客曰: Ký nhi mục khách viết:
子非愛蓮之君子耶!
我有異種,藏之袖間。
非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。
非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。
非陶令東籬之菊,非靈均九畹之蘭。
乃泰華山頭玉井之蓮。
Tử phi ái liên chi quân tử gia!
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc, phi Linh quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái Hoa san đầu ngọc tỉnh chi liên
客曰: Khách viết:
異哉!豈所謂藕如船兮花十丈,冷如霜兮甘比蜜者耶!
昔聞其名,今得其實。
道士欣然,乃袖中出。
客一見之,心中鬱鬱。
乃拂十樣之牋,泚五色之筆。
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng, lãnh như sương hề cam tỷ mật giả gia!
Tích văn kỳ danh, kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, thử ngũ sắc chi bút.
以而歌曰: Dĩ nhi ca viết:
架水晶兮為宮,
鑿琉璃兮為戶。
碎玻璃兮為泥,
洒明珠兮為露,
香馥郁兮層霄,
帝聞風兮女慕。
桂子冷兮無香,
素娥紛兮女妒。
採瑤草兮芳州,
望美人兮湘浦。
蹇何為兮中流,
盍將返兮故宇。
豈護落兮無容,
嘆嬋娟兮多誤。
苟予柄之不阿,
果何傷兮風雨。
恐芳紅兮搖落,
美人來兮歲暮。
Giá thuỷ tinh hề vi cung,
Tạc lưu ly hề vi hộ.
Toái pha ly hề vi nê,
Sái minh châu hề vi lộ,
Hương phức uất hề tằng tiêu,
Đế văn phong hề nữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương,
Tố Nga phân hề nữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu,
Vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu,
Hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thiền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Khủng phương hồng hề dao lạc,
Mỹ nhân lai hề tuế mộ.
道士聞而嘆曰: Đạo sĩ văn nhi thán viết:
子何為哀且怨也!
讀不見鳳凰池上之紫薇,白玉堂前之紅藥!
敻地位之清高,藹聲名之昭灼。
彼皆見貴於聖明之朝,子獨何之乎騷人之國!於是有感其言,起敬起慕。
哦誠齋亭上之詩,庚昌黎峰頭之句。
叫閶闔以披心,敬獻玉井蓮之賦
Tử hà vi ai thả oán dã.
Độc bất kiến Phượng Hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược!
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc!
Ư thị hữu cảm kỳ ngôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến “Ngọc tỉnh liên” chi phú.

Dịch nghĩa 

Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghế; trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung.

Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi “Ở đâu lại”, rằng “Từ Hoa San”.
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông Lăng đem cắt; quả Dao trì đem mời.
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.

Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục1Lấy ý từ câu thơ cổ: “Đào, lý mãn sơn tổng thô tục” (Hoa đào, hoa mận đầu núi đều là thứ thô tục); chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh2Cẩu kỷ tăng phòng: Tên một cây thuốc; mẫu đơn đất Lạc nào tầy3Mẫu đơn đất Lạc: Đất Lạc Dương (Trung Quốc) là nơi có hoa mẫu đơn đẹp nhất, nên người ta cũng thường gọi là Hoa Lạc Dươc.
Giậu Đào Lệnh4Giậu Đào Lệnh: Đào Lệnh tức Đào Tiềm đời Tấn, làm quan lệnh ở Bành Trạ Thơ Đào Tiềm có câu: “Thái cúc đông ly hạ” (Hái hoa cúc ở dưới giậu phía đông) cúc sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây.

Khách rằng:
Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: “Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật” đó ư ?
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm sắc thấm ngay.

Làm bài ca rằng:
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố Nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân.

Đạo sĩ nghe mà than rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy: hoa tử vi trên ao Phượng hoàng, hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý: cõi tao nhân anh đi mãi sao đang.

Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai; họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng, kính dâng bài “Ngọc tỉnh liên” phú.

Vua xem xong bài phú, rất cảm phục, liền chấm cho Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên.

3. Đối đáp ở quan ải

* Năm 1308, Vua Anh Tông ra chiếu cử Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên. Khi ấy là vào đầu hạ, tuy trời ít mưa, nhưng đã mưa thì mưa như trút nước từ; đường xá, đồng ruộng, đều một màu nước trắng băng, việc đi lại trở nên khó khăn hơn. Vì vậy mà đoàn sứ bộ đến quan ải chậm mất 2 ngày. Quan coi ải nhất mực không cho qua, Mạc Đĩnh Chi lấy làm bực lắm, toan quay  trở  về.  Nhưng  nghĩ  đến mệnh vua đang gánh vác chưa trọn nên nán lại xin đi. Ngầm nghĩ hồi lâu, quan coi ải nói:

– Nghe nói ngài là người có tài văn chương, tài ấy há chăng nên sử dụng lúc này. Bây giờ tôi ra 1 vế câu đối, nếu đối được sẽ mở ải cho đi; bằng không, xin mời ngài quay lại.

Yên lặng giây lát, viên quan nọ ra đối:

Quá quan trì, quan quan bế, át quá khách quá quan.

(Đến cửa ải chậm, người coi cửa đóng cửa không cho khách qua)

Đây thật là một câu đối hiểm hóc, câu có mười một chữ mà riêng chữ “quan” nhắc lại tới 4 lần. Chữ “quá” nhắc lại 3 lần. Mạc Đĩnh Chi cảm thấy khó đối, nhưng nếu im lặng thì e không được. Ông bèn nhân cái khó đối ấy, ứng khẩu đọc một câu rằng:

Xuđối dđốđối nan, thnh tiên sinh tiên đối. 

(Ra đối thì dễ, đối lại thì khó, mời tiên sinh đối trước).

Tưởng là đã bí, thế mà lại hóa ra có câu đối hay. Quan coi ải phải chịu Mạc Đĩnh Chi có tài ứng biến, liền mở cửa ải để ông đi.

4. Đối đáp với vua Nguyên

* Khi Mạc Đĩnh Chi bệ kiến vua Nguyên, vua Nguyên muốn thử tài văn chương của Trạng; đồng thời cũng muốn dò xem khí tiết của viên bồi thần 5Bồi thần: Bề tôi của một nước chư hầu đối với hoàng đế phương Bắc này ra sao. Liền ra một câu đối.

Nht ha vân yên, bch đán thiêu tàn ngc th.

(Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vừng trăng)

Mạc Đĩnh Chi biết vua Nguyên tự mình kiêu hãnh, tự coi mình là mặt trời còn xem nước Nam như mặt trăng. Vào ban ngày mặt trăng nhất định bị mặt trời thôn tính; ông bèn ứng khẩu đối ngay:

Nguyt cung, linh đan, hoàng hôn xlc kim ô.

(Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời)

Về đối ra đã giỏi mà vế đối lại càng giỏi hơn. Vua Nguyên nghe câu đối, biết mình bị trả miếng rất bực, nhưng cũng hết sức kính phục Mạc Đĩnh Chi, bèn thưởng cho ông rượu ngon cùng rất nhiều vàng và lụa.

5. Bài thơ đề quạt

* Một hôm, Mạc Đĩnh Chi cùng sứ thần Cao Ly vào vấn an vua Nguyên. Nhân có sứ thần ngoại quốc dâng chiếc quạt quý; vua Nguyên liền bắt hai sứ làm thơ đề quạt để so tài cao thấp.

Mạc Đĩnh Chi còn đang tìm tứ thơ, thì sứ bên Cao Ly đã cầm bút viết thoăn thoắt. Nhác theo cán bút lông, ông thấy sứ Cao Ly viết rằng:

Un long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công,

Đông hàn thê, thê Bá Di, Thúc T.

(Nóng nực oi ả thì như Y Doãn, Chu Công

Rét mướt lạnh lùng như Bá Di, Thúc Tề).

Thế là ông vội lấy ý ấy và viết luôn:

Lưu kim thước thch, thiên địa vi lô,

Nhĩ ư tư thi h, Y, Chu cnhu (nho).

Bc phong klương, tuyết vũ tái đồ,

Nhĩ ư tư thi h, Di, Tngã phu.

Y! Dng chi tc hành, xchi tc tàng

Duy ngã dnhĩ hu thphù!

Ý là

(Chảy vàng tan đá, trời đất là lò lửa

Ngươi lúc ấy như Y Doãn, Chu Công là những bậc cự nho.

Gió bấc lạnh lùng, mưa tuyết đầy đường

Ngươi lúc ấy như Bá Di, Thúc Tề là những ông già chết đói.

Ôi! Dùng thì chuyên tay, bỏ thì xếp xó

Chỉ có ta với ngươi là như thế chăng?)

Cuối cùng, bài thơ của Mạc Đĩnh Chi xong trước, mà ý tứ lại cao diệu hơn so với bài thơ của sứ Cao Ly. Vua Nguyên xem xong gật gù khen mãi; rồi phê từ chữ “y” (ôi!) trở xuống bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Nhưng vua Nguyên nào có hiểu được ý thơ của Mạc Đĩnh Chi. Bài thơ thực chất là cảm xúc bực dọc của người trí thức với Vua. Vua đối đãi với người tài khi hậu, khi bạc; chẳng khác gì với chiếc quạt, lúc cần thì chuyên tay, khi không cần thì xếp xó!

Mạc đĩnh chi

Mạc đĩnh chi – bài thơ đề quạt

6. Giải oan

Vào một buổi chiều mùa hè, trời nóng như đổ lửa, Mạc Đĩnh Chi và mọi người lúc ấy dừng chân nghỉ tại một quán nước ven đường. Chủ quán là một bà cụ tóc bạc phơ ra đón khách. Gần đấy có một cái giếng. Trên miệng giếng có viết 5 chữ: “Ngân bình, kiên thượng tị”. Thấy lạ, Mạc bèn hỏi nguyên do. Bà cụ kể:

– Xưa có một cô hàng nước học giỏi chữ thông. Nên gần đấy có một anh học trò muốn ngấp nghé. Cứ đi học về lại vào quán của cô hàng nước tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói với anh ta:

– Thiếp là con nhà lương dân, có học đòi bút nghiên; mà chàng cũng là con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời định, thực cũng xứng đôi vừa lứa lắm. Nhưng mà thiếp còn chưa được biết chàng tài học ra sao; vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu đối được, thiếp xin tình nguyện nâng khăn sửa túi; bằng không, thì xin chàng chớ quấy rày. Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nước nhân trông thấy cái ấm tích bằng bạc, bèn ra câu đối rằng:

“Ngân bình, kiên thượng tị”

(Bình ngọc, mũi trên vai. Ý nói cái vòi trên cổ ấm).

Anh học trò nghĩ mãi mà không ra được vế đối, xấu hổ quá, nghĩ quẩn mà đâm đầu xuống giếng đó chết. Ít lâu sau, dân làng cho viết vế câu đối ấy lên thành giếng để  thử tài thiên hạ. Nhưng trước giờ chưa ai đối được.

Nghe đến đây, Mạc cười nói:

– Câu đối ấy dễ thế mà sao không đối được, lại phải ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi, để ta đối giùm giải thoát cho hồn kẻ thư sinh

Mạc Đĩnh Chi bèn đọc:

“Kim tỏa, phúc trung tu”

(Khóa vàng, râu trong bụng. Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa).

Sau đó, Mạc sai người viết câu ấy lên thành giếng bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa.

Mọi người đều chịu ông đối giỏi.

7. Tiếng sấm đất

Tiếng sứ giả An Nam: Mạc Đĩnh Chi vừa hay chữ vừa đối đáp giỏi, đã truyền khắp cả triều đình nhà Nguyên. Cả triều đều xôn xao bàn tán. Ai cũng muốn chơi sứ An Nam một vố thật đau để làm bẽ mặt sứ thần. Cuối cùng, viên Thừa tướng đưa ra một kế:

– Tâu bệ hạ, thần có một kế, mấy hôm nữa khi hắn ta đến cả triều đình mũ áo cân đai chỉnh tề ra đón, sai hết cả cung phi và thị tì ra để mua một trận cười.

Vua Nguyên sốt sắng hỏi:

– Kế đó ra làm sao, hãy nói trẫm nghe thử.

– Tâu bệ hạ, trước cổng thành ta cho đào một cái hố tròn và sâu; trên cho bịt da thật căng để làm thành một cái trống đất đặc biệt. Chờ khi hắn đến bèn sai người gõ thật to. Tiếng trông sẽ như tiếng động đất, như vậy hắn ta và tùy tùng phải khiếp đảm nhớn nhác, ngựa cũng kinh sợ chạy tán loạn.

Vua nguyên khen là kế rất hay, hạ chiếu cho làm lập tức.

Về đoàn sứ thần An Nam. Do đi đã lâu ngày, dầm mưa dãi nắng, gội sương gió đã nhiều. Ai nấy cũng đều mệt mỏi, nước da đen sạm vì cháy nắng. Con ngựa của trạng Mạc cũng tới hồi kiệt sức lắm rồi, bước đi khấp khểnh, quất roi vào mông đen đét nó vẫn ỳ ra. Khi trông thấy thành trì nhà Nguyên trước mắt, mọi người vui mừng reo lên, trong người nhẹ đi như trút được gánh nặng, hồ hởi bước tới cổng thành. Lúc ấy vào buổi chiều tà, sửa thành cờ xí rợp trời, người đông nghịt đứng giạt hai bên. Vua nhà Nguyên khoác áo bào đỏ, ngồi chễm chệ trên cổng thành.

Mạc Đĩnh Chi cùng đoàn sứ vừa đi tới, thì bỗng từ đâu tiếng trống đất bục bục, bục bục dội vang dưới chân. Ai nấy trong đoàn cũng đều ngơ ngác. Con ngựa của Mạc Đĩnh Chi sợ quá không biết chạy chỗ nào liền ngã quị xuống đất. Cả triều đình nhà Nguyên reo cười ầm ỹ. Trên cổng thành Vua Nguyên khoái chí cười tít cả mắt, ra vẻ đắc chí lắm. Lúc ấy Mạc Đĩnh Chi cũng bối rối nhưng ông trấn tĩnh lại được ngay. Chẳng thèm đếm xỉa gì đến vua Nguyên đang ngồi trên cổng thành nữa, ông cau mặt lại nói lớn:

– Có gì mà các ngài cười to vậy? Tôi biết lắm! mùa này làm gì có sấm đất. Thấy có tiếng động lạ, tôi cho ngựa quỳ xuống lắng tai nghe xem có phải sấm đất chăng?

Từ trên lầu cao vua Nguyên gật đầu khen:

– An Nam Trạng quả là nhanh trí.

8. Chuyện xảy ra trong phủ Tể tướng

Một  hôm nhân việc  quan nhàn rỗi,  Mạc  Đĩnh Chi ghé thăm phủ Thừa  tướng  nước  Nguyên. Trong phủ trang hoàng lộng lẫy, còn treo một bức trướng to tướng, trên trướng thêu một con chim sẻ đậu cành trúc trông như chim thật. Mạc lại gần xem, Thừa tướng và các quan nhà Nguyên cười.

– A, sứ thần “An Nam” thấy lạ lắm phải không? Ha ha!

Mạc  Đĩnh Chi không nó gì, thẳng tay  kéo  soạt làm bức  trướng  rách toang. Rồi tiện tay  xé  luôn mấy cái nữa, khiến bức tường rách toang ra từng mảnh rơi lả tả.

Một viên quan hốt hoảng kêu lên

– Sao ngài lại xé? Sao ngài lại xé bức trướng quý này? .

Mạc Đĩnh Chi nghiêm mặt lại nói rằng:

– Tôi thấy người xưa chỉ vẽ cây mai với chim sẻ thôi. Vì trúc là quân tử, chim sẻ là tiểu nhân, nay Thừa tướng lại lấy trúc đi với sẻ thêu vào trướng, như vậy há chẳng phải là tiểu nhân ở trên quân tử sao?. Tôi sợ đạo tiểu nhân lại lớn lên, đạo quân tử lại mòn đi, nên vì thánh triều mà trừ bỏ nó, chứ thứ ấy đâu quý giá nỗi gì?

Viên Thừa tướng nghe vậy ức lắm, song cũng chảng có cớ gì để quở trách hoặc bắt đền được. Bấy lâu nay ông ta đã từng tự hào có bức trướng đẹp này, nay bỗng dưng rách tan từng mảnh, đúng thật là tai bay vạ gió. Tiếc rẻ mãi, mà chỉ dám xuýt xoa trong lòng.

Tối hôm ấy, để trả miếng. Quan tể tướng cho bày tiệc trà ở giữa sân để tiếp khách và hóng mát. Rồi sai người mời Mạc Đĩnh Chi đến cùng uống trà và ngâm vịnh. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, chủ cùng khách ngồi uống trà thân mật; thỉnh thoảng Mạc lại ngâm một câu thơ, chủ cũng ngâm họa lại. Hai người cân sức cân tài chẳng ai chịu kém cạnh.

Đêm càng khuya, trăng càng sáng, cảnh cành tĩnh mịch, cả chủ lẫn khách lại càng say mê gửi gắm lời thơ của mình.  Khách lúc  nào  trong lòng cũng thoải mái thanh thản,  thả tâm hồn vào thơ, vào cảnh. Chủ đôi lúc lại nhớ đến bức trướng rách mà trong lòng ấm ức. Khi tiệc sắp tan ông ta định trả miếng lại chuyện ban chiều,  liền cầm một  chiếc  chén rồi lý  sự với Mạc rằng:

– Cây kỷ là gỗ, cái chén không phải là gỗ, tại sao lại lấy gỗ làm chén?

Mạc Đĩnh Chi thấy câu hỏi thật vô lý, ông bèn cười mà hỏi lại rằng:

– Thưa ngài Thừa tướng!: Phật không phải là người, thầy tăng là người, vậy cái gì đã khiến cho thầy tăng thờ Phật?. Ngài hãy giải thích được chăng.

Thừa tướng cười xí xóa, lúc tan tiệc hai người dắt tay nhau vào trong nhà. Vừa bước chân lên bậc cửa, thừa tướng lại ra vế đối:

– An khử nữ dĩ thỉ vi gia (Chữ an bỏ chữ nữ đi, thêm chữ thỉ vào thành chữ gia (nhà)).

Mạc Đĩnh Chi thấy đây là một lối chơi chữ rất thâm thúy của quan tể tướng. Nói như vậy có nghĩa là nhà Nguyên cần phải xóa bỏ nước An Nam để nhập thành châu huyện của họ. Mạc lập tức đối lại ngay:

– Tù xuất nhân, lập vương thành quốc (Chữ tù bỏ chữ nhân đi, thêm chữ vương vào thành chữ quốc).

Ý là dân An Nam nhất định xóa bỏ sự độ hộ, đè nén của nước lớn, xây dựng một quốc gia độc lập. Thực đúng là chữ đối chữ, ý đối ý.

9. Tài ứng đối

Lại một khác, mấy viên quan nhà Nguyên cho đào một cái hố sâu, đan phên đậy lên rồi lấp một lần đất mỏng. Hôm sau họ đến mời Mạc Đĩnh Chi cùng đi thăm cảnh. Mạc nhận lời. Lúc sông, họ nhường ông lên cầu trước. Nhưng vừa mới cất ngựa lên cầu thì sụp ngay xuống hố. Mấy viên quan cười lớn nói:

– Chúng tôi ra một vế câu đối, nếu ông đối được thì chúng tôi sẽ kéo lên. Mạc Đĩnh Chi gắt:

– Thì các ông cứ ra đối đi!

Một viên quan đọc:

Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tư đạo

(Gỗ thẳng, cẳng ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng).

Câu này lại toàn tên người ghép lại: Can Mộc, Hoành Cừ, Lục Giả, Tương Như, Tư Đạo, đều là những nhân vật nổi tiếng xưa của Trung Quốc. Mạc Đĩnh Chi ở dưới hố, trước khi ngã có trông  thấy một cái đình tựa ở chân núi ở bên kia sông, bèn đối lại:

Đại đình, an thạch, vọng chi nghiễm nhược thái sơn

(Đình to, đá vững, nhác trông ngỡ thế Thái Sơn).

Câu này cũng lại toàn tên người ghép lại, cũng lại là những người nổi tiếng xưa nay: Đại Đình, An Thạch, Vọng Chi, Nghiễm Nhược, Thái Sơn.

Mấy viên quan nọ phục tài ứng biến của họ Mạc, bèn xúm nhau đỡ ông lên khỏi hố.

10. Bài điếu văn

Chỉ còn mấy hôm nữa là đoàn sứ bộ sẽ lên đường về nước. Công việc chuẩn bị cho ngày về rất gấp rút. Từ phương tiện đi lại, cho đến lương ăn nước uống. Còn phải chuẩn bị cho buổi diện kiến vua Nguyên vào ngày cuối cùng sao cho tốt đẹp .v.v.. Tất cả khiến Mạc Đĩnh Chi chẳng lúc nào rảnh tay được một chút. Ông còn đang lo tính thu xếp công việc thì sứ thần của nhà vua tới nói:

– Thưa ngài! sáng nay không may bà trưởng công chúa qua đời, nhà vua vô cùng thương tiếc lúc nào cũng túc trực bên linh cữu.  Cả triều đình đều đang bận rộn chuẩn bị cho đám tang.  Ngài là Trạng nguyên của triều đình chắc cũng phải đóng góp một phần công sức.

Mạc Đĩnh Chi hỏi:

– Ông nói đi, tôi có thể giúp được gì?

– Thưa ngài! ngài có thể viết một bài điếu văn để đọc trước đám tang, lời lẽ sao cho giản dị mà súc tích là được. Đó cũng là điều mong mỏi của nhà cua

Mạc Đĩnh Chi đáp

– Thôi được, ông cứ về đi tôi sẽ làm tròn bổn phận.

Công việc chuẩn bị cho ngày về vẫn được Mạc gấp rút  tiến hành.  Người ta chỉ thấy ông chú tâm thu xếp mọi việc cho ngày về chứ không hề bận tâm đến việc viết bài điếu văn. Có người lo lắng hỏi thì ông cười bảo:

– Được rồi, đâu sẽ vào đó. Không thấy ta đã viết rồi đó sao?

Mạc Đĩnh Chi chỉ vào tờ giấy đặt ở trên bàn. Mọi người hết sức ngạc nhiên khí thấy trên tờ giấy chỉ viết bốn chữ “nhất” (một). Đây là một bài điếu văn sao? Sao có thể chỉ có ngần ấy chữ được?.

Mấy hôm sau, đám tang được cử hành một cách long trọng. Tất cả văn võ bá quan trong triều đều có mặt đông đủ cả. Sau điệu nhạc “lâm khốc” mọi người đều sụt sùi thương xót. Khi ấy, Mạc Đĩnh Chi mới đủng đỉnh đi đến bên linh cữu, tay dâng tờ điếu văn. Cả triều đình đều tròn to mắt ngạc nhiên vì thấy trên tờ giấy chỉ có bốn chữ “nhất” to tướng. Mạc Đĩnh Chi tằng hắng lấy giọng đọc:

Thiên thượng nhất đóa vân

Không trung nhất điểm tuyết

Lăng uyển nhất chi hoa

Quảng hàn nhất phiến nguyệt

Y! vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.

Nghĩa là

Trên trời một đóa mây

Không trung một giọt tuyết

Một nhành hoa trong vườn thượng uyển

Một mảnh trăng trong cung Quảng Hàn

Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết.

Ông vừa đọc dứt lời mọi người đều nghẹn ngào xúc động. Tuy chỉ có bốn chữ “nhất” nhưng Mạc Đĩnh Chi đã đọc thành một bài điếu văn súc tích. Miêu tả bà trưởng công chúa như áng mây đẹp trên bầu trời xanh; như bông tuyết trắng giữa không trung; như bông hoa đẹp trong vườn vua; như vầng trăng sáng trong cung Quảng Hàn. Nay bà chết đi là tổn thất rất lớn, cũng như Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết mà thôi. Thương tiếc thay, nhưng đó là tạo hóa sinh ra vậy.

11. Đọ tài lần cuối

Sáng nay Mạc Đĩnh Chi khăn mũ chỉnh tề vội vã vào chầu tạ biệt vua Nguyên để về nước. Trong lòng ông mừng lắm suốt đêm qua không sao chợp mắt được, cứ nghĩ đến lúc về quê hương được gặp gỡ người thân, bạn bè, lòng ông lại rộn ràng xao xuyến.

Vào tới chầu, ông đã thấy các quan văn võ nhà Nguyên đã tề tựu đông đủ. Ông rảo bước tiến lên tâu lớn:

– Dạ muôn tâu bệ hạ! Thần có lời từ biệt, xin chúc bệ hạ vạn thọ vô cương.

Vua Nguyên suy nghĩ giây lát rồi phán xuống:

– Bấy lâu nay,  ngươi ở Yên Kinh  thăm phong cảnh, xem xét thăm thú khắp nơi, ngày nào cũng cưỡi ngựa đi trên đường lớn, thế ngươi có biết mỗi ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường chăng?

Mạc nghĩ! Thật ra là một câu hỏi oái oăm, trên đường phố ở Yên Kinh này hàng ngày có biết bao nhiêu người qua lại, làm sao có thể biết được?

Thấy Mạc ngập ngừng, vua Nguyên và triều thần ra vẻ hí hửng, tưởng rằng phen này Mạc phải chịu trận.

Nhưng Mạc cười rồi tâu:

– Tâu bệ hạ, có hai người chứ mấy?

Vua Nguyên ngạc nhiên hỏi lại:

– Nhà người nói sai rồi, sao lại chỉ có hai người được?

Mạc Đĩnh Chi tâu:

– Tâu bệ hạ, phàm là những kẻ qua lại trên đường lớn ở kinh đô này, thì chẳng vì danh cũng vì lợi. Vậy há chẳng phải chỉ có hai người một vì danh một vì lợi đó sao?

Vua Nguyên trong lòng phục Mạc Đĩnh Chi. Muốn lưu Mạc Đĩnh Chi tại Yên Kinh không cho về An Nam nữa, bèn bày kế đưa Mạc vào tròng:

Vua Nguyên hỏi

– Có một chiếc thuyền trong đó có 3 người là vua,  thầy dạy học, và cha của mình (quân,  sư,  phụ)  bơi đến giữa sông chẳng may thuyền bị đắm. Ngươi chỉ có thể cứu được một người thôi, vậy thì người chọn cứu ai?

Đây là một câu hỏi vô cùng hóc. Nếu Mạc nói chỉ cứu vua thì mắc tội bất hiếu với cha, bất nghĩa với thầy. Nếu chỉ cứu thầy thì mắc tội bất trung với vua, bất hiếu với cha. Nếu chỉ cứu cha thì mắc tội bất trung với vua, bất nghĩa với thầy. Nếu không nói gì tức là không cứu ai tội ấy càng nặng nữa.

Quần thần nhà Nguyên ra vẻ đắc ý đưa mắt nhìn nhau, thầm thì bàn tán, chắc mẩm phen này họ Mạc nhất định mắc tội chém đầu chứ chẳng chơi.

Nhưng Mạc Đĩnh Chi dõng dạc trả lời:

– Tâu bệ hạ ! Thần đứng trên bờ, thấy thuyền bị đắm tất phải vội vã bơi ra cứu, gặp ai trước thì cứu người ấy trước, dù bất kể người ấy là vua, thầy hay cha mình.

Cả triều đình nhà Nguyên đều gật gù khâm phục trước câu trả lời ấy của Mạc.

Nguồn: tổng hợp

Xem thêm:

You may also like