Mỵ châu Trọng thủy

Mỵ châu – Trọng thủy

Dù đã làm vua nước Nam Việt rộng lớn gồm có ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận, Triệu Đà vẫn chưa vừa lòng. Không thể bành trướng tham vọng của mình lên phía bắc vì nhà Tần vẫn còn, Triệu Đà bèn nhìn về phương nam. Ở đây, nằm kề biên giới là nước Âu Lạc với nhiều sừng tê, ngà voi, ngọc trai, trống đồng; xóm làng xanh mướt với nhiều cây trái ngọt lành. Bởi vậy Âu Lạc trở thành miếng mồi ngon, thúc giục lòng tham muốn của Triệu Đà.

Nhân cơ hội tình hình nước Tần rối loạn, suy yếu, vì vậy rảnh được mối lo phương bắc, Triệu Đà dồn lực lượng kéo xuống đánh Âu Lạc (vào khoảng đầu năm 209 trước Công nguyên). Quân Triệu Đà trùng trùng điệp điệp kéo đến núi Tiên Du thuộc Bắc Giang (Hà Bắc) thì dừng lại để dàn trận. Quân trinh sát được tung ra đi dọ thám. Chúng đóng giả làm những người buôn bán hòng lẻn vào kinh đô.

Nhưng bức tường thành Cổ Loa đã chắn bước chúng. Những tên gan lỳ nhất cũng chỉ lẻn được vào trong vòng thành Ngoài bằng cách lẫn vào quân lính. Trên cao là những vọng canh sừng sững, dưới hào thuyền đi tuần suốt ngày đêm, quân ngũ ngăn nắp tề chỉnh. Tất cả mọi sự thấy được làm bọn mật thám khiếp vía, đành quay về báo lại cùng Triệu Đà.

Nghe tin quân Nam Việt kéo đến, An Dương Vương trao nỏ thần cho tướng Cao Lỗ và ra lệnh xuất quân. Khi Triệu Đà đang còn lúng túng, bộ binh và thủy quân của Âu Lạc đã ập đến. Quân Đà hoảng loạn. Tướng Cao Lỗ ngồi trên bành voi, giương cao chiếc Nỏ Thần buông tên. Sau nhiều tiếng nổ kinh hồn, quân địch lăn ra chết như rạ ngoài đồng. Triệu Đà thua to, gom góp tàn quân lui về giữ núi Vũ Ninh.

Không từ bỏ mộng xâm lăng, chưa khiếp vía trước sức mạnh của Nỏ Thần và của quân Âu Lạc, Triệu Đà lại hạ lệnh về nước cho trưng mộ thêm binh lính. Lần thứ hai lâm trận, quân Triệu Đà lại thua liểng xiểng. Tiếng nổ của Nỏ Thần lại tiêu diệt hàng vạn tên giặc và đồng thời tỏ cho Triệu Đà biết là Âu Lạc có một vũ khí bí mật. Thấy thế không thắng được, Triệu Đà bèn đề nghị giảng hòa và rút quân về nước.

Hiểu rằng Âu Lạc có vũ khí bí mật, không thể chỉ bằng vũ lực mà chinh phục, Triệu Đà bèn tìm cách cho người vào Âu Lạc dò la. Được biết An Dương Vương có nàng con gái là Mỵ Châu xinh đẹp, Triệu Đà bèn sai con trai là Trọng Thủy sang Âu Lạc mượn danh nghĩa thông hiếu để kết thân. Triệu Đà còn đem của cải mua chuộc giới quý tộc Âu Lạc để họ đừng làm khó dễ Trọng Thủy. Sau nhiều lần đi sứ qua lại, Trọng Thủy gặp được Mỵ Châu và đem lòng yêu nàng.

Nàng Mỵ Châu thơ ngây cũng đáp lại tình yêu kia. Thấy mọi việc diễn ra như dự tính, Triệu Đà bèn cho người sang cầu hôn Mỵ Châu cho Trọng Thủy. Nghĩ rằng kết thông gia với Triệu Đà là sẽ tránh được nạn chiến tranh, An Dương Vương hoan hỉ nhận lời. Các Lạc hầu cũng đồng thanh tán thành. Duy chỉ có tướng Cao Lỗ là phản đối, ông nói với vua:

– Nó mượn cớ cầu hòa và cầu hôn để cướp nước ta đó thôi.

An Dương Vương không nghe lời Cao Lỗ, cho là ông cố chấp. Nhưng Cao Lỗ vẫn cương quyết can ngăn. Nổi giận An Dương Vương đuổi Cao Lỗ về quê. Trước khi lên đường, Cao Lỗ còn cố tâu với nhà vua:

  • Xin nhà vua thận trọng giữ gìn Nỏ Thần. Có được nỏ này thì làm vua thiên hạ, không giữ được nó thì mất thiên hạ1Chữ “Thiên hạ” ở đây chỉ đất nước, quốc gia.

Nhưng An Dương Vương không quan tâm, chỉ mong Cao Lỗ đi cho khuất mắt.

Cao Lỗ đi là An Dương Vương làm lễ cưới cho đôi trẻ. Trọng Thủy dưới sự chỉ đạo của Triệu Đà, xin ở lại ở rể. An Dương Vương hân hoan chấp thuận. Nhà vua nghĩ:

  • Con trai ở đây, hẳn Triệu Đà không thể nào cất quân đi đánh ta được.

Mỵ Châu và Trọng Thủy sống bên nhau rất hạnh phúc. Mỵ Châu dẫn Trọng Thủy đi dạo khắp nơi, giảng giải cho chàng biết những điều kỳ thú của đất Âu Lạc.

Trọng Thủy thích nhất là ngắm vợ gội đầu bên bờ giếng. Cái giếng của Âu Lạc thật là xinh xắn, sạch sẽ, nước trong vắt không lẫn đất cát, vì thành giếng có khuôn bằng đất nung che chắn. Mỵ Châu chỉ cho Trọng Thủy thấy những lỗ thủng rải rác trên khuôn giếng và giải thích:

  • Người ta đục những lỗ thủng ấy để nước những mạch ngang có thể chảy vào giếng.

Chỉ các hoa văn có hình thừng uốn lượn trên mép nước, nàng tiếp:

  • Dân Lạc rất thích trang trí hoa văn. Hầu hết các đồ gốm đều được khắc vẽ tỉ mỉ các loại hoa văn.

Trọng Thủy yêu thương vợ nhưng không quên lệnh cha, thường để ý xem xét sự bố trí phòng ngự của Âu Lạc. Lợi dụng những lần cùng vợ theo thuyền của vua cha dạo khắp các vòng hào từ kinh đô ra đến sông Hoàng Giang, Trọng Thủy cố nhớ lấy các tình tiết địa hình và lén lút vẽ được bản đồ thành Cổ Loa với đủ vị trí các vọng canh, các cửa đông tây nam bắc. Thậm chí Trọng Thủy còn vẽ lại hình dáng các vũ khí của quân Âu Lạc.

Nhưng những kết quả ấy chưa làm vừa lòng Triệu Đà. Triệu Đà cho người hối thúc Trọng Thủy phải dò và lấy cho được vũ khí bí mật có tiếng nổ kinh hồn kia. Trọng Thủy lần chần ở rể gần ba năm mới dám hỏi Mỵ Châu:

  • Bên Âu Lạc có tài gì mà không ai đánh được? Mỵ Châu không hề đắn đo, cho biết:
  • Âu Lạc không những chỉ có thành cao, hào sâu mà còn có Nỏ Thần bắn một phát chết hàng vạn người nữa.
Mị châu trọng thủy
Mị châu trọng thủy (ảnh Lịch sử Việt Nam bằng tranh)

Hai tiếng Nỏ Thần dội vào tai Trọng Thủy như một tiếng sét.

Chàng nôn nóng muốn tận mắt thấy món vũ khí ấy. Nhân khi cha đi vắng, Mỵ Châu mang Nỏ Thần cho chồng xem. Nàng nói:

  • Vua cha cất giữ Nỏ Thần rất cẩn thận, luôn luôn treo nó bên cạnh giường ngủ. Chàng hãy nhìn đây, bí quyết là ở cái lẫy nỏ bằng móng của thần Kim Quy này.

Vừa nghe vợ giới thiệu tác dụng của Nỏ Thần, Trọng Thủy vừa chăm chút xem từng chi tiết để ghi nhớ và lại lén lút vẽ sơ đồ của Nỏ Thần cho Triệu Đà. Đồng thời Trọng Thủy bí mật kiếm một cái vuốt rùa giống hệt vuốt của Rùa Vàng rồi thừa dịp lẻn vào phòng An Dương Vương tráo lấy chiếc vuốt thật.

Sau khi lấy trộm được vuốt rùa, Trọng Thủy tỏ ra bứt rứt, buồn bã khác thường. Thấy chồng ăn không ngon, ngủ không yên, Mỵ Châu hỏi:

  • Tại sao chàng luôn thẫn thờ, lo âu. Có điều gì chàng hãy cho thiếp biết.
  • Ta nay xa cha mẹ đã ba năm, lòng thương nhớ khôn nguôi, muốn về thăm một lần.

Mỵ Châu tâu bày cùng An Dương Vương. Nhà vua đồng ý, vì trong ba năm ở rể, Trọng Thủy cũng đã lấy được lòng tin của nhà vua.

Lúc chia tay, Trọng Thủy bảo Mỵ Châu:

  • Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay về thăm cha, nếu chẳng may hai nước thất hòa, hai bên đánh nhau thì làm sao mà tìm nàng được?

Mỵ Châu gạt những giọt lệ lăn dài trên má:

  • Nếu gặp cảnh biệt ly thì thiếp đau đớn khôn xiết. Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ chạy về đâu, thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc dọc đường. Như thế có thể tìm nhau được.

Trọng Thủy về đến Nam Hải, dâng vuốt rùa cho Triệu Đà. Triệu Đà vô cùng vui mừng, cho quân bất ngờ tiến đánh Âu Lạc. Trong khi ấy ở Cổ Loa, An Dương Vương vẫn yên lòng về mối giao hảo tốt đẹp giữa Âu Lạc và Nam Việt. Khi quân Âu Lạc ở biên ải thua to, phi báo về kinh đô, Mỵ Châu đau khổ, An Dương Vương bàng hoàng. Nhưng thấy Nỏ Thần vẫn còn đó, nên vua không phòng bị, ung dung ngồi uống rượu chờ quân địch đến…

Đợi quân Triệu kéo đến sát Loa Thành, nhà vua mới tung đội quân chuyên bắn Nỏ Thần ra chống cự. Than ôi! Nỏ Thần không còn linh nghiệm nữa. Quân Triệu Đà xé thủng cửa bắc, băng qua thành Ngoài, tấn công doanh trại quân sĩ, uy hiếp thành Giữa. Quân Âu Lạc mất tinh thần, tan tác, mạnh ai nấy chạy. Trong tình thế nguy cấp, không còn ai bảo vệ, An Dương Vương vội đưa Mỵ Châu lên ngựa tìm đường trốn chạy. Thấy cửa nam còn chưa bị tấn công, nhà vua phóng ngựa trực chỉ về phía bờ biển.

Mỵ Châu ngồi sau lưng vua cha mà lòng rối bời bời. Nàng đã kịp mang theo chiếc áo lông ngỗng trắng toát. Viễn ảnh không bao giờ gặp lại chồng thôi thúc nàng thả từng chiếc lông nhẹ sau vó câu. Nhà vua chạy đến núi Mộ Dạ (Nghệ An), kẹp sát bờ biển thì đường đã cùng. Dưới nước không có thuyền chèo, sau lưng quân giặc đuổi gấp. Vua không còn lối thoát nào khác.

Sực nhớ đến thần Kim Quy, nhà vua kêu lên:

– Rùa Vàng mau lại cứu ta!

Tức thời biển nổi sóng cuồn cuộn rồi nước rẽ ra và Rùa Vàng ngoi lên. Rùa nói lớn:

– Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó!

An Dương Vương quay lại chẳng thấy ai, chỉ có con gái yêu đang đầm đìa nước mắt.

Nhưng kia, xa xa, từng chiếc lông ngỗng, từng vệt lông kéo dài liên tiếp như những mũi tên chỉ đường. Nhà vua ngơ ngác đoạn sững sờ chợt hiểu. Mỵ Châu cũng vậy. Sau tiếng thét của Rùa Vàng, nàng nhận thức được sự nông nổi của mình.

Nhà vua tức giận rút gươm ra. Thấy giây phút cuối cùng đã đến,

Mỵ Châu khấn rằng:

  • Tôi một lòng trung tín, bị mắc lừa người ta! Nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Bằng không xin hóa thành ngọc trai để tỏ tấm lòng trong trắng này.

Nàng vừa khấn xong thì đường gươm của An Dương Vương đã nhoáng lên kết thúc thân phận người con gái oan nghiệt. Tục truyền Mỵ Châu vì nỗi thực tình mà phải thác oan, cho nên những con trai hớp phải máu nàng đều cho một loại ngọc rất quý. Có câu ca nói về nỗi oan của Mỵ Châu như sau:

Mênh mông góc bể chân trời,

Những người thiên hạ nào người tri âm.

Buồn riêng thôi lại tủi thầm,

Một duyên, hai nợ, ba lầm lấy nhau.

Mị châu trọng thủy
Mị châu trọng thủy

Giết Mỵ Châu, An Dương Vương lao mình xuống biển tự vẫn. Tương truyền rằng An Dương Vương, đau thương vì mất nước, nên sau khi chết hóa thành con chim Cuốc2Chim Cuốc hay còn gọi là Đỗ Quyên, thường sống trong bờ bụi và cất tiếng kêu ra rả và thảm thê ngày đêm khản tiếng kêu:

  • Quốc! Quốc!

Trong khi ấy tại quê nhà ở bộ Vũ Thường (Bắc Ninh), Cao Lỗ chiêu tập dân quân kéo lên tiếp ứng cho thành Cổ Loa. Nhưng lực lượng ít ỏi không chống đỡ nổi, cuối cùng ông hy sinh trên chiến trường. Người đời sau thờ Cao Lỗ tại xã Vạn Ninh (Bắc Ninh). Lễ hội Cao Lỗ kéo dài từ ngày 10-3 âm lịch là ngày sinh của ông cho đến ngày 5-4 là ngày mất. Trong lễ hội, dân chúng tổ chức các buổi thi bắn nỏ, đua thuyền để nhớ lại vị tướng đã có công tạo ra nỏ Liên Châu và lập nên đội thủy quân đầu tiên của đất nước.

Nói về Trọng Thủy, khi quân Triệu Đà tràn vào Loa thành chàng vội vã đi tìm vợ. Lùng sục khắp cung cấm mà chẳng thấy tăm hơi, sau cùng chàng phát hiện được dấu lông ngỗng ở cửa nam liền đuổi theo. Xác Mỵ Châu nằm đó. Vết tử thương ngay cổ vẫn chưa khô máu đào. Mái tóc đen dài óng ả xòa trên cát trắng, cuộn theo từng đợt gió. Chiếc áo lông ngỗng trắng phau ngày nào cũng đã tả tơi nhuộm hồng. Ruột gan đau như xé, Trọng Thủy ôm chầm xác vợ khóc nức nở.

Đêm lạnh đã xuống, Trọng Thủy thất thểu ôm xác vợ lên ngựa đem về Loa thành. Chàng làm tang ma cho vợ theo nghi lễ của người Âu Lạc. Chàng tự tay chế tạo một chiếc lược bằng sừng, một cái gương đồng sáng loáng, rồi nồi, chén, đĩa… và cả khung cửi. Tất cả đều có kích thước tí hon vì người Âu Lạc không còn chôn theo người chết những vật dụng thật nữa mà chỉ mô phỏng theo thôi. Trọng Thủy đặt xác Mỵ Châu cùng các đồ tùy táng nhỏ bé vào quan tài đoạn đem chôn dưới chân thành Cổ Loa.

Trọng Thủy thương tiếc Mỵ Châu khôn nguôi, chàng thường trở về nơi nàng trang điểm, tắm gội, tìm kiếm kỷ niệm xưa. Một hôm, chàng đến bên chiếc giếng, nhìn xuống làn nước lăn tăn, bỗng dường như thấy dập dờn hình ảnh Mỵ Châu. Vẫn nhan sắc xưa, vẫn mái tóc mượt mà xưa nhưng ánh mắt lại trách móc buồn bã. Lòng đau xé hối hận, Trọng Thủy liền lao mình xuống giếng tự vẫn.

Đó là cái giếng nằm ở trước đền thờ An Dương Vương, hiện nay vẫn còn. Người đời sau tình cờ lấy ngọc trai ở biển Đông đem rửa ở giếng Trọng Thủy trầm mình thì thấy màu ngọc sáng rực lên. Từ đó đồn đại mãi. Đến nỗi sau này, vào thế kỷ 15, nhà Minh bên Trung Quốc bắt các vua Lê trả nợ đã giết Liễu Thăng bằng cách cống nước giếng Trọng Thủy để họ rửa ngọc. Mãi đến năm 1718, chúa Trịnh Cương sai sứ thần là Lê Công Hãng thương thuyết với nhà Thanh mới bãi được lệ cống ấy.

Người đời sau lập đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa (Hà Nội) và cả trên núi Mộ Dạ (Nghệ An). Đền ở Mộ Dạ được gọi là đền Công hay đền Cuông vì nơi đây chim công sinh sống tụ tập rất đông. Vào năm 1840, thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng sai các quan đến tận đền Công để làm lễ tế và ra lệnh xếp đền An Dương Vương vào hạng mục miếu thờ các vua chúa đời trước.

  • Cổ Loa còn có am thờ nàng Mỵ Châu, phía sau bức tượng đá hình người cụt đầu tương truyền là xác Mỵ Châu sau khi bị vua cha chém. Bức tượng Mỵ Châu bị cụt đầu như muốn nhắc nhở muôn đời sau một bài học về sự cả tin, nhẹ dạ.

Như vậy nước Âu Lạc kết thúc vào năm 207 trước Công nguyên, chấm dứt một thời đại lâu dài mà lịch sử gọi là thời đại Hùng Vương. Thời đại này, theo truyền thuyết kéo dài đến 20 thế kỷ.

Nguồn : Lịch sử Việt Nam bằng tranh

Trần Bạch Đằng

Xem thêm: