Khúc Thừa Dụ khôi phục nền tự chủ

Họ Khúc khôi phục nền tự chủ

Năm 905, một Hào trưởng ở đất Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ, đã cùng nhân dân nổi lên chiếm giữ phú thành Tống Bình, lật đổ bộ máy thống trị ngoại bang, giành chức Tiết độ sứ từ tay chính quyền đô “hộ, đưa quyền tự chủ về tay nhân dân – mờ ra một thời kỳ mới – tự chủ, tuy chưa giành được độc lập trọn vẹn.

Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu họ Khúc – một dòng họ lớn, lâu đời và cố thế lực ở Hồng Châu1Hồng Châu là tên đất thời Lý, thời Lê gọi là hai phù Thượng Hồng và Hạ Hồng, nay là đất Bình Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là làng Cúc Bồ, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương), vốn là một Hào trưởng có nhiều thế lực và uy tín trong vùng – một vùng đất trọng yếu về kinh tế và chính trị ờ xứ Đông. Vào thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn đã từng viết trong sách Vân đài loại ngữ ràng: “Phía Đông có hai phù Hồng (Thượng Hồng, Hạ Hồng) và Sách (Nam Sách), đồng ruộng màu mỡ”. Phía Đông có Kinh Môn phù và lộ An Quảng lại có nhiều cá muối cây gỗ châu ngọc đồi mồi, là nơi thuyền bè tụ tập, hàng hoá ngoại quốc lưu thông ở các cửa quan và chợ búa được tiện lợi đủ thay thế cho thuế má”2Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, quyển 3, tập 1. Bản dịch của Tạ Quang Phát, Sài Gòn, 1972, tr. 222. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép rằng: “Họ Khúc là một họ lớn, lâu đời ở Hồng Cháu. Thừa Dụ tính khoan hoà hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời loạn lạc, nhân danh là Hào trưởng một xứ. Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ và xin mệnh lệnh với nhà Đường, nhân thế nhà Đường cho làm chức ấy”3Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 218. về sự kiện này sách Việt sứ lược và Toàn thư không chép. Sách Vân đài loại ngữ- của Lê Quý Đôn chép: “Thừa Dụ tức là Khúc Tiên Chúa. Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đều là con cháu”. Sách Tán ngũ đại sử (Nam Hán thể gia) cũng chỉ nhắc tới khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tống thì có nhắc tới sự kiện Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ được phong chức Đồng bình chương sự và Khúc Thừa Dụ nồi lẻn chiếm cứ An Nam.

Tuy mới chi xưng là Tiết độ sứ, về danh nghĩa chưa hoàn toàn tách khỏi sự ràng buộc với nhà Đường nhưng trên thực tế Khúc

Thừa Dụ đã lãnh đạo nhân dân giành được quyền tự chủ và tiến hành xây dựng được một chính quyền tự chủ riêng của mình để không còn chịu sự chỉ đạo của nhà Đường nữa. Việc làm đó khiến nhà Đường không còn cách nào khác là phải công nhận chức Tĩnh Hài quân Tiết độ sứ cho Khúc Thừa Dụ và đến đầu năm 906, vua Đường còn phong thêm cho Khúc Thừa Dụ tước Đồng bình chương sự. Sách Tư trị thông giám chép rằng: “Tháng giêng năm

Thiên Hựu thứ 3 (906), nhà Đường gia phong cho Thừa Dụ chức Đồng bình chương sự”4Theo lời chua trong sách Cương mục, Tiền biên, quyền V, tập I, sđd, tr. 218

Như vậy, cho đến đây công cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ của nhân dân ta dưới sự khởi xướng của hào trưởng đất Hồng Châu – Khúc Thừa Dụ, cơ bản đã giành được thắng lợi. Khúc Thừa Dụ được sử sách ghi nhận và coi như là người có công đầu tiên mở màn thắng lợi cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và đồng thời cũng là người đặt nền móng vững chắc cho công cuộc đấu tranh giành quyền độc lập tự chủ hoàn toàn của dân tộc ta sau đó.

Nhưng vừa công nhận quyền tự chủ của họ Khúc được một năm thi nhà Đường mất. Triều đại đầu tiên trong Ngũ đại5Lương, Hậu Đường, Tấn, Hán, Chu (907 – 960) thống trị Trung Nguyên lúc đó là nhà Hậu Lương (907 – 923) do Chu Ôn, tướng của cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào đầu hàng, rồi cướp ngôi nhà Đường lập ra. Đây cũng là thời điểm Khúc Thừa Dụ qua đòi (907).

Người nối nghiệp Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo – con trai ông6Sách Cương mục chép, năm Đinh Mão (907), Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo giữ Giao Châu, tự xưng lả Tiết độ sứ (Tiền biên, quyển V, tập I, sđd,tr. 218) Khúc Hạo vẫn đóng đô ở La Thành (Hà Nội ngày nay) và cũng xung là Tiết độ sứ. Nhà Hậu Luơng mới lên, không thể làm khác được, phải công nhận chức Tĩnh Hải Tiết độ sứ cho Khúc Hạo.

Khúc Hạo thay cha nắm quyền Tiết độ sử An Nam vào lúc nhà Đường không còn, mà tình hình Trung Hoa khi ấy lại đang bị hỗn loạn trong bối cảnh Năm đời mười nước7Năm triều đại thay nhau thống trị Trung Nguyên từ năm 907 – 960, mườinước chia nhau cát cứ miền xung quanh đất Trung Nguyên từ năm 892 – 979 (Ngũ đại thập quốc), nhân thời cơ đó Khúc Hạo đã cho chấn chỉnh và xây dựng lại cơ sở tự cường theo chế độ tự trị.

