Đổng Thị kỳ huyệt (phần 7) – Một số chú ý trong châm cứu Đổng thị

Như đã hẹn trong Đổng Thị kỳ huyệt phần 6, ở phần này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một số chú ý trong châm cứu Đổng Thị.

Tiếp theo của Phần 6 – Thủ pháp châm cứu trong Đổng Thị

B2 Chú ý nông sâu

Độ sâu của châm cứu liên quan đến hiệu quả lớn, trong Đổng thị thường đề cập đến độ sâu khác nhau, ví dụ thủ thuật châm Đại Gian, Tiểu Gian chỉ ra rằng: “chia 5 phân châm, châm thẳng xuống một phân trị bệnh ở tim, hai đến 2,5 phân trị các nhánh thần kinh của phổi. ” Thủ thuật châm huyệt Địa Sĩ: “Châm sâu một thốn chữa hen suyễn, cảm mạo, nhức đầu và thận suy. Châm sâu một một thốn năm phân chữa bệnh tim.” Thủ thuật châm huyệt Địa Tông: “Châm sâu một thốn chữa bệnh nhẹ, châm sâu hai thốn chữa bệnh nặng.” Đây chỉ là một số ví dụ. Có thể nói, tất cả các huyệt đạo của Đổng thị, đều thực hiện nguyên lý nông sâu. Độ sâu của các huyệt mà thầy Đổng sử dụng đại khái tuân theo các nguyên tắc sau.

– Căn cứ vị trí bệnh

Nói chung, bệnh ở biểu châm nông, bệnh ở xương, nội tạng nên châm sâu. Đôi khi điều trị ngoại cảm thường chích máu các huyệt ở lưng như Đại Chùy, Phế Du, Cao Hoang. Cùng một huyệt nhưng trị bệnh khác nhau thì châm nông sâu cũng khác nhau, ở thủ thuật châm Đại Tiểu gian có nói rõ trị bệnh gần châm nông, trị bệnh xa châm sâu. Một ví dụ khác là huyệt Túc Tam Lý, Đổng sư thường nói: Châm năm phân một thốn chữa các bệnh về chân, từ một đến một thốn rưỡi chữa các bệnh về đường tiêu hóa, t nhất một thốn rưỡi trở lên đối với bệnh tim và hen suyễn, hai thốn trở lên đối với bệnh ở đầu và mặt. Ứng dụng này lâm sàng thật sự có ý nghĩa.

– Căn cứ theo bệnh tình

Thông thường các chứng nhiệt hư chứng nói chung châm nông; hàn chứng thực chứng châm sâu; các bệnh mới nên châm nông, bệnh mãn tính nên châm sâu. Thầy Đổng chữa những bệnh nhẹ và mới, thường châm cứu ở những phần nông như các huyệt trên mặt ngón tay, đối với những bệnh mãn tính và nặng, thầy chủ yếu dùng những huyệt sâu hơn ở bắp chân và đùi.

cham-cuu-dong-thi

– Căn cứ theo thời lệnh

Nói chung, châm cứu nông thích hợp vào mùa xuân, hạ; châm nông thích hợp vào mùa thu. đông. Thầy Đổng không chỉ tuân theo nguyên lý châm cứu nông vào mùa mà còn có sự khác biệt trong việc chọn huyệt và điều trị theo mùa.

– Căn cứ theo thể chất

Nói chung, những người béo phì, cường tráng, nhiều cơ thì nên châm sâu, đối với những người gầy, yếu, cơ ít, trẻ sơ sinh nên châm nông. Châm cho người lao động chân tay thường sâu hơn một chút so với người lao động trí óc.

– Căn cứ huyệt vị

Huyệt Đổng thị chủ yếu dùng ở tứ chi, phần nhiều cơ có thể sâu hơn một chút, phần còn lại nông hơn một chút. Các huyệt được chia thành ba bộ thiên-địa-nhân: cục bộ châm nông, xa hơn chút châm vừa, xa nhất thì sâu. Ngực và lưng chủ yếu dùng kim tam lăng chích máu, các huyệt trên đầu và mặt hầu hết châm kim nông hoặc ngang kim . Không gây nguy hiểm, hiệu quả chữa bệnh cao.

Tóm lại
Châm huyệt nông sâu cần căn cứ theo vị trí bị bệnh, bệnh tình hư thực, thể chất, thời lệnh,, huyệt vị mà mà định.
Huyệt nông châm nông, huyệt sâu châm sâu; bệnh mạn tính thể chất tốt, mùa thu đông, chứng hàn và thực, người thể chất khỏe, béo tốt châm sâu. Còn ngược lại thì châm nông; châm cục bộ chỗ bệnh thì châm nông, càng châm xã chỗ bệnh thì châm càng sâu. Các huyệt ở đầu chi, thà châm sâu còn hơn châm nông. Cùng 1 huyệt nhưng tùy bệnh khác nhau cũng châm nông sâu khác nhau, vùng bệnh ở càng xa huyệt đó thì càng châm sâu.

B3 Chú ý lưu kim

Lưu kim là việc giữ kim trong huyệt sau khi châm kim để củng cố và tiếp tục lực châm và tác dụng của nó, nhằm đạt được mục đích nâng cao hiệu quả chữa bệnh. Việc giữ lại kim và thời gian giữ lại kim là bao lâu tùy thuộc vào từng người, bệnh, thời gian, huyệt đạo và “khí”.

– Căn cứ theo bệnh

Tùy theo diễn biến, vị trí, tính chất của bệnh mà định, bệnh lâu ngày tà khí nhập sâu vào trong đến m phần, doanh phần, thuộc hà thuộc hư (đối với bệnh lâu mà thực thì nên chích máu). Châm sâu nên để lâu; Sơ bệnh tà khí ở biểu nông hoặc bệnh ở dương phần, vệ phần, hoặc thuộc nhiệt thuộc thực nên châm nông không lưu kim

– Căn cứ theo mùa

Xuân hạ, dương khí tại biểu, châm nông lưu ngắn hoặc không lưu. Mùa thu đông dương khí tại lý, châm sâu lưu kim lâu. Tương tự như vậy, châm cứu vào buổi chiều và buổi tối thường lâu hơn châm kim vào buổi sáng và buổi trưa.

– Căn cứ theo huyệt

Huyệt mà nông, khí phù tại ngoại, nên châm nông không lưu. Huyệt tại sâu thì lưu lâu hơn. Nhưng cần chú ý vì “nhiệt bệnh hút kim, hàn bệnh đẩy kim’. Bệnh hàn hưu lâu phòng kim bị hút vào cơ thể, cần phải lưu một phần kim ở ngoài, để tránh phát sinh trường hợp kim bị cong (kim có thể bị cong khi để kim lâu). Thầy Đông sử dụng tư thế nằm thoải mái để châm cứu, lưu kim tại các huyệt ở tứ chi, không sợ bị cong kim, không sợ hút kim, đây là phương pháp châm cứu an toàn hơn.

Thời gian lưu kim bao lâu là thích hợp? Hiện nay có hai cách nói được so sánh với các cách dùng phổ biến:
1. theo thiên linh khu ngũ thập doanh chỉ ra khí huyệt vận hành 1 vòng, phải mất 2 khắc, 1 ngày 1 đêm là 100 khắc. 2 khắc là 0,48 giờ, là 28 phút 48 giây.
2. theo thiên linh khu doanh vệ sinh hội chỉ ra doanh vệ 1 ngày 1 đêm tuần hoàn 50 vòng quanh cơ thể. Tương đương với 1 vạn 440 phút, tức là 28 phút 48 giây một chu kỳ

Từ hai điểm trên, thời gian lưu kim ít nhất phải là 28 phút 48 giây, hiện nay để thuận tiện cho việc tính toán, nói chung nên giữ lại kim 30 phút là hợp lý và phù hợp.

B4 Chú ý số lần trước sau

Nói chung, nếu thầy Đổng muốn chọc ba kim, trước tiên phải châm kim giữa, sau đó đến kim trên và kim dưới. Theo nghiên cứu, đầu tiên châm kim vào huyệt đạo, sau đó châm kim vào các huyệt khác, khí đều sẽ đi đến huyệt đã đâm trước đó, đây là nguyên lý của ‘khiên dẫn’ do cá nhân phát triển. Ví dụ, nếu đau thần kinh tọa thuộc Thái dương kinh, trước tiên châm cứu Linh Cốt, Đại Bạch (chủ châm), sau đó dùng Thúc Cốt để khiên dẫn. Tác dụng của hai kim châm cứu trước sẽ bị Thúc cốt khiên dẫn tự nhiên, hoặc có thể Thúc Cốt bị 2 kim trước khiên dẫn. Cũng có thể gặp nhau ở điểm đau ở giữa, do đó nên châm kim điều trị trước, sau đó châm kim khiên dẫn.

Châm cứu của thầy Đổng thường theo phương pháp cổ xưa là “tiên châm vô bệnh vi chi chủ , hậu châm hữu bệnh vi chi ứng ” Nếu có bệnh bên phải, bên trái không có bệnh thì châm trước. Nếu có bệnh ở phía trên bên trái, sẽ châm phía dưới bên phải trước, nếu phía trên bên phải bị bệnh, sẽ châm phía dưới bên trái trước ( người này cũng cần châm kim điều trị trước rồi mới châm kim khiên dẫn sau). Khi một số triệu chứng xuất hiện cùng nhau, các triệu chứng chính đầu tiên là châm cứu, và các triệu chứng phụ sau. Khi sử dụng đồng thời nhiều huyệt của nhiều kinh cần chú ý xem có vấn đề khắc ứng không. Như huyệt của kinh thổ, cùng dùng với huyệt của kinh thủy, thổ khắc thủy, có thể châm trước huyệt kinh thổ, lại châm huyệt kinh thủy, lúc xoay kim, trước xoay huyệt kinh thổ, sau mới xoay huyệt kinh thủy.

Còn tiếp …

Xem tiếp Phần 8 – Đổng thị kỳ huyệt với các học thuyết đông y