Giai thoại – Truyện về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)

by Moc Lam Quan

Trạng Lường Lương Thế Vinh ( tự là Cảnh Nghị; tên hiệu là Thụy Hiên).  Lương Thế Vinh sinh năm 1411 tại Cao Hương – Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản – Nam Định). Dưới đây là một số câu truyện về Lương Thế Vinh 

1. Thần đồng – Thần chú

Từ bé, Lương Thế Vinh không chỉ nổi tiếng thông minh ham học, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích câu cá, bẫy chim, thả diều cùng với bạn chăn trâu. Diều của Vinh lần nào cũng lên cao hơn và có hình dáng lạ hơn diều của các bạn khac. Diều của cậu không hẳn “cánh thoi” mà cũng chẳng giống “cánh tiên”. Vinh cắt một khúc dây mướp già, rồi chẻ và vót mỏng thành một cái mang, rồi căng trên một thanh tre mảnh uốn cong thành một cái “ve”. Buộc chiếc ve này lên diều mà thả. Khi gió thổi màng rung lên kêu ve ve nghe rất vui tai. Cậu còn làm 2-3 cái “ve” to nhỏ khác nhau buộc thành một bộ. Khi thả diều, tiếng ve trầm bổng rất du dương.

Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng câu được nhiều cá hơn và cá to hơn. Chiếc bẫy bẫy chim trả mà cậu tạo cũng rất tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên thán phục.

Người thời đó người ta gọi cậu là “thần đồng”. Nhưng bọn trẻ chơi cùng cậu chả hiểu “thần đồng” là gì. Chúng cứ ngỡ Lương Thế Vinh hay ở ngoài đồng nên người ta gọi là “thần” ở ngoài “đồng”. Rồi một chuyện xảy ra, khiến bọn trẻ nghĩ cậu là “thần thánh” thực sự.

Hôm đó cậu đem một trái bưởi ra chỗ bạn bè chăn trâu làm quả bóng để cùng đá chơi. Đang đá hăng thì bỗng quả bưởi lăn xuống một trong những cái hố bên mép bãi mà người ta đào để ngăn trâu bò khỏi phá lúa. Cái hố vừa hẹp lại vừa sâu lội không xuống mà cũng không thể với tay lấy lên được. Bọn trẻ tưởng thế là nghỉ chơi, nhưng Lương Thế Vinh nghĩ một lát, rồi bảo các bạn đi mượn vài chiếc gầu giai để múc nước đổ xuống hố. Bọn trẻ không hiểu Vinh làm vậy để làm gì. Nhưng lát sau, thấy Vinh cúi xuống lượm quả bưởi lên, chúng rất sửng sốt phục tài Vinh.

Từ đó trẻ con trong làng truyền nhau rằng: Lương Thế Vinh có một câu “thần chú” hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri lại với mình.

Thực ra trước đó Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi quả bưởi xuống ao nước, tưởng mất rồi. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi lên trên, Vinh đả lấy cành tre chòi vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi lăn xuống hố, cậu chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống hố cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ ca hò vè, nên lúc cúi xuống chờ bưởi, cậu vui miệng ứng khẩu đọc lẩm nhẩm:

Bưởi ơi bưởi

Nghe tao gọi

Lên đi nào

Đừng quên lối

Đừng bỏ tao

Bưởi ơi bưởi…

Và bọn trẻ nghĩ rằng Vinh đọc “thần chú”.

2. Con vỏi con voi, cái vòi bằng … con

Hồi bé Vinh cùng lũ trẻ trong làng hường nghe chuyện Bà Trưng-Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc, nên Vinh mê voi lắm… Một hôm có mấy người quản tượng cưỡi một con voi qua làng. Vinh và lũ bạn rất khoái, theo chân đi xem đến tận làng bên.

Hôm sau, Vinh liền tổ chức một cuộc thi nặn voi với đám bạn. Bọn trẻ nặn được chín mười con voi nhưng hình thù kỳ dị, con thì chỉ giống cái vòi, con chỉ giống cái chân còn đầu thì giống đầu trâu… Bọn trẻ buồn cười chảy cả nước mắt, rồi bọn chúng dương như nhớ ra điều gì, liền hỏi Vinh:

– Vinh ! Voi của cậu đâu?

– Vinh đáp: Voi ở ngoài này!

Rồi Vinh chạy trước, dẫn bọn trẻ đến một chỗ úp chiếc nón lá, Vinh vừa hé chiếc nón vừa hô: – Voi ơi ra đi!

Tức thì voi lững thững bước ra, Cái vòi co vào… ra, hai tai vẫy vẫy. Bọn trẻ lúc đầu hơi hoang mang nhưng sau lại thích thú hò reo ầm ỹ:

– Thích quá!

– Giỏi quá! Giỏi quá!

Tiếng vỗ tay la hét ầm ầm. Bỗng chú voi ngã lăn kềnh ra đất gãy cả chân, mấy con cua chạy ra tứ phía.

Lương Thế Vinh

Trạng Lường cân voi (ảnh minh họa)

Thì ra Vinh nặn voi bằng đất; rồi bốn chân voi ấn lên bốn con cua; lấy con đỉa làm cái vòi voi; hai con bướm ghim vào đầu voi để làm tai… Quả thực cậu bé Vinh rất có tài quan sát nên con voi của cậu thật sống động.

Mãi về sau này trong làng Vinh và các làng bên, bọn trẻ vẫn còn hát bài đồng dao để tả con voi của mình.

Con vỏi, con voi

Cái vòi bằng… con đỉa

Bốn chân bệ vệ

Trên bốn cua càng

Cái đuôi thằn lằn

Nhóc nha nhóc nhách

Hạt cườm, làm mắt

Con vỏi, con vòi

Cái vòi bằng… con đỉa

3. Chơi mà học – học mà chơi

Lương Thế Vinh là người biết kết hợp giữa chơi và học, nên từ nhỏ cậu bé Vinh không bị áp lực về việc học mà lại đạt kết quả cao.

Khác  với những  người chỉ biết học vẹt, Vinh học đến đâu thì lại muốn thực nghiệm những điều đã học vào đời sống tới đó. Lúc thả diều, Vinh rung sợi dây diều để ước lượng chiều dài, độ cao. Khi câu cá, Vinh tìm hiểu ước tính đo lường chiều sâu, chiều rộng của ao hồ, sông ngòi…. Vinh còn nghĩ ra cách đo bóng cây để tính chiều dài của cây.

Tới nay dân gian vẫn còn truyền lại câu chuyện sau đây:

Thời đó!  Quách Đình Bảo và Lương Thế Vinh là hai người nổi tiếng vùng Sơn Nam (này thuộc Thái Bình – Hà Nam) về độ thông minh học giỏi. Một hôm sắp đến kỳ thi, Lương Thế Vinh  sang thăm Quách Đình Bảo ở làng Phúc Khê – Sơn Nam hạ để  bàn chuyện cùng lên kinh ứng thí.

Đến đầu làng,  Vinh ghé vào quán nước nghỉ chân.  Vinh nghe thấy người trong quán kháo nhau rằng  Quách Đình Bảo đêm dùi mài kinh sử, quên ăn quên ngủ. Chắc chắn kỳ này Bảo phải đứng hạng nhất. Vinh nghe vậy cười nói:

– Kỳ thi tới nơi mà vẫn còn chúi đầu vào sách vở, cố tụng niệm nhét thêm vài chữ. Vậy cũng được gọi là biết học sao? Giờ ta có vào cũng chẳng có gì mà bàn bạc nữa. – Nói xong Vinh bỏ ra về.

Quách Đình Bảo nghe được chuyện ấy, gật gù bảo:

– Người đó chắc hẳn là Lương Thế Vinh! Ta phải đi gặp mới được!

Thế là Bảo khăn gói tìm đến Cao Hương thăm Vinh. Bảo chắc mẩm rằng đến nhà sẽ gặp ngay Vinh đang đọc sách. Nhưng đến nơi thì Vinh đi vắng, người nhà bảo “Vinh đang chơi ngoài bãi”.

Bảo ra bãi tìm, quả thấy Vinh đang thả diều chơi cùng bạn bè ngoài ấy, hơn nữa Vinh lại rất ung dung thư thái. Bảo phục lắm tự nhủ:

– Người này nét mặt khôi ngô tuấn tú, phong thái ung dung đĩnh đạc. Ta có học mấy cũng không thể theo kịp được.

Quả nhiên khoa Quí Mùi năm Quang Thuận thứ 4 đời vua Lê Thánh Tông (1463). Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên, Quách Đình Bảo chỉ đỗ Thám hoa (đỗ thứ ba). Năm ấy Lương Thế Vinh mới 20 tuổi.

Dân gian còn đồn rằng: Khi Lương Thế Vinh “vinh qui bái tổ” võng lọng về làng. Vinh bảo lính rẽ qua bãi chăn trâu,  nơi có bầy trẻ chăn trâu thường ngày hay chơi với ông. Thế là đoàn người gồm cả xa giá, võng lọng, lẫn trẻ con, trâu bò cùng về làng. Không khí vô cùng hoan hỉ và thân tình.

4. Đại thành toán pháp

Thời xưa học trò đi học chỉ  chú  trọng  học  chữ,  học nghĩa.  Nhưng  Lương  Thế  Vinh  thì  chẳng những giỏi văn hay chữ mà còn giỏi tính toán. Ông có nhiều phát minh và  ứng dụng của toán học vào đời sống.

Một lần, trên đường đi kinh lý qua một cánh đồng, ông thấy hai người nông dân đang tranh cãi để chia đôi một mảnh đất có hình dạng phức tạp. Nghe rõ chuyện, ông xắn quần lội xuống tận ruộng để giúp  họ  chia  lại cho đúng.

Lại một lần khác, Lương Thế Vinh gặp lúc người ta đang phải tính chiều rộng của một khúc sông để chuẩn bị làm cầu. Nước sông chảy rất xiết, thuyền bè qua lại để căng dây rất khó khăn. Vinh nói:

– Cứ để đấy! Không cần phải sang sông mới đo được!

Ông dùng phương pháp mà ngày nay ta gọi là “tam giác lượng”, ông đã đo chính xác chiều rộng của khúc sông. Sau khi bắc cầu xong, người ta đo lại thì quả không sai một chút nào!

Để phổ biến rông rãi kiến thức toán vào đời sống, Lương Thế Vinh đã biên soạn ra cuốn “Đại thành toán pháp”. Trong cuốn sách này, ông tổng hợp những kiến thức toán của thời đó và cả những phát minh của mình. Mở đầu cuốn sách Lương Thế Vinh có viết một bài thơ khuyên mọi người học toán:

Trước thời cho biết cách thương lường

Tính toán bình phân ở cửu chương

Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển

Học lấy cho tinh giúp thánh vương!

Trong sách dạy các kiến thức về toán học như: phép nhân, phép khai căn, phép chia đều, phép chia khác nhau, phép tam giác đồng dạng; cùng hệ thống đo lường cân,  đo,  đong,  đếm,  đơn vị tiền,  vải v.v…,  Ngoài ra còn các phép toán đo đạc  ruộng,  đo diện tích các  hình.

Ở trong mỗi phần, mỗi phương pháp, ông đều có đề thơ cho người ta dễ nhớ. Như trong phép cộng hai phân số cùng mẫu số, ông viết:

Cộng hai phân số cùng số dưới 

Cứ cộng phần trên lại với nhau.

Hoặc khi dạy cách tính diện tích “hình thang”:

Tam giác bị cụt đầu

Diện tích tính làm sao

Cạnh trên, cạnh dưới cộng vào

Đem nhân với nửa bề cao khắc thành!

Cuốn sách “Đại thành toán pháp” của ông đến thế kỷ XIX vẫn được dùng làm sách giáo khoa để dạy toán trong các trường học.

Dân chúng yêu mến ông, thường gọi ông bằng cái tên dân gian là Trạng Lường (nghĩa là ông trạng đo lường). Với sự sáng tạo và tài năng của mình, ông cũng chính là người chế tác ra bàn tính cho người Việt. Ban đầu bàn tính làm bằng đất, sau làm bằng gỗ, bằng trúc, và được sơn nhiều màu sắc khác nhau.

Truyện Lương Thế Vinh

Lương Thế Vinh (ảnh minh họa)

5. Từ bàn tay đến bàn tính

Thời Lương Thế Vinh, các ông cụ tính toán chủ yếu vẫn là hai bàn tay, bằng cách “bấm đốt ngón tay”.

Người xưa dùng việc thắt nút dây để ghi nhớ và tính toán một sự việc. Trên một sợi dây, công thêm một đơn vị thì  thắt  thêm một  nút;  trừ đi một  đơn vị thì cởi ra một nút.

Người xưa còn dùng những đốt xương sống của động vật, xâu nó vào một sợi dây để làm công cụ tính toán. Sợi dây được gập đôi,  khi muốn cộng hay trừ đi bao nhiêu thì đẩy bấy nhiêu các nút qua lại hai phần sợi dây.

Lương  Thế  Vinh ngày đem suy  nghĩ để sáng  chế ra một  công  cụ giúp việc tính toán thuận tiện hơn. Cuối cùng, ông đã phát minh ra bàn tính gẩy, chiếc bàn tính đầu tiên của người Việt. Ban đầu ông nặn những hòn bi bằng đất có đục lỗ ở giữa, phơi khô, rồi xâu vào một cái đũi. Tiếp đó, ông làm nhiều xâu như vậy, buộc cạnh nhau để thành một bàn tính.

Sau này ôn cải tiến dần những “viên tính” từ bằng đất thành những đốt trúc ngắn khoan lỗ ở trong. Rồi dần dà những “viên tính” được thay bằng gỗ và sơn mầu khác nhau.

Điều thú vị là về  sau này khi bàn tính gẩy của  Trung  Quốc   du nhập  sang  nước ta;  thì  hình dáng của chúng chẳng khác gì so với bàn tính của Lương Thế Vinh cả. Đáng phục hơn là cả các quy tắc tính toán cộng, trừ, nhân, chia cũng được Lương Thế Vinh nghĩ ra từ trước rồi.

6. Cân voi to – cân giấy mỏng

Một lần sứ thần nhà Thanh là Chu Hy sang nước ta, vua Lê Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp đón. Chu Hy nghe đồn nước Nam có một ông trạng không chỉ nổi tiếng về văn chương thi phú, mà còn tinh thông cả toán học. Nên Hy hỏi Lương Thế Vinh rằng.

– Có phải ông soạn sách “Đại thành toán pháp”, định thước đo ruộng đất, và chế ra bàn tính của nước Nam chăng?

Lương Thế Vinh đáp:

– Vâng, đúng thế!

Lúc ấy, Chu Hy nhìn thấy có con voi rất to đang kéo gỗ bên sông, liền bảo:

– Vậy Trạng thử cân xem con voi đằng kia nặng bao nhiêu!

Lương Thế Vinh đáp!

– Xin vâng!

Dứt lời, Lương Thế Vinh xăm xăm cầm cân đi cân voi.

Chu Hy cười nói:

– Ta e chiếc cân của ngài hơi nhỏ so với con voi đấy!

Vinh thản nhiên trả lời!

– Thì chia nhỏ voi ra mà cân!

Chu Hy nói:

– Ngài định mổ thịt voi à? Cho tôi xin một miếng nhé!

Lương Thế Vinh không đáp gì. Đến bến sông, Ông chỉ vào chiếc thuyền đang bỏ không, rồi sai lính dắt voi xuống thuyền. Do voi nặng nên thuyền đầm sâu xuống. Lương Thế Vinh sai lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền, rồi dắt voi lên. Tiếp đó, ông ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền. Đá nặng thuyền lại đầm xuống dần cho tới đúng dấu mốc đã vạch khi nãy thì ngưng đổ đá.

Thế rồi trạng cầm đá lên cân. Vinh bảo sứ nhà Thanh:

– Ông ra mà xem tôi cân voi đây!

Sứ Tàu trông thấy rất phục, song vẫn tỏ ra bình tĩnh, tỏ ra coi thường. Khi xong việc, Chu Hy nói:

– Ngài cũng giỏi đấy chứ! Tiếng đồn quả không sai! Nếu Ngài đã cân được con voi to, vậy ngài có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu chăng?

Nói đoan, sứ xé một tờ giấy bản rất mỏng đưa cho Trạng, Hy lại đưa thêm một chiếc thước. Giấy bản thì mỏng mà li chia ở thước lại quá to. Lương Thế Vinh ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Ngài cho tôi mượn cuốn sách mà ngày đã xé tờ giấy này ! Chu Hy đưa sách và cười nói:

– Ngài nghĩ sách có dạy cách đo à? Hay ngài cho là kết quả đã ghi sẵn trong sách? Lương Thế Vinh không nói gì, cầm thước đo cuốn sách, tính toán một lát rồi nói ra con số.

Kết quả rất khớp với con số mà Sứ nhà Thanh đã biết. Nhưng hắn chưa tin tài của Lương Thế Vinh:

– Ngài đoán mò cũng giỏi đấy!

Lương Thế Vinh đáp:

– Thưa không! Việc đo giấy này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dày của cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra. Việc đó thì có gì mà khó đâu!

Sứ nhà Thanh ngửa mặt lên trời mà than rằng: Danh đồn quả không ngoa. Nước Nam quả có lắm nhân tài!

Lương Thế Vinh không chỉ có tài mà Ông còn có khả năng ứng phó nhanh chóng trong lúc bất ngờ. Gặp vật to thì chia nhỏ, gặp vật nhỏ thì gộp to.

7. Nên mừng hay nên lo

Lương Thế Vinh không chỉ là một ông quan tài giỏi, tinh tường phép tính toán. Mà Ông còn nổi tiếng về tấm lòng thương dân và đức tính trung thực.

Ngay  đối  với  cả vua,  ông  cũng  hay  nói thẳng.  Ông thường mượn sự việc để răn dạy từ vua đến quan.

Một lần, lúc chầu lên chầu, vua hớn hở nói với Ông:

– Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!

Lương Thế Vinh tâu:

– Lắm con trai là lắm giặc. Sao không lo cho được!

Vua lấy làm lạ lắm, hỏi:

– Sao khanh lại nói thế?

Lương Thế Vinh thẳng thắng không úp mở:

Ngôi vua chỉ có một. Bệ hạ càng có nhiều con trai thì càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy há không lo sao được!

Sau này, quả đúng như lời của trạng. Các con cháu nhà vua tranh giành ngôi thứ, sát hại lẫn nhau,  gây cảnh “nồi da nấu thịt,  cốt  nhục tương tàn”,  khiến triều chính đổ nát,  trăm họ lầm than. Sau khi Lê Thánh Tông mất, nhà Lê dần suy yếu, Mạc Đăng Dung nhân cơ hội mà lên nắm quyền thay nhà Lê.

Lương Thế Vinh

Lương Thế Vinh (ảnh minh họa)

8. Ông tổ ngành rối nước

Lương Thế Vinh có những thú vui đi ngược lại với xu hướng chung của mọi người. Lúc người khác trọng thơ ca, thì ông trọng khoa học; Người ta trọng thuyết lý thì ông trọng thực hành; Người ta trọng chữ Hán, thì ông trọng chữ Nôm. Người ta thích cao sang, thì ông thích giản dị, hòa đồng với người dân.

Thời xưa, người ta thường coi nghề hát xướng là “xướng ca vô loài”, tức là nghề không đáng quý trọng. Vậy mà Lương Thế Vinh tuy đã làm quan to nhưng lại rất thích hát và sáng tác nhạc. Thậm chí Ông còn trực tiếp biểu diễn. Ông viết bộ sách “Hý phường phả lục”, trong đó khảo cứu về nghệ thuật tuồng chèo. Ông cũng cùng với Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận chế định ra các lễ nhạc của triều đình.

Lúc về hưu, ông vẫn thích la cà nơi thôn dã, thích ca hát. Ông còn thích chơi với trẻ con, thường bày cho chúng những trò chơi vui mà bổ ích.

Thấy bọn trẻ thích nặn những con rối,  ông đã nghĩ ra trờ múa rối nước.  Trò chơi thật vui và hấp dẫn. Lâu dần người ở các nơi khác tìm học để về phổ biến ở quê mình. Từ đó múa rối nước trở thành một loại nghệ thuật dân gian đặc sắc được  truyền đến ngày nay.

9. Quan trạng hầu quan huyện

Ông có nhiều học trò giỏi, với học trò nào ông cũng dạy về lòng yêu thương dân, đức tính khiêm tốn. Lương Thế Vinh rất ghét những viên quan hông hách, ăn hiếp dân lành. Có lần, một viên quan huyện hống hách đã bị ông cho một bài học, làm trò cười cho thiên hạ.

Hôm ấy, ông đi chơi thăm bạn, giữa đường Ông dừng ở quán nước bên đường nghỉ chân. Bỗng thấy một đoàn người  ngựa rước quan huyện đi qua. Dân trong vùng đều biết tên quan này thường hay bắt người qua đường khiêng cáng, bèn bảo nhau trốn cả. Riêng Trạng mới đến không biết cái lệ đó, cứ ung dung ngồi nghỉ ngơi uống nước.

Lính quan huyện đi ngang qua nhìn thấy Ông liền quát

– Ê, tên kia, ra khiêng cáng cho quan!

Lương Thế Vinh giả đò khúm núm bước lại ghé vai khiêng cáng cho quan huyện

– Dạ, dạ…

Khiêng đến chỗ bùn lội, Lương Thế Vinh cố tình trượt chân làm văng cáng hất quan huyện ngã chồng vó giữa vũng bùn. Áo, mũ, cân đai bê bết lấm lem bùn.

Quan huyện đỏ tím mặt vì tức giận, đang toan nổi cơn thịnh nộ lên đầu kẻ hầu phạm thượng, thì Trạng vẫy một người qua đường rồi nói lớn:

– Bác gọi hộ tôi anh học trò là Thám Hoa Văn Cát ra khiêng võng hầu quan huyện thay thầy.

Quan huyện nghe vậy xay xẩm mặt mày, cuống quít kêu:

– Ấy chết! Ấy chết! Xin quan trạng tha tội cho! Rồi quan huyện quỳ xuống vũng bùn cứ thế  lạy như bồ củi.

Lúc này Lương Thế Vinh nhẹ nhàng mói mấy lời răn dạy, bắt quan huyện từ nay phải chừa cái thói hống hách với dân.

10. Đối đáp với vua Lê

Trạng Lương Thế Vinh ngoài nổi tiếng là người thông minh, hoạt bát. Ông còn nổi tiếng là người không ham công danh phú quý mà thích cuộc sống bình dị. Khi còn làm quan, tính tình ông thẳng thắn, cương trực nhưng lại hay khôi hài. Dân gian vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lý thú về mối quan hệ giữa trạng Lương Thế Vinh với vua Lê Thánh Tông.

Vua Lê Thánh Tông biết, hồi nhỏ Trạng Lương Thế Vinh nổi tiếng nghịch ngợm, hay tắm sông nên bơi lội rất giỏi. Một hôm, Vua đi chơi thuyền có trạng Vinh và các quan theo hầu. Vua liền giả vờ say rượu đẩy quan Trạng rơi tùm xuống sông, rồi lệnh cho quân chèo thuyền đi tiếp.

Không ngờ, Trạng Lương Thế Vinh sau khi rơi xuống sông, liền lặn một hơi đi thật xa đến một chỗ vắng, Ông lên bờ ngồi núp vào một bụi rậm để không ai trông thấy. Vua Thánh Tông chờ mãi không thấy trạng trồi đầu lên, bấy giờ mới hoảng hốt, vội cho quân lính nhảy xuống tìm. Nhưng tìm mãi mà chẳng thấy đâu. Vua hết sức ân hận vì lối  đùa thái quá của mình. Đang buồn bực thì thì tự nhiên thấy Lương Thế Vinh từ dưới nước ngóc đầu lên lắc đầu cười ngặt ngẽo. Khi lên thuyền rồi Vinh vẫn còn cười. Vua Thánh Tông ngạc nhiên gặng hỏi mãi, cuối cùng Vinh mới tâu:

– Thần ở dưới nước lâu là vì gặp phải một việc rất kỳ lạ. Thần gặp cụ Khuất Nguyên. Cụ hỏi thần xuống đây làm gì? Thần nói dối là thần chán đời nên muốn chết.

Nghe qua cụ Khuất Nguyên mắng thần: “Ngươi điên rồi! Ta gặp phải bậc hôn quân vô đạo là Sở Hoài Vương và Khoảnh Tương Vương, mới phải bỏ nước bỏ dân, trẫm mình dưới sông Mịch La. Chứ ngươi gặp được bậc thánh quân minh đế, còn định trẫm mình cái gì?”. Thế rồi cụ đá cho thần một cái, thần mới về tới đây đó ạ!

Vua Lê Thánh Tông nghe xong, biết là trạng nịnh khéo mình, nhưng vua rất hài lòng, thưởng cho trạng nhiều vàng lụa.

Lần khác, vua đi kinh lý vùng Sơn Nam Hạ, có ghé qua làng Cao Hương – quê của Lương Thế Vinh – lúc bấy giờ Trạng cũng đang theo hầu vua. Vua là người mộ đạo, lại thấy cảnh chùa làng đẹp mà thanh tịch, bèn ghé thăm. Khi ấy sư cụ đương bận tụng kinh thì bỗng đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Sư cụ lấy tay ra hiệu cho chú tiểu cúi xuống nhặt. Nhưng một vị quan tùy tùng của vua Thánh Tông đã nhanh tay nhặt trước, đưa cho sư cụ. Vua Thánh Tông trông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế câu đối. Vế ấy như sau:

Đường thượng tụng kinh, sư sử sứ…

Trên bục đọc kinh, sư khiến sứ (nhà sư sai khiến được quan).

Câu này oái oăm ở ba chữ sư, sử, sứ. Các quan đều chịu chẳng ai nghĩ ra vế đối cho chuẩn.

Lương Thế Vinh thì cứ ung dung ngồi uống rượu, mặc các quan suy nghĩ, Ông chẳng nói năng gì. Thấy các quan tắc tịt, Vua Thánh Tông quay ra bảo đích danh ông phải đối. Lương Thế Vinh chỉ cười trừ.

Lúc sau ông cho lính hầu chạy về nhà mời bà Trạng đến. Ông lấy cớ quá say, xin phép vua cho vợ dìu mình về.

Thấy Vinh thường ngày là một tay có tài ứng đối mà hôm nay cũng đành phải đánh bài chuồn, vua Thánh Tông  lấy làm đắc ý lắm, liền giục: “Thế nào? Đối được hay không thì Trạng phải nói đã rồi hẵng về chứ?”.

Lương Thế Vinh gãi đầu gãi tai, rồi chắp tay ngập ngừng đáp:

– Dạ… muôn tâu bệ hạ. Thần… đối rồi đấy chứ ạ!

Vua và các quan lầy làm lạ không hiểu gì, bảo Vinh thử đọc lại xem. Lương Thế  Vinh thì cứ một mực: “Đối rồi đấy chứ ạ!” hoài. Vua gạn hỏi mãi, Trạng mới chỉ tay vào người vợ đang dìu mình mà đọc rằng:

Đình tiền túy tửu, phụ phù phu.

(Trước sân say rượu, vợ dìu chồng)

Nhà vua cười và thưởng cho Trạng rất hậu.

*

*                            *

Vì tài năng lỗi lạc và những đức tính đáng quý ấy mà khi Lương Thế Vinh mất, vua Thánh Tông thương tiếc lắm, làm bài thơ Nôm rất hay để khóc Trạng:

Chiếu thượng thư để xuống đêm qua

Gióng khách chương đài kiếp tại nhà

Cẩm tú mấy hàng về động ngọc

Thánh hiền ba chén ướt hồn hoa.

Khí thiên đã lại thu sơn nhạc

Danh lạ còn truyền để quốc gia

Khuất ngón tay than tài cái thế

Lấy ai làm Trạng nước Nam ta!.

Nguồn: Tổng hợp

Xem thêm:

Giai thoại – Truyện trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
Giai thoại – Tổng hợp truyện Trạng Quỳnh (full)

You may also like