Khúc Thừa Dụ
Khúc Thừa Dụ ( ảnh minh họa)

Khúc Hạo đã thi hành một số chính sách về chính trị, kinh tế và xã hội như là một sự canh tân đầu tiên, nhằm đưa đất nước vào quĩ đạo mới, để không còn phụ thuộc gì vào chính quyền đô hộ, ngoài cái tên gọi là Tiết độ sứ.

Về chính trị, Khúc Hạo đã cho chia lại các khu vực hành chính, thay toàn bộ các châu, huyện8Miền An Nam đô hộ phù của nhà Đường trước kia (sau đổi là Tĩnh Hải quân) coi như là một đơn vị hành chính thống thuộc chính quyền trung ương Trung Quốc đã được chia thành 12 châu, 59 huyện và 41 châu ki mi do nhà Đường9Ngay từ thời Đường sơ, Thứ sử Khâu Hoà (Tổng quản Giao Châu dưới thời Tuỳ và Đường sơ) mới bắt đầu chia huyện, đặt tiểu hương, đại hương, tiểu xã, đại xã. Tiểu xã từ 10 đến 13 hộ, đại xã từ 40 đến 60 hộ. Tiểu hương từ 70 đến 150 hộ, đại hương từ 160 đến 540 hộ. Sau đó vào đời Trinh Nguyên (785 – 805), viên đô hộ là Triệu Xương đã bỏ đại hương, tiểu hương, chi gọi tên chung là hương. Đến khi Cao Biền nấm quyền đô hộ, vào đời Hàm Thông (860 – 874) đã chia đặt lại thành cả thảy 159 hương cát đặt trước đây thành những đơn vị hành chính mới, gồm có: Lộ, Phủ, Châu và 10Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 218. Khúc Hạo còn cho đổi đơn vị hương của nhà Đường thành giáp. Trước kia, nhà Đường mới đặt có 159 hương, đến đây, Khúc Hạo sau khi cho đổi hương thành giáp thì ông còn đặt thêm nhiều giáp mới, tổng cộng là 314 giáp. Sách An Nam chí nguyên ghi rõ:

“Giữa niên hiệu Khai Bình (907 – 910) nhà Lương, Tiết độ Khúc Hạo lại đổi hương làm giáp, đặt thêm 150 giáp, cộng với số đã có từ trước tất cả là 314 giáp ”11Cao Hùng Trưng, An Nam chi nguyên, quyển 1 (mục Phố, phường, ngoại thành, hương, trấn), sđd, tr. 81.

Tại đơn vị cấp cơ sở là giáp và xã, Khúc Hạo còn cho đặt ra các chức quan đề trông nom việc thu thuế và bắt lính. Mỗi giáp, đều đặt chức Quản giáp (Giáp trường) và Phó tri giáp. Ờ xã thì đặt ra chức Lệnh trưởng và Tá lệnh trường12Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 218.

Việc sắp xếp lại các khu vực hành chính và cắt đặt chế độ quan chức tại cấp cơ sở của Khúc Hạo đánh dấu một bước tiến quan trọng và mang ý nghĩa sâu sắc đối với xã hội nước ta lúc bấy giờ, chứng tỏ chính quyền độc lập thời họ Khúc đã có khả năng kiểm soát tới tận làng xã, đơn vị nhỏ nhất mà chính quyền đô hộ trước đó không thể làm được. Chính quyền đô hộ nhà Đường trước đó có cố gắng lắm cũng chi với được tới cấp hương chứ chưa thể vươn xa hơn.

Như vậy, nhìn đại thể chính quyền tự chủ thời Khúc Hạo về mặt nào đó đã kiểm soát được tất cả các địa phương trong nước. Các khu vực hành chính của đất nước bước đầu cũng đã được thống nhất và thống thuộc vào chính quyền trung ương, trên cơ sở đó, họ Khúc mới tiến hành những bước tiếp theo về cải cách trên các phương diện kinh tố và xã hội.

Về kinh tế – xã hội, Khúc Hạo bắt đầu thực hiện chính sách thuế khoá, thư giản khoan lạc, quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, v.v… Sử cũ còn ghi lại việc Khúc Hạo cho “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập số hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi”13Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 218. Cùng với việc lập sổ hộ khẩu, kê khai họ tên, quê quán của nhân đinh, Khúc Hạo còn cho sửa lại chế độ điền tô và phú dịch.

Những cải cách trên đây của họ Khúc mang một ý nghĩa lớn là, nó đã mở ra một bước phát triển mới cho xã hội sau một thời gian dài bị phụ thuộc và đặc biệt nó đã đặt cơ sở cho các triều đại quân chủ sau này có điều kiện tiếp tục thúc đầy thêm.

Về sự nghiệp quản lý đất nước như trên, Khúc Hạo được coi là một nhà cải cách mờ đầu của nước ta. Với đường lối Khoan – Giản – An – Lạc hợp lòng dân, phù hợp với xã hội đương thời đã đưa những cải cách của ông đến thành công như sừ sách từng ca ngợi “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị nhân dân đều được yên vui”14Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 218.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: