Kháng chiến chống quân xâm lược Tống

Kháng chiến chống quân xâm lược Tống (980 – 981)

1. Mưu đồ xâm lược Đại cồ Việt của nhà Tống

Triệu Khuông Dận lập ra nhà Tống, lên ngôi Hoàng đế tức Tống Thái Tổ (960 – 976). Dưới thời Tống Thái Tổ, đất nước Trung Quốc vẫn còn chịu những ảnh hưởng của tình hình hỗn loạn thời “Ngũ đại thập quốc”. Phía Bắc, tộc Khiết Đan vẫn là một mối họạ đe dọa sự ổn định của nhà Tống. Tổng Thái Tổ và người kế nghiệp là Tổng Thái Tông chủ trương hoãn các cuộc chinh phạt phía Bắc mà chuyển hướng bình định, thực hiện các cuộc chinh phạt các nước nhỏ khác ở phía Nam1Tống Thái Tổ đánh dẹp các tiểu quốc cát cứ Nam Bình vào năm 963), Hậu Thục (964), Nam Hán (971), Nam Đường (975). Tống Thái Tông đánh dẹp các tiểu quốc cát cứ Ngô Việt (978), Băc Hán (979).

Nước Đại Cồ Việt có biên giới liền kề với nước Tống, vì vậy không nằm ngoài ý đồ bành trướng xâm lược của nhà Tống về phương Nam.

Khi Tống Thái Tông hoàn thành công cuộc chinh phục Bắc Hán vào năm 979, cũng là lúc triều chính nhà Đinh lâm vào tình thế khủng hoảng ngôi vị: vua Đinh Tiên Hoàng, Nam Việt vương Đinh Liễn bị giết hại. Người đứng ra gánh vác việc nước lúc này là vị vua nhỏ Đinh Toàn mới 6 tuổi. Đây là thời cơ thuận lợi mà nhà Tống không thể bỏ qua để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Sau sự biến ở Hoa Lư, tháng 6 năm Canh Thìn (980), Tri phù Châu Ung là Thái Thường bác sĩ Hầu Nhân Bảo tâu về với Thái Tông: “An Nam quận vương cùng với con là Liễn bị giết, nước ấy sắp mất, có thể nhân lúc này đem một cánh quân sang đánh lấy. Nếu bỏ lúc này không mưu tính, sợ lỡ cơ hội”2Tống sử, liệt truyện Hầu Nhân Đảo. Dần lại theo Toàn thư, tập I, sđd, tr. 160. Nhận được tin này, Tể tướng nhà Tống là Lư Đa Tốn tán thành, cổ vũ việc đánh chiếm Đại Cồ Việt và khuyên vua Tống bất ngờ đem quân sang đánh úp như “sét đánh không kịp bịt tai” và đưa ra ý đồ thâm hiểm: “Nếu trước gọi Nhân Bảo về, mưu ấy ắt bị lộ, kè kia nhờ đó biết được, sẽ dựa núi ngăn mà phòng bị, cái thế thắng thua chưa biết thế nào.

Chi bằng giao cho Nhân Bảo trách nhiệm ngầm đem quân sang, theo lệnh mà lo liệu việc ẩy, chọn tưởng đem 3 vạn quán Kinh Hồ ruổi dài mà tràn sang, tạo ra cái thế vạn toàn như xô bè cành khô gỗ mục, không phải ¡o tốn một mũi tên Vua Tong cho là phải, giao cho Hầu Nhân Bảo ngấm ngầm lo liệu “3Toàn thư, tập I, sđd, tr. 161.

Thực hiện kế hoạch xâm chiếm Đại c ồ Việt, tháng 7 năm Canh Thìn (980), vua Tống sai Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu lộ thủy lục kế độ chuyển vận sứ Tổng chi huy; Lan Lăng đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng giữ chức Ung Châu lục lộ binh mã đô bộ thự làm Phó tổng chỉ huy; Hắc Thủ Tuấn, Yên bí khố sứ; Trần Khâm Tộ, Tả gia môn tướng quân; Thôi Lượng làm Ung Châu lộ binh mã đô bộ thự; Ninh thứ sử Lưu Trừng giữ chức Quản Châu lộ binh mã đô bộ thự;

Quân khí khố phó sứ Già Thực; Cung phụng quan cáp môn chi hậu Vương Soạn, gấp rút chuẩn bị lực lượng, thống nhất kế hoạch, hẹn cùng ngày giờ tràn sang xâm chiếm Đại cồ Việt.

Vua Lê Hoàn
Vua Lê Hoàn

2. Kế hoạch chống quân xâm lược Tống

Do biết nhà Tống đã tập trung binh lực chuẩn bị tràn sang xâm lược nước ta, viên quan được triều đình cừ quản giữ vùng biên Lạng Sơn lập tức cấp báo về triều đình Hoa Lư.

Sau khi lên ngôi vua, Lê Đại Hành, triều đình Hoa Lư và quân dân Đại Cồ Việt lập tức tổ chức kháng chiến chống sự xâm lược của nhà Tống. Lê Đại Hành biết rõ thời thế, nên tìm cách hoà hoãn với nhà Tống. Theo lệ cũ, Lê Đại Hành lập tức sai sứ thần sang Biện Kinh dâng phương vật và dâng biểu xin phong vương cho Đinh Toàn. Nhung tất cả những động thải của Lê Đại Hành đều không được nhà Tống chấp nhận. Vì nhà Tống quyết tâm xâm chiếm Đại Cồ Việt Tháng 8, năm Canh Thìn (980), Tống Thái Tông sai Lư Đa Tốn viết thư buộc Lê Đại Hành phải đầu hàng. Trong thư có đoạn viết:

‘‘nay ta đang chỉnh đốn xe cộ quân lính, truyền hiệu lệnh chiêng trống. Nếu chịu theo giáo hoá ta sẽ tha tội cho, nếu trái lệnh ta sẽ sai quản đánh. Theo hay chống, lành hay dữ, tự ngươi xét lấy”4Toàn thư. tập 1, sđd, tr. 163; Cưng mục, tập I, sđd, tr. 251. Trước tình hình đỏ, tháng 10 cùng năm, Lê Đại Hành liền sai Giang Cự Vọng và Vương Thiệu Tộ đến Yên Kinh dâng sản vật và dâng biểu cầu phong cho Đinh Toàn lần thứ hai, nhưng cũng không được nhà Tống chấp nhận. Vua Tống sai Trương Tông Quyền đưa thư sang trả lời Lê Đại Hành: “…Họ Đinh truyền nối 3 đời, trẫm muốn cho Toàn làm thống soái, khanh làm phó. Nếu Toàn tướng tài chẳng có, văn còn trẻ con, thì nên bảo cả mẹ con cùng thân thuộc sang quy phục. Đợi khi bọn họ vào chầu ắt có điền lễ ưu đãi, và sẽ trao cờ tiết cho khanh. Nay có hai đường, khanh nên chọn một”5Toàn thư, tập I, sđd, tr. 165. Hành động đó càng chứng tỏ nhà Tống quyết tâm xâm lược nước ta, những lời lẽ trong thư thực chất là “tối hậu thư” yêu cầu Lê Đại Hành đầu hàng, dâng nước ta cho giặc. Những hành động ngoại giao của Lê Đại Hành cừ sứ giả sang Biện Kinh thực chất là nhằm tận dụng mọi cơ hội có thể để tránh một cuộc chiến tranh và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng để tiến hành một cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước.

Trước dã tâm xâm lược nước ta của nhà Tống, Lê Đại Hành không trả lời, kiên quyết chọn con đường chống giặc bảo vệ Tổ quốc. Để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong triều đình, Lê Đại Hành đã giương cao ngọn cờ đoàn kết, khai thác, tập hợp và sử dụng toàn bộ quần thần triều đình nhà Đinh vào trong vương triều của mình. Duơng Thái hậu và Đinh Toàn vẫn tiếp tục ở trong triều đình. Đại tướng Phạm Cự Lạng vẫn là tuớng chi huy cao nhất. Các nhà sư Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh và người Trung Quốc là Thái sư Hồng Hiến… cùng Lê Đại Hành bày mưu tính kế đánh giặc. Khi chuẩn bị ra quân, nhà vua mời Thiền sư Vạn Hạnh đến hỏi về cơ thắng bại. Nhà sư trà lời: “Chi trong ba bảy ngày giặc tất lui’’6Thiền uyển tập anh. “Chuyện Pháp Thuận”. Bản dịch, tư liệu đánh máy của Viện Sử học. Tất cả đặt dưới quyền Tổng chỉ huy của Lê Đại Hành và sẵn sàng ra trận bảo vệ Tổ quốc.

Nhằm tập trung toàn lực vào cuộc chiến đấu chống quân Tống, ngay trong thời điểm đó, đề phòng Chiêm Thành bất ngờ tiến công từ phía Nam, Lê Đại Hành đã sai Từ Mục và Ngô Tử Canh đến thăm dò tình hình và đặt quan hệ hoà Hiếu7Trần Bá Chí, Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr. 114.

Sau hơn 40 năm, từ khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán (năm 938) đến thời Lê Đại Hành, đất nước ta lại trở thành mục tiêu xâm lược của phương Bắc. Thừa hưởng những kinh nghiệm đánh giặc ngoại xâm của thế hệ trước và thực tế của quá trình tham gia “dẹp loạn 12 sứ quân”, biết rõ mục tiêu xâm lược, bố trí binh lực của nhà Tống, nên Lê Đại Hành đã xác định con đường tiến quân của hai đạo quân thuỷ bộ nhà Tống là con đường men theo bờ biển vào khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương và chúng luôn luôn phối hợp chặt chẽ với nhau; tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh nhanh, thắng nhanh nhằm chiếm lấy kinh đô Hoa Lư. Vì thế, Lê Đại Hành chủ động tổ chức đánh giặc, bố trí lực lượng chặn đánh quân Tống trên cả hai tuyến đường thủy và đường bộ.

Vua Lê đại phá quân Tống
Vua Lê đại phá quân Tống

Đồ ngăn chặn giặc trên đường thuỷ, Lê Đại Hành bố trí lực lượng dọc theo tuyến sông Bạch Đằng, Kinh Thầy kéo dài đến vùng Lục Đầu Giang trong đó cửa sông Bạch Đằng là điểm chốt quan trọng nhất. Chính vì thế Lê Đại Hành không chi sai quân cắm cọc trên sông Bạch Đằng – con đường thuỷ thuận tiện nhất từ ven biển phía Bắc tràn vào Đại Cồ Việt mà còn trực tiếp chỉ huy đánh giặc ở khu vực này. Có thể nói đây là tuyến phòng thủ thứ nhất có thể ngăn chặn quân Tống.

Về đường bộ, Lê Đại Hành đã lợi dụng địa hình sông nước như con sông Cái, đoạn từ Ngã ba Lềnh đến Ngã ba Vường (Tuần Viềng) nay thuộc địa phận từ Thường Tín, Hà Nội đến Duy Tiên, Hà Nam như một hào luỹ chặn con đường hành quân của quân Tống. Bên hữu ngạn sông, Lê Đại Hành còn cho đặt quân đóng chốt ở đó. Ông lợi dụng địa hình thuận lợi, biến thành một thành luỹ kéo dài nhằm đánh và tiêu diệt giặc (thành Bình Lồ), chặn chúng trên đường tiến vào kinh đô Hoa Lư8Về địa danh Lạng Sơn, theo các kết quả nghiên cứu gần đây thì địa danh đó thuộc vùng Kiếp Bạc – Lục Đầu Giang, không phải vùng Lạng Sơn ngày nay. Đại Việt sử lược. Bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, tr. 29: “quân Hầu Nhân Bảo đến đóng ở núi Lãng Sơn Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu. Cùng với việc chuẩn bị chiến trường chính đợi giặc, Lê Đại Hành đã bố trí quân chốt giữ từ xa ở những nơi hiểm yếu trên hướng tiến quân thuỷ, bộ của giặc.

3. Diễn biến đại phá quân Tống

Cuối năm 980, theo kế hoạch, 3 vạn quân Tống theo hai đường thủy bộ do Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng chi huy ồ ạt tiến sang xâm lược Đại Cồ Việt.

Đạo quân của nhà Tống dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hầu Nhân Bảo từ Quảng Đông (Trung Quốc) men theo đường thủy ven biển tiến vào nước ta: Sách Việt sử thông giám cương mục ghi: “Năm Tân Tỵ (981), mùa xuân, tháng 3, quân của Hầu Nhân Bảo kéo sang Lạng Sem, (Lãng Sơn)1 Trần Khâm Tộ tiến đến Tây Kết, Lưu Trừng, Tôn Toàn Hưng kéo đến sông Bạch Đằng”9Về địa danh Lạng Sơn, theo các kết quả nghiên cứu gần đây thì địa danh đó thuộc vùng Kiếp Bạc – Lục Đầu Giang, không phải vùng Lạng Sơn ngày nay. Đại Việt sử lược. Bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, tr. 29: “quân Hầu Nhân Bảo đến đóng ở núi Lãng Sơn Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu. Như vậy, quân giặc theo đường thủy ven biển tiến vào Quảng Ninh, qua vùng Đông Triều, Phả Lại rồi tiến xuống vùng châu thổ sông Hồng. Đó là con đường duy nhất mà trước đây trong suốt thời kỳ Bắc thuộc quân xâm lược phương Bắc thường sử dụng để tiến vào nước ta.

Đạo quân do Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng chỉ huy theo đường ven biển quen thuộc từ Khâm Châu men theo đường thuỷ ven biển Đông Bắc Đại Cồ Việt tiến về cửa sông Bạch Đằng.

Đạo quân do Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ chi huy từ Ung Châu theo đường bộ ven biển qua châu Tô Mậu vào Đông Triều đóng ở Hoa Bộ thuộc vùng Đông Bắc huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày nay.

Để chặn đứng và đánh bại quân địch ngay ở vùng địa đầu của đất nước, Lê Đại Hành đã bố trí lực lượng dọc theo tuyến sông Bạch Đằng, Kinh Thầy kéo dài cho đến vùng Lục Đầu Giang. Trong đỏ nơi tập trung lực lượng đông nhất và có vị trí quan trọng nhất là cửa sông Bạch Đằng. Vì đây là cửa ngõ yết hầu từ phương Bắc vào nước ta: “nước ta khống chế người Bắc, sông này là chỗ cổ họng”10Đại Nam nhất thống chí, tập IV, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 25, nơi đoàn thuyền chiến của quân Tống từ biển tiến vào và Lục Đầu Giang là nơi tập kết của hai đoàn quân thuỷ bộ.

Trên vùng cửa sông Bạch Đằng, học tập kinh nghiệm đánh giặc hơn 40 năm trước của Ngô Quyền, Lê Đại Hành đã cho bố trí trận địa cọc ở cửa sông: “Tháng 3, mùa Xuân, quân Tong xâm lược. Nhà vua tự làm tướng đánh bại quân địch. Bấy giờ quân Tống chia đường sang xâm lấn: Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng tiến đến Lạng Sơn (Lãng Sơn); Trần Khâm Tộ kéo đến Tây Kế, Lưu Trừng kéo đến sông Bạch Đằng. Nhà vua tự làm tướng ra kháng chiến, sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch”11Cương mục, tập I, sđd, tr . 251.

Đổ trực tiếp chỉ huy quân sĩ đánh giặc, Lê Đại Hành đã đóng bản doanh ở khu vực Thuỷ Đường, núi Đèo, huyện Thuỷ Nguyên12Thần tích làng Thường Sơn, huyện Thuỷ Nguyên nay là thôn Thuỷ Tú, xã Thuỷ Đường chép: “Lê Đại Hành đem quân đến chợ Phướn, đóng đồn ở gò đất cao thôn Thường Sơn. Vua đi Truyền hịch tuyển quân, thu lương, được dân chúng nô nức hưởng ứng. Có gia đình họ Phạm ở Thường Sơn, cả 4 anh em kéo đến cửa tình nguyện tòng quân giết giặc, vua rất cảm phục và thu dụng. Sau đó theo lời khuyên của Phạm Quàng, Lê Đại Hành lại chuyển bản doanh đến trang Hoa Chương, huyện Thuỷ Đường, cách nơi cũ khoảng 7 – 8km13Theo “Ngọc phà cổ lực” đền Hoa Chương nay thuộc thôn Phương Mỹ, xã Mỹ Đồng thì “Phạm Quảng là người thôn này đã hiến kế cho Lê Hoàn về đóng đòn ở làng mình. Trang Xạ Sơn cũng là nơi Lê Đại Hành bố trí lực lượng chống giặc như dựng đồn và từng lưu lại nơi này14Ngọc phả đền thờ 4 vị tướng trang Xạ Sơm nay là xã Quang Trung, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, theo Lê Hoàn đánh giặc chép: “Vua lui quân về đóng đồn ở trang Xạ Sơn, lưu lại đó khoảng một tháng để chuẩn bị cho trận sau.

Khi đóng quân ở đây, Lê Đại Hành đã nhận thấy khu vực trang Dược Đậu có nhiều ưu thế hơn và đã lập đại bản doanh ở khu Đồng Dinh15Nguyễn Minh Tường: “Về vị trí đại bản doanh của vua Lê Đại Hành trong trận Bạch Đằng năm 981″, Tạp chí Xưa và Nay số 76 (6/2000). Dược Đậu nay là thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, hiện còn có nhiều di tích liên quan đến vấn đề này.

Cuộc đụng độ đầu tiên diễn ra vào đầu hạ tuần tháng Chạp năm Canh Thìn (980), thuộc các xã Yên Giang, Hải Yên (Yên Hưng) và Phục Lễ, Lập Lễ (Thuỷ Nguyên) ngày nay. Tại đây quân ta đã cắm cọc trên sông Bạch Đằng, bố trí trận địa đón đánh, kìm chân thuỳ quân giặc do Hầu Nhân Bảo cầm đầu. Nhưng trong trận chiến đấu này, quân ta không ngăn được bước tiến của kẻ thù.

Hầu Nhân Bảo vượt qua cửa Bạch Đằng, theo sông Kinh Thầy tiến sâu vào chiếm sông Đồ Lỗ (nơi cửa sông Kinh Thầy nối với sông Lục Đầu) thực hiện ý đồ tập trung lực lượng ngược dòng sông Diên Uẩn (sông Đuống ngày nay) tiến về Đại La. Tại đây chúng đã gặp quân Đại Cồ Việt kịp thời chuyển về phòng giữ. Chiến trận lớn xảy ra trên cửa sông Đồ Lỗ vào ngày cuối năm Canh Thìn giáp Tết năm Tân Tỵ (981). Bị đánh chặn quyết liệt, Hầu Nhân Bào buộc phải rút về chiếm giữ vùng cửa sông Đồ Lỗ – Lục Đầu, chiếm trại Phù Lan. Trong thời gian Hầu Nhân Bảo chiếm giữ vùng cửa sông Đồ Lỗ, Lục Đầu và chiếm trại Phù Lan thì Tôn Toàn Hưng lại án binh ở Hoa Bộ, không chịu tiến quân lấy cớ đợi viện quân của Lưu Trừng, mặc cho Hầu Nhân Bảo thúc giục.

Mãi đến đầu tháng Ba năm Tân Tỵ (4 – 981), tức là hơn 2 tháng sau, Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng mới đem quân theo đường thuỳ từ Liêm Châu vào hội quân với Tôn Toàn Hưng ở Hoa Bộ. Lúc này Tôn Toàn Hưng đã ra lệnh cho Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng đem quân tiến sâu vào chiếm Tây Kết. Còn Hầu Nhân Bảo thì từ sông Bạch Đằng đua thuỷ quân từ cửa Ngãi Am (cửa sông Thái Bình), theo sông Tranh, sông Lục (sông Hoá, sông Luộc) để phối hợp với quân của Tôn Toàn Hưng vượt sông Cái cùng tiến về Hoa Lư.

Nhưng gặp phải sức chống cự của quân dân Đại Cồ Việt cánh quân thuỷ của Hầu Nhân Bảo phải lui quân về sông Bạch Đằng. Sau những trận đánh ban đầu, trước thế mạnh của giặc, Lê Đại Hành đã tận dụng sự chủ quan, tự phụ, ngạo mạn của quân xâm lược, khôn khéo tìm cách trá hàng, củng cố lực lượng, tạo thời cơ tiêu diệt quân thù: “sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bào, đem chém”16Toàn thư, tập I, sđd, tr. 167. Về sự kiện này sách Tống sử của Trung Quốc chép như sau: “Lê Hoàn giả vờ xin hàng mà Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật “Khi Lưu Trừng đến thì Toàn Hưng cùng Lưu Trừng theo đường thuỷ đến thôn Đa La, nhưng nói không gặp giặc lại trở về Hoa Bộ. Đen đây Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh lừa Nhân Bào. Nhân Bảo bèn bị giết chết”. Tục tư trị thông giám cùa Lý Đào Tài cũng chép: “Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 6, tháng 3 ngày Kỷ Mùi (28-4-981), Giao Châu hành doanh phá được 15.000 quán của Lê Hoàn ở sông Bạch Đằng, chém được hom 1.000 thù cáp, lấy được 200 chiến hạm, thu được hàng vạn mũ trụ, áo giáp. Cũng trận này giặc giả hàng để dụ Nhân Bào. Nhân Bảo cả tin, liền bị giặc giết hại’’17Tống sử, quyển 488. Tục tư trị thông giám trường biên, tr. 20, 26. An Nam chí nguyên cũng chép về thất bại này của quân Tống như sau: “Thế lực của giặc (chi quân Lê Đại Hành) rất mạnh, quân hậu viện (quân nhà Tống) chưa kịp đến thì Nhân Bảo đã sa hãm trong vòng trận, bị loạn quân giết chết ném xác xuống sông. Vua Tống hay tin lấy làm đau xót ban cho tặng điển một cách ưu hậu “18An Nam chí nguyên, quyển 2 tơ 64.

Lê Đại Hành đại chiến quân Tống
Lê Đại Hành đại chiến quân Tống

Sau khi biết tin Hầu Nhân Bảo bị giết và cánh quân thuỷ bị tan vỡ, Tôn Toàn Hưng cũng vội vàng rút quân về. Khi đã giết được Hầu Nhân Bảo, đánh đuổi quân Tống ra khỏi vùng Bạch Đằng – Hoa Bộ, Lê Đại Hành đã tập trung quân vào tiêu diệt cánh quân bộ còn đang chốt ở Tây Kết. Các tướng giặc được tin Hầu Nhân Bảo bị giết và cánh quân thủy bộ thất bại thảm hại, chúng đã hốt hoảng rút quân, nhưng bị quân ta truy đuổi tiêu diệt, “Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên Đánh giá tài năng quân sự của Lê Đại Hành, nhà sử học Lê Văn Hưu viết: “Lê Đại Hành giết

Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được”19Toàn thư, tập I, sđd, tr. 167.

Sau khi cuộc xâm lược Đại Cồ Việt thất bại, quân Tống thua chạy, rút quân về nước. Đây là một trong những cuộc xâm lăng các vùng đất ở phương Nam bị thất bại nặng nề nhất của nhà Tống. Chỉ tính riêng số tướng tham gia cuộc xâm lược này kè thì bị bắt như Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân, kẻ bị chết tại trận như Hầu Nhân Bảo, kẻ vì “ốm mà chết như Lun Trừng, kẻ chạy về đến nước thì bị vua Tống xử tội chết như Vương Soạn bị giết ở Ung Châu, Tôn Toàn Hưng cũng bị giết bêu đầu ở chợ”20Theo thống kê trong Toàn thư. 10 tướng của quân Tống thì 2 tướng bị bắt, 1 tướng chết trận, 4 tướng bị xử tội chết, 2 tướng còn lại cũng bị tội cũng đù thấy tổn thất lớn của nhà Tống trong cuộc Nam chinh này.

Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981 đã diễn ra khắp cà vùng Đông Bắc và trung tâm châu thổ sông Hồng. Nhưng khu vực hạ lưu, cửa biển Bạch Đằng là chiến trường chính và giữ vai trò quyết định cho toàn bộ cuộc kháng chiến. Trong thắng lợi vẻ vang đỏ, nhân dân vùng Đông Bắc đã có nhiều công sức làm nên chiến công hiển hách này. Làng Đường Sơn, xã Thuỷ Đường, huyện Thuỷ Nguyên có 4 người anh em họ Phạm cùng tòng quân. Phạm Quảng người xã Mỹ Đuờng, huyện Thuỳ Nguyên đã hiến kế cho Lê Đại Hành chọn Hoa Chương làm nơi đóng quân, bổ sung binh lương, chờ thời vận. Xã Quang Trung, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương có 4 người đều có công lớn trong chiến trận.

Năm anh em họ Vương ở thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tinh Hải Dương; Năm anh em họ Đặng ở thôn Đốc Hậu, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng… hết lòng phò Lê Đại Hành đánh giặc. Đặc biệt có Đào Công Mỹ ở huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng được Lê Đại Hành tin cậy giao làm Đô dịch sứ chuyên trách việc giao dịch thư tín giữa ta với quân Tống, làm cho quân giặc chủ quan, mắc mưu kế “giả hàng “của Lê Đại Hành1. Như vậy chưa đầy 4 tháng chiến đấu, từ cuối năm Canh Thìn (980) đến cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), dưới sự chỉ huy của Lê Đại Hành, quân dân Đại Cồ Việt đã quét sạch quân Tống ra khỏi bờ cõi, giữ vững nền độc lập tự chủ, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống giành được thắng lợi vẻ vang.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: