Hai phép quân phân điền, thổ -Tỉnh điền, Thiên mạch

Trung Hoa là một dân tộc văn mình trước nhất, biết sự cày cấy giồng giọt đã lâu; nhưng về đời thượng cổ chỉ biết phá rừng hoang chân thành đất ruộng, chứ chưa biết sự đo đạc, quân phân.

Đến đời nhà Hạ (thế kỷ 23 đến 18 tr.T.C.), nhà vua mới định ra cách thức đạc điền: nhà Hạ đặt ra mẫu (ước chừng 3 600 thước vuông tây) gian (mỗi gian ước độ 18 000 thước vuông) và tô (mỗi tô độ 1 800 000 thước vuông). Lại định quân phân như sau đây: nhà nước cho phép chín nhà khẩn một tô. Những ruộng đất mà chín nhà cày cấy ấy làm, hoa lợi trong một năm phải đem chia làm mười phần: một phần về nhà vua. Phần ấy gọi là “công”, tức là thuế một phần mười (chữ la-tinh là décima pars), tương tự như cách lấy thuế dime1Dime là thuế một phần mười mà dân, nước Pháp đời Trung cổ (moyen Age) phải nộp cho ông sứ quân (Seiggeur) hay nhà giáo (Eglise) ở nước Pháp về đời Trung cổ (moyen âge).

Đến nhà Thương (thế kỷ thứ 18 đến 12 tr.T.C.) và nhà Châu (thế kỷ thứ 12 đến 3 tr.T. C.) lại đặt ra phép Tỉnh điền (井田).

Phép phân điền thổ

Theo phép này, thì chia ruộng làm chín phần, những phần ấy giáp với nhau thành ra chữ “tỉnh” (井). Ruộng ở giữa chữ ở “ tỉnh ” là của nhà vua; còn ruộng ở chung quanh là của các chủ điền thuộc tám nhà. Tám nhà ấy vừa làm ruộng cho mình, vừa phải trông nom thửa ruộng giữa của nhà vua, mỗi năm phải nộp hoa lợi vào kho cho nhà-nước. 

Phép đạc điền của nhà Thương lại định rằng: mỗi “ tỉnh ” phải có hơn 630 mẫu ruộng. Như thế. mỗi nhà có thể cày cấy ít ra 79 mẫu mà 9 mẫu về của nhà vua. Về sau, số ruộng có tăng lên, mỗi “ tỉnh ” có đến 900 mẫu. Mỗi nhà được cày cấy 100 mẫu mà nhà vua cũng được 100 mẫu.

Đời nhà Châu lại định lệ; phàm tráng đinh từ 20 tuổi trở lên có thể thay mặt cho họ mà nhận cày cấy một phần chín của “ tỉnh ”, chỉ phải mỗi năm nộp “ công ” cho nhà vua thôi. Phần ruộng ấy, người tráng đinh kia được phép làm cho mãi đến 60 tuổi, rồi mới phải nộp lại ruộng giả nhà nước. Còn từ năm 60 tuổi trở đi thì người ấy được thân nhân nuôi dưỡng. 

Đời Minh Mệnh bản triều (1820-1840) Ông Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ (người Uy Viễn, tỉnh Hà Tình) cũng theo phép tỉnh-điền mà lập ra 2 huyện Kim Sơn, Tiền Hải ở Ninh Bình 

Theo phép của nhà Châu, ruộng đất quân phân rất đều mà không sinh ra sự tranh cạnh. Tuy nhiên, lúc ấy cũng đã có nhiều kẻ tham nhũng, lạm thu hay bớt sớ ít nhiều, nhưng dân sự không đến nỗi vất vả, còn được hưởng chút lợi quyền do công mồ hôi nước mắt. Nhỡ gặp phải khi mất mùa đói kém, nhà vua lại mở kho lúa (lúc ấy là thuế “ công ”ở nhà “ tỉnh ” hằng năm nộp vào) mà chân cấp cho. Sự sinh hoạt của dân vì thế không đến nỗi khó khăn.

Đến đời Xuân thu, Chiến quốc, chư hầu phân tranh, xưng hùng, xưng bá, dân gian bị tàn phá. Những nhà làm ruộng không yên một việc làm ăn! Tiền thuế “ công ” nhà nuớc thu, chỗ thì nộp, chỗ thì bỏ. Một viên quan nước Ngụy là Lý Khôi môi định bãi hết cả phép nhà Châu mà cho dân gian được tùy mình cày cấy.

Đến lúc nhà Tần nhất thống Trung Quốc, quan Tể Tướng là Thương Ưởng (hay Thương Quân) sau khi xem xét lại điền thổ trong nước, bèn bỏ phép tỉnh điền mà đặt ra phép thiên mạch.

Theo phép thiên mạch của Thương quan, thì ai muốn làm ruộng cũng được phép tùy theo ý mình mà làm, nhà nước không bắt buộc gì cả. 

Phép thiên mạch đã đánh đổ phép tỉnh điền đời Thượng cổ. Từ đó, sự quân phân điền thổ mỗi ngày một biến cải, gây ra bao mỗi tranh dành, kiện cáo truyền mãi đến nay. 

TIÊN ĐÀM 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Xem thêm: