Khủng hoảng và suy vong của triều Lý

by Moc Lam Quan

Sau kháng chiến chống Tống thắng lợi, nhà Lý đã tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước và củng cố chính quyền quân chủ. Cho đến cuối thế kỷ XI, sang những thập kỷ đầu thế kỷ XII, nền kinh tế Đại Việt vẫn đang trên đà phát triển. Sử cũ ghi nhiều năm mùa màng bội thu. Nhờ đó mà đời sống nhân dân trở nên yên ổn, quốc gia dân tộc và chính quyền quân chủ cũng được củng cố thêm một bước. Đối với  các nước láng giềng, lúc này địa vị của Đại Việt cũng được nâng cao. Phía Bắc, nhà Tống không những không dám nhòm ngó mà còn kiêng nể Đại Việt. Phía Nam, quan hệ hữu hảo giữa Đại Việt với các nước Chiêm Thành và Chân Lạp cũng được thiết lập. Nhưng tình hình trên kéo dài được hơn một thế kỷ rưỡi, từ khoảng cuối thế kỷ XII trở đi, xã hội Đại Việt bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng, đặc biệt vào hai thập kỳ đầu của thế kỷ XIII. Có thể nói thời kỳ này khủng hoảng xã hội càng trở nên trầm trọng dẫn đến nguy cơ sụp đổ của nhà Lý. Bắt đầu từ những dấu hiệu không ổn định về chính trị, kéo theo là những hiện tượng rối loạn về kinh tế – xã hội diễn ra rất sâu sắc đòi hỏi một sự thay đổi lớn.

* Những rối loạn về chính trị

– Bên ngoài

Mở đầu cuộc khủng hoảng của vương triều Lý là cuộc nồi dậy của Thân Lợi nổ ra ở vùng rùng núi phía Bắc. Họ Thân vốn là dòng họ lớn trong các tộc người thiểu số được triều đình nhà Lý vỗ về và trọng đãi từ trước. Nhiều tù trưởng của dòng họ Thân đã được các vua nhà Lý gả công chúa cho để ràng buộc. Nhiều tà trưởng của dòng họ này cũng đã đóng góp nhiều công sức cho triều đình và cho đất nước, như trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075, tù trưởng Phò mã Thân Cảnh Phúc đã phối hợp chiến đấu với quân đội của triều đình và lập được nhiều chiến công. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XIII, mối quan hệ giữa triều đình nhà Lý với các tộc người thiểu số nói chung và họ Thân nói riêng trở nên lỏng lẻo và xấu dần, dẫn đến những bất bình và sự chống đối của các tộc người miền núi.

Sau khi vua Lý Anh Tông lên ngôi, vào năm 1140, có một người tên là Thân Lợi thuộc dòng dõi họ Thân ờ Động Giáp, tự xưng là con của vua Lý Nhân Tông, nổi dậy chiếm cứ châu Thượng Nguyên và châu Hạ Nông (đều thuộc tinh Thái Nguyên ngày nay). Thân Lợi đã dùng thuật bói toán chiêu tập dân địa phương, chống lại chính quyền nhà Lý, lúc đầu có hơn 800 người, dân khê động vùng biên giới theo rất đông, sau phát triển lên đến hơn 1.000 người1Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 331. Năm sau (1141), Thân Lợi còn xưng là Bình vương, lập vợ cả, vợ lẽ làm hoàng hậu và phu nhân, con làm vương hầu, ban quan tước cho đồ đảng theo thứ bậc khác nhau2Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 331. Tháng 2 năm đó (1141), quan coi biên giới đã dâng thư cáo cấp về triều, vua Lý đã phải xuống chiếu cừ quân thủy bộ đi đánh dẹp. Quân bộ do Gián nghị đại phu Lưu Vũ Nhĩ3Cương mục ghi là Lưu Vũ Xứng chỉ huy và quân thủy do Thái phó Hứa Viêm chỉ huy cùng các tướng tiến đánh Thân Lợi nhưng không dẹp được, phải đem quân về kinh sư. Nhân đà đó, tháng 4 năm 1141, Thân Lợi đem quân đánh chiếm châu Tây Nông (Tư Nông, Thái Nguyên) cùng dân ở các châu Thượng Nguyên (Bạch Thông, Thái Nguyên), Tuyên Hóa (Định Hóa, Thái Nguyên), Cảm Hóa (Ngân Sơn, Na Ri và bắc huyện Bạch Thông, Thái Nguyên), Vĩnh Thông (Bạch Thông, Chợ Rã, Chợ Đồn, Thái Nguyên) đánh chiếm phủ lỵ Phú Lương (Phú Lương, Thái Nguyên), họp bè đảng đem quân đánh chiếm kinh thành Thăng Long. Vua Lý phải cử Thái úy Đỗ Anh Vũ mang quân đi đánh.

Tháng 5. quân của Thân Lợi kéo về kinh sư, đến trạm Quảng dịch gặp quân của Anh Vũ. Hai bên giao chiến quyết liệt. Quân của Thân Lợi không quen địa thế ở chiến trường đồng bằng nên bị thua nặng và chết rất nhiều. Anh Vũ đã sai quân chém đầu đảng chúng của Thân Lợi rồi đem bêu ở hai bên đường từ cửa ải Bình Lỗ (Phù Lỗ) đến sông Nam Hán (?). Trong trận này, Dương Mục, thủ lĩnh châu Vạn Nhai và Chu Ái, thủ lĩnh động Kim Kê, cũng bị bắt giải về kinh sư, chỉ có mình Thân Lợi chạy thoát về châu Lục Lệnh (miền Đồng Hỷ, Bạch Thông, Chợ Đồn, Thái Nguyên).

Đến tháng 10 năm đó (1141), vua Lý lại sai Đỗ Anh Vũ tiến đánh Thân Lợi ở châu Lục Lệnh, bắt được hơn 2.000 người. Thân Lợi trốn sang châu Lạng (miền Lạng Sơn), bị Thái phó Tô Hiến Thành bắt, giao cho Anh Vũ đóng cũi giải về Thăng Long. Đích thân vua Lý Anh Tông ngự điện Thiên Khánh xử án vụ Thân Lợi. Thân Lợi và tùy tòng 20 người bị xử trảm, những người khác đều bị xử tội nặng nhẹ khác nhau. Những người bị ép buộc phải theo, triều đình đã dùng kế phù dụ để tha. Tiếp đến năm 1142, triều đình nhà Lý lại sai Dương Tự Minh, thủ lĩnh phủ Phú Lương đến châu Quảng Nguyên (Cao Băng) đi phủ dụ dân chúng. Vào tháng 12 năm đó, triều đình nhà Lý lại xuống chiếu tha tội lưu cho các bè đảng của Thân Lợi. Năm 1143, triều đình nhà Lý lại cử Dương Tự Minh cai quản mọi việc của các khê động dọc biên giới và lại gà công chúa Thiều Dung cho để ràng buộc.

Cuộc nổi dậy của Thân Lợi phản ánh sự bất bình của các dân tộc thiểu số miền Đông Bắc đất nước đối với chính sách bóc lột của nhà Lý. Đó là dấu hiệu đầu tiên về sự rạn nứt của khối cộng đồng các dân tộc trong quốc gia Đại Việt, đồng thời cũng là dấu hiệu suy yếu của bộ máy chính quyền nhà nước trung ương trước khuynh huớng cát cứ của các địa phương. Khuynh hướng này đến đầu thế kỷ XIII đã biến thành hiện tượng ly khai và tình trạng hỗn chiến của các tập đoàn phong kiến vùng, dẫn đến nguy cơ sụp đổ cùa vương triều Lý.

– Trong triều đình

Sau một thời gian dài xây dựng đất nước và củng cố chính quyền, đánh dấu một giai đoạn phát triển của vương triều Lý thì đến cuối triều Lý, bắt đầu từ triều vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) trở đi, tình hình triều chính biểu hiện nhiều nét không ổn định. Các vua vào giai đoạn này lên ngôi đều nhỏ tuổi và chết trẻ (Lý Thần Tông lên ngôi năm 11 tuổi, chết năm 22 tuổi. Lý Anh Tông lên ngôi năm 3 tuổi, chết năm 40 tuổi. Lý Cao Tông lên ngôi năm 2 tuổi, chết năm 17 tuổi). Những quần thần phụ chính giúp việc cho vua thì đều lộng hành và gian ác, một trong những nguyên nhân gây ra nhiều mâu thuẫn và rối loạn cung đình. Quyền hành trong triều thực tế nằm trong tay các quan đại thần và các bà Thái hậu. Không những thế, trong triều còn nảy sinh nạn ngoại thích chuyên quyền và những âm mưu phế lập, mở đầu cho những cuộc tranh chấp phe phái, bạo loạn và tình trạng cát cứ sau này.

Những rối loạn đầu tiên nảy sinh trong cung đình nhà Lý vào thời gian này là xuất phát từ nạn ngoại thích và sự chuyên quyền của Đỗ Anh Vũ. Anh Vũ là em trai Đỗ Thái hậu (vợ Sùng Hiền hầu, mẹ vua Lý Thần Tông). Nhờ có thế lực gia đình, diện mạo khôi ngô và một số tài vặt như bắn cung, cưỡi ngựa, múa hát, viết chữ đẹp và tính toán giỏi, Anh Vũ đã được tuyển vào cung cấm từ năm 12 tuổi dưới thời vua Lý Nhân Tông (1124)4Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 468. Đến năm 15 tuổi, Anh Vũ đã được trao quyền bính “Chức vụ bao hàm cả sáu bộ thượng thư. Các việc chính trị ở trong cung cấm và việc xây dựng thợ thuyền vua đều ủy thác cho cả”5Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 468. Vợ Lý Thần Tông là Hoàng hậu Cảm Thánh họ Lê đã đem lòng yêu mến Anh Vũ. Tháng 9 năm Đinh Tỵ (1137), trước khi chết, vua Lý Thần Tông đã ủy thác cho Đỗ Anh Vũ (lúc đó mới 25 tuổi, hơn Thần Tông 4 tuổi) trông nom triều chính và vua nhò Anh Tông (mới 3 tuồi) vì Thần Tông tin rằng chỉ có Anh Vũ (cậu ruột của mình) mới “là người có thể gửi gắm họ Lý được mà thôi”6Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 468.

Nhân thời cơ đó, Anh Vũ đã đưa vợ là Tô Thị vào hầu hạ chị ruột mình là Đỗ Thái hậu (mẹ Lý Thần Tông, bà Lý Anh Tông) để tìm cách tư thông với Lê Thái hậu (vợ Lý Thần Tông, mẹ Lý Anh Tông). Vì chuyện đó mà Lê Thái hậu mới cất nhắc Anh Vũ lên làm “Cung điện lệnh tri nội ngoại sự”7Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 330 được tự do ra vào nơi cung cấm (lúc đó Anh Vũ mới 28 tuổi). Tháng 9 năm Mậu Ngọ (1139), Anh Vũ còn được phong làm Phụ quốc Thái úy, ban quốc tính họ Lý và được hoàn toàn nắm giữ quyền bính8Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 469.

Lợi dụng chức cao quyền trọng, lòng tin yêu của Lê Thái hậu, vua Anh Tông còn nhỏ tuổi và chút ít công lao đánh dẹp vụ nổi dậy của Thân Lợi trước đó, Anh Vũ đã làm nhiều việc chuyên quyền độc đoán, lấn át các quan và đình thần. Càng ngày Anh Vũ “càng kiêu căng bừa bãi, ở trốn triều đình thì giơ tay thét lớn, sai khiến quan lại chì nhếch mép ra hiệu, mọi người chi lấm lét không ai dám nói”9Việt sử lược, sđd, tr. 141. Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 338. Nhưng không sao chịu nổi sự lộng hành của Đỗ Anh Vũ, một số quan lại trong triều như Điện tiền chỉ huy sứ là Vũ Đái, Hỏa đầu đô Quảng Vũ là Lương Thượng, Hỏa đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi, Nội thị là Đỗ Át cùng với Tri Minh vương, Bảo Ninh hầu, Phò mã lang Dương Tự Minh, v.v… đã xin vua đem quân bắt giam Anh Vũ và ép vua Lý Anh Tông phải thân đứng ra xử án, đày Anh Vũ làm Cảo điền nhi10Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, ừ. 339. Việt sử lược chép là Thăng điền hoành (nông nô cày ruộng công cùa Nhà nước ở Cảo Xã). Nhưng nhờ sự lo lót và vận động của Lê Thái hậu, chẳng bao lâu Anh Vũ lại được xá tội, lại làm Thái úy phụ chính như cũ. Được vua Lý Anh Tông tiếp tục tin dùng, Anh Vũ càng lộng hành hơn trước.

Trong buổi xế tà của vương triều Lý, những sự việc như trên đã làm nảy sinh thêm bao âm mưu cung đình khác. Khi đã được phục chức, có thêm cơ hội củng cố uy lực của mình, Đỗ Anh Vũ đã khôn khéo tìm cách chữa khỏi bệnh cho vua, rồi đưa thêm hai người con của người anh họ là quan Thị trung họ Đỗ vào cung làm vợ vua Anh Tông, trong đó có một người là Hoàng hậu Thụy Châu (chính là mẹ của vua Cao Tông sau này). Khi Thụy Châu sinh được Thái tử Thiên Bảo (1154) và hai Hoàng tử nữa (1156, 1158) thì vị thế của Anh Vũ “ngày càng cao sang, tước vị đứng đầu trăm quan, cả nước không ai bằng”11Thơ văn Lý – Trần, sđd, tr. 469. Yên vị rồi, Anh Vũ mới ra tay trả thù, đàn áp những người chống đối mình trước đó. Anh Vũ tự lập ra đội quân tin cậy hơn 100 người gọi là Phụng quốc đô, chuyên đi bắt bớ người. Anh Vũ còn mật tâu với nhà vua trẻ tuổi Anh Tông để tìm cách trừng trị và giết hại toàn bộ những quần thần Đỗ Át, Vũ Đái, Đồng Lợi và xử đày Phò mã Dương Tự Minh cùng đồng mưu ra miền xa xôi, khí hậu độc dữ. Năm 1158, Anh Vũ còn tìm cách giết hại đình thần Nguyễn Quốc Dĩ, người đã đệ trình vua Anh tông cho lập một hòm thư đặt ở sân rồng để thu nhặt những đơn thư tố cáo về những việc làm sai trái. Trong hòm có cả thư nặc danh kể tội Anh Vũ, nên Anh Vũ tìm cách hãm hại Quốc Dĩ12Việt sử lược, sđd, tr. 146 – 147. Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 344. Cương mục, Chính biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 4 ]. Cuối cùng, đến năm Kỷ Mão (1159), Đỗ Anh Vũ lâm bệnh rồi qua đời, kết thúc tấm thảm kịch lộng hành cùa y trong cung đình nhà Lý hàng hơn hai thập kỷ (22/46 năm trong cuộc đời của Đỗ Anh Vũ).

Sang đời vua Lý Cao Tông, làm phụ chính cho vua lại là Đỗ Yên Di, em ruột Thái hậu (mẹ Cao Tông), cũng là một nhân vật tàn ác không kém gì Đỗ Anh Vũ trước đó. Yên Di còn dùng thủ đoạn tàn ác ngấm ngầm hơn là cấm dân miền xuôi trao đổi muối, đồ sắt với đồng bào miền núi13Toàn thư, Bản kỳ, quyền IV, tập I, sđd, tr. 351. Cương mục, Chính biên, quyền V, tập I, sđd, tr. 420. Việt sử lược, sđd, tr. 156 để dễ đàn áp các cuộc khởi nghĩa của đồng bào miền núi.

Chính từ những âm mưu chính trị đen tối trên đã đẻ ra những sinh hoạt thối nát trong cung đình. Vua và vương hầu thì thả sức ăn chơi xa xỉ và dâm dật. Kể từ sau khi vua Lý Anh Tông qua đời (1175), tình hình triều chính nhà Lý càng trờ nên rối ren với bao chuyện bê bối. Thái từ Long Xưởng vì hiếu sắc đã thông gian với cung phi của vua cha, bị tội, phế làm dân thường và bị bắt giam.

Chính Hoàng hậu đã bày mưu cho con mình làm việc đó. Việt sử lược ghi rằng: “Bà Nguyên phi Từ thị được vua yêu, Hoàng hậu bèn sai Long Xưởng ngầm dở ngón tư tình để mê hoặc Từ thị, muốn cho bà Từ thị từ đó bị vua xem sơ”14Việt sử lược, sđd, tr. 156 – 157. Nhưng Từ thị đã đem việc đó tâu với vua, vua giận phế Long Xưởng xuống làm thứ dân. Cuối cùng vua Anh Tông đã quyết định chọn người con thứ hai là Long Trát (Long Cán) làm Thái tử. Long Trát lúc đó mới lên 2 tuổi là con cùa Hoàng hậu Đỗ Thụy Châu (cháu của Đỗ Anh Vũ), được vua rất yêu mến. Khi Anh Tông qua đời, Hoàng hậu (mẹ Long Xưởng) dự tính một âm mưu phế lập, cho người đem vàng đến đút lót vợ Thái phó Tô Hiến Thành để Tô Hiến Thành lập lại Long Xưởng. Nhưng việc không thành, Hoàng hậu còn xui con nổi loạn. Long Xưởng đem thân thuộc làm loạn, định đột nhập vào cung, nhưng bị Tô Hiến Thành đem quân ngăn lại. Tô Hiến Thành là một bậc trung thần rất kiên quyết đứng ra bảo vệ ngôi vua cho Cao Tông và ngăn ngừa được âm mưu phế lập đang nổi dậy trong cung đình, tuy vậy ông đã không ngăn cản được nguy cơ suy sụp của vương triều Lý.

Theo di huấn của vua Anh Tông, Long Trát lên ngôi (1175), tức là vua Lý Cao Tông. Nhưng từ khi Lý Cao Tông lên nắm giữ quyền bính thì tình hình cũng không sáng sủa gì hon. Vì vua Cao Tông còn quá nhỏ làm sao đảm đương nổi công việc của một vương triều đang trong buổi xế tà nên quyền hành thực tế lại nằm trong tay Thái hậu Thụy Châu và Thái sư Đỗ Yên Di15Việt sử lược ghi là Đỗ An Thuận, là em trai của Thái hậu, cháu họ Đỗ Anh Vũ. Năm 1179, khi Tô Hiến Thành mất, Đỗ Thái hậu đã không nghe theo lời di chúc của Tô Hiến Thành (chọn Trung Tá) mà đã tự ý đề cử Đỗ Yên Di làm Phụ chính. Từ đây, tình hình triều chính nhà Lý càng xấu đi. Đỗ Yên Di lên làm Phụ chính đã trở thành một “Đỗ Anh Vũ thứ hai” chuyên quyền hơn, lộng hành hơn, gian ác hơn, ai nấy đều sợ. Yên Di còn dùng đội quân tay sai của mình là “cân xa nhi”16Việt sừỉược, sđd, tr. 157 chuyên đi bắt những người chống đối, bất chấp kỷ cương phép nước đến nỗi phường tuồng đương thời đã phải đưa hiện tượng này lên sân khấu dân gian để đà kích17Việt sừỉược, sđd, tr. 157.

Chính bàn thân Thái hậu cũng mắc vào vụ bê bối tai tiếng là tư thông với Thái sư Mạc Hiển Tích. Việc vỡ lở, các quan đình thần đòi nghị tội, nhưng cuối cùng vụ án bị im đi, những người có trách nhiệm đều không dám truy cứu, vì sợ uy quyền của Đỗ Thái hậu và Mạc Hiển Tích.

Trong triều đình nhà Lý lúc đó, tệ hỗn quan hỗn quân và tệ gian thần luôn là hai tai họa song hành. Sau Đỗ Yên Di, những viên quan đại thần phụ chính khác đều là những người hèn kém cả về đức lẫn tài. Ngô Lý Tín (người thay Đỗ Yên Di sau khi mất) thì sợ hãi nhu nhược không dám kết tội Mạc Hiển Tích, để người trong nước phải làm vè chế giễu18Bài vè chế giễu Thái phó phụ chính Ngô Lý Tín và Đô quan lang trung Lê

Năng Trường sợ Mạc Hiển Tích có câu:

“Ngô phụ quốc là Lan,

Lê đô quan là Kích

Xét việc kiện Hiển Tích

Chỉ sợ hãi mà thôi”.

Lan và Kích ý chi hai thằng điên. Đàm Dĩ Mông (người thay Ngô Lý Tín) lại cũng là một kẻ nhu nhược, xu nịnh, vô học, hay chia bè phái, kết đàng đã từng bị Thượng tướng quân Nguyễn Bảo Lương và Lại bộ Thượng thư Từ Anh Nhĩ vạch tội trước mặt vua là đồ “mọt nước hại dân”19Việt sử lược, sđd, tr. 168 và sau đó còn bị Đỗ Anh Triệt kể tội là “đồ vô quân không xứng đáng để nhìn mặt”.

Thái hậu và những phụ chính giúp vua thì như thế, còn vua là người đứng đầu triều đình lúc đó thì lại tệ hại hơn nữa. Vào thời gian này, đứng đầu triều đình và cũng là đứng đầu cho sự xa hoa trụy lạc và suy đốn của nhà Lý là vua Lý Cao Tông. Sử cũ vẫn còn ghi lại rằng: “Vua chơi bời vô độ, hành chính không rõ ràng, giặc cướp nổi lên như ong, đói kém liền năm”20Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 349. Đã thế vua lại “rất ham của cải lợi lộc, lấy việc bán quan buôn ngục làm chính sự”21Việt sử lược, sđd, tr. 170. Mỗi khi có những vụ kiện tụng, vua thường lợi dụng, vì thế “kho đụn của Nhà nước của cải chất như núi, còn bách tính thì kêu ca, oán thán. Giặc cướp nổi lên như ong”22Việt sử lược, sđd, tr. 170. Vua Cao Tông lại có tính rất thích chơi bời, du ngoạn và yến ẩm. Biên niên sử chép: “Nhà vua thường ra ngoài cung Hải Thanh. Đêm nào cũng sai nhạc công gảy đàn Bà Lỗ, hát khúc hát theo điệu Chiêm Thành, tiếng nghe ai oán thảm thiết, tả hữu nghe hát đều rơi nước mắt. Tăng phó Nguyễn Thường nói với vua rằng: “Tôi thấy bài tựa Kinh Thi có nói: Âm nhạc của nước loạn nghe như thương như nhớ, vì nhân dân nước ấy bị khốn cùng. Nay chúa thượng dong chơi vô độ, chính sự giáo hóa sai trái lìa tan, dân đen buồn khổ đến thế là cùng. Mà ngày nay nghe âm nhạc ai oán, đó chẳng phải là điềm nước loạn, nước mất hay sao”23Việt sứ lược, sđd, tr. 165. Năm 1203, Cao Tông còn cho xây dựng hàng loạt cung điện, thềm gác ở kinh thành. Cho xây ao nuôi cá, trên ao có đình Ngoạn Ý, ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ, nước ao thông với sông, cách trạm trổ trang sức khéo léo công trình thổ mộc đẹp đẽ, từ xưa chưa từng có, triều đình không ai ngăn được. Ngay cả những năm loạn lạc như năm 1206, đường sá bị tắc nghẽn mà vua vẫn

thích rong chơi, nhưng không đi đâu được, vua bèn sai làm hành cung ứng Phong, Hải Thanh ở chỗ ao ứng Minh, hàng ngày đem bọn cận thần, cung nữ ra chơi bời làm vui. Lại lấy thuyền to làm thuyền ngự, sai bọn cung nữ, phường tuồng chèo thuyền bé làm nghi vệ như vua ngự đi chơi đâu đó. Rồi sai lấy sáp ong bọc những tấm lụa và các thứ hải vật thả xuống ao rồi sai người lội xuống mò lên giả làm đồ vật dưới long cung đem dâng, v.v…24Việt sừ lược, sđd, tr. 171 Thấy vậy, quần thần sợ hãi không ai dám nói, có người phường tuồng phải bịa ra chuyện vua qui để dọa vua, nhưng Cao Tông vẫn không hề thay đổi. Trong khi đó, ở bên ngoài triều thì giặc cướp nổi lên như ong, dân chết đói nằm gối lên nhau mà vua không mảy may để ý.

* Những rối loạn về kinh tế – xã hội

Sau hơn một thế kỳ xây dựng và phát triển kinh tế, thì đến khoảng giữa thế kỳ XII trở đi nền kinh tế đất nước có biểu hiện sa sút, tình trạng mất mùa đói kém xảy ra luôn năm do Nhà nước ít quan tâm hơn. Đã thế, thiên tai và dịch bệnh luôn hoành hành làm cho đời sống nhân dân trở nên cùng cực. Bên ngoài, giặc giã nổi lên khắp nơi làm cho đời sống xã hội không được ổn định như trước. Sử cũ vẫn còn ghi lại khá nhiều sự kiện về những tai họa thiên nhiên cùng những hậu quả về xã hội như đói, rét, ốm đau, dịch bệnh, v.v…

Cụ thể là sau hai vụ động đất và nước lớn vào các năm 1152, 1155 làm cho mấy năm liên tiếp sau đó giá gạo cao vọt, lên tới 70 đồng tiền một thăng gạo25Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 344. Cùng với những trận lụt, hạn, động đất từ các năm 1162, 1165 đã làm cho dân bị lâm vào nạn dịch lớn, trâu bò gia súc chết nhiều, giá gạo cao vọt26Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 346. Dưới triều vua Lý Cao Tông, sử cũ ghi lại rất nhiều năm dân bị đói lớn, như năm 1181, dân bị đói chết đến gần một nửa27Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 351. Năm 1199, lúa mạ ngập hết, đói to28Toàn thư, Bàn kỳ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 355, hoặc trận động đất khủng khiếp vào năm 1208 “người chết đói nằm gối lên nhau”29Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 358. Từ tình hình ấy dẫn đến nạn “giặc cướp nổi lên như ong”, “đời sống nhân dân cùng cực”.

Trước nguy cơ đó, Nhà nước quân chủ đã không có được một biện pháp kinh tế – xã hội hữu hiệu nào đề giải quyết, ngược lại, triều đình lại cho thi hành những chính sách bảo thủ ngăn cản sản xuất, kìm hãm xu hướng phát triển của tư hữu ruộng đất và sự trao đổi hàng hóa. Đối với nhân dân các dân tộc miền núi, triều đình còn ban hành chính sách khắc nghiệt hơn là “cấm không được đem mắm muối và đồ sắt lên bán đổi ở đầu nguồn”30Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 351. Việt sử lược, sđd, tr. 156. Năm 1205, để có tiền chi dùng vào những mục đích ăn chơi, có nhiều vụ tranh chấp ruộng đất và tài sản trong dân gian, vua Lý Cao Tông “chẳng hỏi tình lý phải trái thế nào đều tịch thu sung công cả”31Việt sử lược, sđd, tr. 170. Những việc làm độc đoán đó đã làm thui chột đi những mầm mống kinh tế – xã hội đang nảy sinh, gây nhiều phản ứng trong dân gian, nên chỉ sau đó ít năm (năm 1207), trước tình cảnh “giặc cướp nổi lên như ong”, nhà vua đã phải hối lỗi hạ chiếu rằng: “Ai có ruộng đất sản nghiệp bị sung công sẽ được hoàn lại”32Việt sử lược, sđd, tr. 174. Tất cả những rối loạn về chính trị, kinh tế và xã hội trên đây xảy ra vào cuối thời Lý đã gây ra những phản ứng trong mọi tầng lớp xã hội.

Ở trong triều thì hầu hết các quan lại đều chán nản, hoặc sợ sệt “không ai dám nói gì”. Có một số ít đã can đảm đứng ra can ngăn nhà vua hoặc tố cáo bọn gian thần, nhưng đều không mang lại hiệu quả. Tô Hiến Thành, vị quan thanh liêm, trước khi mất đã để lại di chúc khuyên can nhà vua về đường lối trị nước, nhưng cũng không được nghe theo. Khi vua Lý Cao Tông cho xây dựng nhiều cung điện, hao tiền tốn của nhọc sức dân, một số quan lại trong triều đã phải mượn việc đòi xưa để can ngăn, khuyên vua nên “trước cốt sửa mình, tu đức, sau hãy khởi công xây dựng mới là phải”33Việt sử lược, sđd, tr. 166. Bọn hoạn quan trong triều đứng đầu là Phạm Binh Di thấy vậy đã đem lời dèm pha, xu nịnh, càng làm cho Cao Tông tường thật dốc thêm súc, gấp rút “sửa sang điện gác mau chóng, trăm họ vì thế càng khốn khổ”34Việt sử lược, sđd, tr. 166. Bọn gian thần được thể càng lộng hành, thẳng tay đàn áp những người nói thẳng như trường hợp Đỗ Anh Doãn công khai kể tội Đàm Dĩ Mông thì chỉ vài tháng sau đó đã bị khép vào tội chết.

Trước cảnh triều chính như vậy, giới tăng quan cũng tò thái độ chán nản. Lê Thước, thuộc dòng dõi quý tộc, cả nhà đều làm quan to dưới triều Lý, cuối cùng cũng bò đi tu và nhiều lần từ chối lời mời ra làm quan của vua Anh Tông và Cao Tông. Tăng phó Nguyễn Thường cũng khuyên can Cao Tông hạn chế việc rong chơi, xa si, say đắm thanh sắc để lo việc nước. Cư sĩ Nguyễn Nộn ở chùa Bắc Giang cũng bất mãn với chính quyền đã khởi binh bạo loạn vào năm 1218, v.v…

Tầng lớp bình dân thì càng tỏ ra bất mãn và mất hết lòng tin vào chính quyền quân chủ. Họ đã tự làm vè, diễn tuồng châm biếm và đả kích tầng lớp vua quan thống trị đang là một lũ sâu mọt, hại dân, hại nước. Trong bối cảnh xã hội vô cùng rối ren như thế, những hiện tượng dị đoan, kỳ dị cũng xuất hiện khá nhiều vào lúc này và được sử cũ liên tục ghi lại. số tăng đồ trong xã hội cũng ngày càng gia tăng. Năm 1198, Đàm Dĩ Mông, một tên được mệnh danh là “mọt nước hại dân” cũng phải tâu với vua rằng: “Đương nay số tăng đồ và số dịch phu ngang nhau. Chúng tự kết bè lũ, lập càn người chủ, tụ tập từng bọn, làm nhiều điều ô uế. Hoặc ở nơi giới trường, tịnh xá mà công nhiên rượu thịt, hoặc ở chốn tăng phòng tĩnh viện mà riêng tư gian dâm. Ngày ẩn tối ra như đàn cáo chuột. Chúng làm bại tục thương giáo, dần dần thành thói quen, nếu không cấm đi, để lâu tất ngày thêm tệ”35Việt sử lược, sđd, tr. 163 – 164. Vua theo lời Dì Mồng, năm 1198, đã cho triệu tập tăng đồ trong xứ lại, chi giữ vài chục người có danh tiếng làm tăng, còn lại đánh dấu vào tay bắt phải hoàn tục.

* Xu hướng ly khai của các tộc người vùng biên cương

Một thời gian sau cuộc kháng chiến chống Tống, nhà Lý không còn quan tâm nhiều tới vùng biên cương như trước. Thêm vào đó là những chính sách thuế khóa nặng nề, như thuế thổ sản, thuế mắm muối, thuế hương liệu, hoa quả đầu nguồn, v.v… đã làm tăng thêm gánh nặng cho những tộc người ở vùng biên cương khiến họ nổi dậy chống lại chính quyền trung ương để thoát ly khỏi sự quản lý của chính quyền trung ương.

Hàng loạt các cuộc nổi dậy đã nổ ra ở những địa phương khác nhau vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XII. Đó là cuộc nổi dậy của đồng bào miền núi Chàng Long năm 115236Việt sử lược, sđd, tr. 144, của “dân man” Lộng Lạc ở Mang Quán giang (Mường Quán, Sơn La) năm 116437Việt sử lược, sđd, tr. 149, của đồng bào miền núi các sách Tư Nông, sách Trịnh, sách Ô Mễ năm 118438Việt sử lược, sđd, tr. 157, sách Linh năm 118539Việt sử lược, sđd, tr. 158. Trước sự nổi dậy như vậy, triều đình nhà Lý đã phải cử Vương Nhân Tù và sau đó cử Kiến Ninh vương Long ích đem 12.000 quân đi đàn áp. Các thủ lĩnh, quan lang là Đinh Sảng, Đinh Vũ đầu hàng rồi sau đó bị giết và bị phơi thây.

Mặc cho chính quyền trung ương đã dùng mọi cách đàn áp nhưng cũng không thể làm dịu đi được những cuộc nổi dậy, mà ngược lại còn làm tăng thêm lòng căm phẫn của nhân dân các tộc người này. Năm 1192, nhân dân giáp c ổ Hoàng nổi dậy cầm đầu là Lê Văn. Năm 1194, đồng bào châu Chân Đăng (Tam Nông – Lâm Thao, Phú Thọ) nổi dậy do thủ lĩnh là Hà Lê cầm đầu. Tiếp theo là đồng bào ở hương Cao Xá thuộc Châu Diễn (Hà Tĩnh) do Ngô Công Lý cầm đầu nồi dậy vào năm 1198 và những nơi khác nữa như đồng bào Mường ở núi Tản Viên, châu Quốc Oai (Ba Vì, Hà Nội ngày nay) do Bùi Khả Liệt và Vương Mẩn cầm đầu, v.v…

Cuộc nổi dậy lớn nhất và kéo dài nhất là của đồng bào miền núi châu Đại Hoàng (thuộc vụng Ninh Bình). Ngay từ năm 1152, Nùng Khả Lai đã cầm đầu người Mường ở đây nổi lên chống lại triều đình nhà Lý. Đến năm 1198, người châu Đại Hoàng lại nổi dậy do Đinh Khả và Bùi Đô tự xưng là con cháu thuộc dòng dõi Đinh Tiên Hoàng cầm đầu nhưng sau đó đã bị quân của Trần Tự Khánh đánh dẹp. Sang những năm đầu thế kỷ XIII, nghĩa quân Đại Hoàng đã tập hợp lực lượng xung quanh thủ lĩnh mới là Phí Lang. Phí Lang cũng là người gốc châu Đại Hoàng, từng làm quan trong triều. Có lần vì tố cáo Đàm Dĩ Mông trước mặt vua về tội mọt nước hại dân, Phí Lang bị Dĩ Mông thù ghét, phạt đánh roi. Nhân lúc thiên hạ sầu khổ muốn làm loạn, Phí Lang bèn tập hợp những người Đại Hoàng bị bắt đi làm phu lao dịch xây cửa Đại Thành ở kinh đô Thăng Long trốn về quê nổi dậy khởi nghĩa. Vua Lý Cao Tông đã phải sai Chi hậu Trần Lệnh Hinh làm Nguyên soái đi đánh và sau đó lại cừ thêm Thượng thư Từ Anh Nhĩ đem quân phù Thanh Hóa cùng đến đánh. Cả hai đều bị Phí Lang giết chết ở sông Lộ Bố (Ý Yên, Nam Định) năm 120340Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 357. Năm 1204, nhà vua còn cử tiếp Phụ quốc Thái bảo Đỗ Kính Tu và Quan nội hầu Đỗ Anh Doãn đi đánh nhưng đều bị thua, phải trở về kinh41Việt sử lược, sđd, tr. 169. Thanh thế của quân Phí Lang ngày càng lớn. Năm 1205, nghĩa quân đã đánh tan được thủy quân của triều đình do Đàm Dĩ Mông cho xây chiến lũy và bày thế trận. Nhân đà tháng, quân Đại Hoàng còn kéo đi cùng với quân Quan Sản thuộc “man lão” ở Chí Thổ (Hà Nam) đánh chiếm đánh được một số hương thôn vùng Ninh Bình, Nam Định, đốt Hành cung ứng Phong (Nghĩa Hưng, Nam Định), đốt phá các kho thóc và nhà cửa. Đến tháng 8 năm đó, vua Cao Tông phải dùng kế hòa hoãn sai thị vệ là Nguyễn Vị tới phù dụ, Phí Lang cùng hơn 170 hào trưởng đã phải ra hàng42Việt sử lược, sđd, tr. 170. Mặc dầu vậy, trên thực tế, triều đình nhà Lý vẫn không kiểm soát nổi miền Tây Nam, đến năm 1207, quân Phí Lang vẫn nổi lên đánh một số ấp khác ở Tạ Dư (?).

Sau khi vua Lý Cao Tông qua đời, nghĩa quân Đại Hoàng vẫn còn tiếp tục hoạt động. Dưới thời vua Lý Huệ Tông, vào năm 1214, quân của Trần Tự Khánh đi đánh Đại Hoàng, hai tướng Đinh Khả và Bùi Đô bị thua. Nhưng sang năm 1215, quân của Đại Hoàng lại đánh tan được quân Tự Khánh, tướng Nguyễn Đường (con rể của Tự Khánh) bị chết đuối43Việt sử lược, sđd, tr. 20. Cho tới khi nhà Trần thay nhà Lý (1225) mà triều đình vẫn chưa dẹp yên được nghĩa quân Đại Hoàng. Không phải đến lúc này tình hình trong nước mới lâm vào tình trạng nguy khốn mà ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XIII, đất nước đã rơi vào trạng thái chia ba sẻ bảy, giặc giã nổi lên khắp nơi, đường sá bị tắc nghẽn. Sử cũ ghi lại: năm 1207 “giặc cướp nổi lên như ong”, nhà vua phải “xuống chiếu chọn các đinh nam, người nào khỏe mạnh, sung vào quân ngũ, sai các lộ thống quản đi bắt giặc cướp”44Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 357. Cũng vào năm 1207, cùng với sự nổi dậy của nghĩa quân Đại Hoàng, còn cỏ người Mường ở núi Tản Viên, châu Quốc Oai (Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) cũng nổi lên do Bùi Khả Liệt, Vương Mãn đứng đầu, thanh thế rất lớn. Từ Quốc Oai, nghĩa quân kéo xuống Thanh Oai “bè lũ rất đông không thể ngăn được”45Toàn thư, Bản kỳ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 358. Năm 1208, nghĩa quân từ Quốc Oai tiến đến đóng ở Tây Kết “đường sá vì thế không thông”46Toàn thư, Bản kỳ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 358, vua phải sai Thượng phẩm phụng ngự Phạm Binh Di đem quân châu Đằng đi đánh. Như vậy, cho đến đây, Quốc Oai cũng đã lìa khỏi phạm vi kiểm soát của chính quyền trung ương và sau đó vùng đất rộng lớn này đã trở thành khu vực của những lực lượng cát cứ.

Những cuộc nổi dậy của nhân dân các tộc người nói trên đã thúc đẩy thêm sự suy yếu của chính quyền trung ương nhà Lý-và về mặt nào đó nó đã làm thu hẹp phạm vi kiểm soát thực tế của triều đình và chính nó đã tạo điều kiện dẫn đến hiện tượng phân liệt cát cử của các tập đoàn phong kiến sau đó.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: 

You may also like