Nước Văn Lang

Không rõ Việt sử lược căn cứ vào đâu mà đặt sự ra đời của Nhà nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN tương đương với giai đoạn Văn hóa Đông Sơn.

nhà nước văn lang
Nhà nước Văn Lang

Về sự ra đời của nước Văn Lang thời Hùng Vương, theo ghi chép của Việt sử lược cho biết: “đến đời Trang Vương nhà Chu (696 – 682 TCN) ớ bộ Gia Ninh1Theo chú thích trong Việt sử lược, Tái bản, Sđd, tr. 19: “Gia Ninh: Trị sở Phong Châu đời Đường, tóc là đất Mê Linh nhà Hán… đền Hùng ở Phú Thọ ngày nay, theo tập truyền xưa, Hùng Vương định đô ở đó”. có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”2Việt sứ lược, Tái bản, Sđd, tr. 18..

Không rõ Việt sử lược căn cứ vào đâu mà đặt sự ra đời của Nhà nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN tương đương với giai đoạn Văn hóa Đông Sơn. Điều đó có phần phù hợp với những kết quả nghiên cứu đã thu được. Cơ sở hình thành Nhà nước sơ khai dựa trên sự phát triển kế tiếp cùa nền tảng văn hóa phong phú bản địa – Văn hóa Tiền Đông Sơn và Văn hóa Đông Sơn.

Sự phát triển kinh tế nông nghiệp trồng cấy lúa nước làm cơ bản, kết hợp với việc làm nương rẫy, làm vườn, thu hái rau, củ, săn bắn động vật hoang dã trong rừng, nghề đánh bắt cá, làm các nghề thủ công như chế tác đá, làm đồ gốm, đồ mộc, dệt, sơn… Trong đó tiêu biểu là nghề luyện kim đúc đồng, luyện sắt đã tạo ra một cuộc sổng xã hội tương đối ổn định cùng những giá trị kinh tế thặng dư.

Trên nền tảng của xã hội gồm liên minh các bộ lạc đó đã sớm hình thành Nhà nước Văn Lang. Nước Văn Lang được Lĩnh Nam chích quái ghi chép rất sơ lược: “Hùng Vương… chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ, văn là Lạc hầu, võ là Lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ nương, trăm quan gọi là Bồ chính, thần bộc, nữ lệ gọi là xảo xứng (còn gọi là nô tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo. Vua đời đời thế tập, gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi…”3Lĩnh Nam chích quái, Sđd, tr. 23-24..

Theo ghi chép trên có thể coi nước Văn Lang là một nước sơ khai, được tổ chức đơn giản. Đứng đầu Nhà nước là Hùng Vương “đời đời thế tập”. Vương là vua – theo cách gọi của người đời sau. Còn về danh xưng “Hùng” theo nghiên cứu của cố GS. Trần Quốc Vượng4Trần Quốc Vượng, “về danh hiệu “Hùng Vương”, trong Hùng Vương dựng nước, Tập III, Sđd, tr. 353- 355., là phiên âm một từ cổ thuộc ngữ hệ Đông Nam Á – “Khun” – “Cun” – “người cầm đầu” – (người thủ lĩnh ) – người tôn trưởng (Tù trường-Tộc trưởng), con trưởng, ngành trưởng, Nhà lang cai quản một mường. Như vậy, danh xưng “Hùng” để chì người là Tù trưởng, thủ lĩnh. Hùng Vương là người thủ lĩnh – Tù trường bộ lạc Văn Lang – một bộ lạc mạnh nhất lúc bấy giờ. Hùng Vương có vai trò lãnh đạo và liên kết – liên minh với các bộ lạc khác hợp thành Nhà nước Văn Lang.

Theo truyền thuyết, Hùng Vương truyền được 18 đời khoảng hơn 2.000 năm thì chấm dứt. Tuy nhiên, văn hóa thời Hùng Vương – Văn hóa Đông Sơn còn được tiếp nối về sau. Mười tám đời vua Hùng có lẽ chi là con số phiếm chỉ mang tính ước lệ. Có thể trên thực tế, Hùng Vương đã được truyền nối lâu dài, bản Ngọc phả Hùng Vương ở đền Hùng (Phú Thọ) và trong dân gian ghi khá rõ phả đồ, duệ hiệu của các đời vua Hùng (18 đời) bàng chữ phiên âm Hán Việt vào thế kỷ XVII, hoặc muộn hơn sau này, chỉ có giá trị tham khảo. Nếu dựa vào truyền thuyết 18 đời, thì các vị vua thời Hùng Vương có tuổi thọ hơn 100 năm, điều này khó có thể tồn tại trong thời đại Hùng Vương. Nhưng Hùng Vương là thủ lĩnh bộ lạc và liên minh bộ lạc có quyền lực thế tập, là người đứng đầu nước Văn Lang được khắc họa trong truyền thuyết và được nhân dân tin là có thật.

Nước Văn Lang chia làm 15 bộ. Theo Việt sử lược thì 15 bộ (đã dẫn trên), vốn là 15 bộ lạc. Người đứng đầu mỗi bộ lạc là Lạc tướng, hoặc gọi theo thần tích, truyền thuyết là “Bộ trúc, Bộ tướng, Phụ đạo” đời đời cha truyền con nối. Phụ đạo là từ phiên âm Hán Việt, từ Việt cổ gần giống Đạo (tiếng Mường), Tạo (tiếng Tày- Thái) đều có nghĩa là Trưởng Nhà lang, Trưởng Nhà tạo – Tù trường – thủ lĩnh một vùng – một bộ lạc. Phụ đạo hay Lạc tướng là những người đứng đầu bộ lạc của nước Văn Lang dưới quyền vua Hùng.

Có thể tạm hình dung bộ máy Nhà nước Văn Lang sơ khai như sau:

Hùng Vương là vị thủ lĩnh (Cun) của bộ lạc Văn Lang tối cao và là thủ lĩnh bộ lạc trung tâm và mạnh nhất trải dài rộng hai bên bờ sông Hồng từ chân núi Ba Vì đến chân núi Tam Đảo; đồng thời có thể là thủ Lĩnh của cả 15 bộ lạc khác. Mỗi bộ lạc trong đó đều có “Cun” của mình, cai quản một vùng riêng của bộ lạc. Lạc hầu, Lạc tướng, Phụ đạo vốn là Trưởng của các bộ lạc. Họ chỉ phục tùng Hùng Vương bàng cúng lễ hoặc chịu sự phân công (chi huy), giúp việc Hùng Vương khi hữu sự. Họ không phải là quan chức thuộc biên chế Nhà nước thường trực ở bên vua như thường thấy ở thời quân chủ sau này.

Dưới mỗi bộ lạc là chiềng, mường, bàn ở miền núi, kẻ (cổ, sau này là làng), chạ là miền đòng bằng. Việc cai quản các đơn vị dân cư chiềng, mường, bản hay kẻ, chạ đều do những Già làng, Trưởng bản – Pô chiềng – đảm trách. Di ảnh của chế độ đó sau này vẫn còn tìm thấy ở người Mường – Lang cun – con trưởng – dòng trưởng Nhà lang thế tập cai quản các mường, bản. Hoặc Nhà Tạo trong xã hội Tày – Thái. Xã hội Văn Lang có thể tạm chia thành 2 tầng lớp: tầng lớp cai trị gồm những Tù trưởng bộ lạc (Phụ đạo – Lạc tướng), các Già làng – Trưởng bản cai quản các mường, bản, hay kẻ. Còn lại đại đa số là cư dân của các bộ lạc sống trong các vùng mường, chiềng, bản, kẻ. Theo đà phát triển của kinh tế, các Tù trưởng, Già làng, Trường bản (Pô chiềng – Bồ chính) lợi dụng địa vị của mình mà chiếm đoạt cùa công cộng, tiến đến bắt dân cống nạp sản vật, hoặc phải góp sức lao động làm việc gia đình hay sản xuất nông nghiệp. Họ được “ăn ruộng” do các thành viên ở mường, bàn, làng, chạ cày cấy. Gia đình họ thường xuyên có người hầu hạ mà sách ghi là “xảo’\ ”ngưỡng”. Những người đó có thể do vi phạm luật lệ cộng đồng hoặc vì một lý do nào đó mà sa cơ lỡ vận phải lao dịch tại nhà Pô chiêng – Bồ chinh để chuộc tội. số lượng ”xảo”, “ngưỡng” không nhiều, chưa hình thành một tầng lớp xã hội thấp nhất lúc đó. Theo mô tà cùa Lĩnh Nam chích quái cho biết cuộc sổng xã hội hồi quốc sơ, dân không đù đổ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lay cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm (có chỗ viết là uống), lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất sản được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thoi com (cơm lam), bắc gỗ làm nhà đế tránh ho sói. cắt tóc ngan để dễ đi lại trong rừng rú.

Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nam, có người chết thì giã cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu. Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói đất làm đầu (có nơi lấy gói muối làm đầu) sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy com nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân…”5Lĩnh Nam chích quái, Sđd, tr. 24..

Trong xã hội Văn Lang, vai trò của người phụ nữ được đặc biệt coi trọng. Từ truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử cho thấy phụ nữ có quyền chọn người hôn phối. Chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại và được coi trọng, tuy không còn là chế độ phổ biến tuyệt đối như thời công xã nguyên thủy. Dưới thời các vua Hùng, chế độ phụ hệ đã được xác lập. Tuy nhiên, quan hệ vua – tôi vẫn rất gần gũi. “Vua tôi cùng đi cạy, cùng đi săn”, hoặc khi mặt trời đứng bóng, vua tòi mới dừng tay, nghỉ ăn. Chuyện kén rể, chuyện Lang Liêu phản ánh xã hội bấy giờ phong tục còn thuần hậu, chất phác, bộ máy cai trị đơn giản chưa phức tạp.

Nhà nước Văn Lang chưa có quân đội thường trực mà chi có lực lượng vũ trang tự vệ ở các bộ lạc, thực chất là lực lượng các trai tráng trong những chiềng, mường, kè (chạ) trực thuộc các bộ lạc. Khi hữu sụ vua Hùng có thể huy động các lực lượng trai tráng đó bảo vệ bộ lạc hoặc liên minh các bộ lạc. Vua Hùng là người chi huy tối cao liên minh các bộ lạc (15 bộ) chống giặc ngoại xâm hoặc các công việc thủy lợi đảm bảo nguồn nước cho nông nghiệp trồng cấy lúa nước. Đấy cũng chính là vai trò và chức năng của một Nhà nước sơ khai – Nhà nước Văn Lang.

Kinh đô Văn Lang hay trung tâm chính trị – văn hóa cùa Văn Lang đã được nhiều người quan tâm. Theo sử cũ: “Hùng Vương là con trai Lạc Long Quân (không rõ tên húy), đóng đô ở Châu Phong”6Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 60. (nay gần Bạch Hạc – Việt Trì). Một số người dựa vào quần thể đền Hùng và núi Ngũ Lĩnh (thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tinh Phú Thọ) mà đoán định rằng kinh đô Văn Lang ở khu vực đó. Các nhà khảo cổ học dựa vào các di vật thuộc Văn hóa Đông Sơn đào được ờ Làng Cả (thuộc phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, Phú Thọ) mà cho ràng đấy là khu vực thuộc kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương.

Những ghi chép của sử cũ và những đoán định trên đều chưa đủ chứng cứ khoa học có sức thuyết phục về việc chi ra địa điểm của kinh đô Văn Lang. Son g một điểu chắc chắn mà các nhà nghiên cứu Cần lưu ý khi tìm kiếm kinh đô Văn Lang không nằm ngoài phạm vi vùng đất Tổ Phú Thọ. Việc xác định vị trí cụ thể của kinh đô Văn Lang cần được tiếp tục nghiên cứu.

Hùng Vương là thủ lĩnh của bộ lạc gốc Văn Lang, vừa là thủ lĩnh của liên minh 15 bộ lạc khác, lập nên nước Văn Lang. “Kinh đô Văn Lang” trước hết là nơi đóng trị sờ, là trung tâm của bộ Văn Lang. Trong quá trình nghiên cứu không nên đem tiêu chí của kinh đô thời quân chủ sau này áp đặt vào kinh đô Văn Lang. Thiết nghĩ, người đời sau gọi “kinh đô”, “Văn Lang”, “nhà vua” cho hoành tráng vậy thôi. Nước Văn Lang vốn được tổ chức đơn giản, chất phác như sử sách ghi chép đã phân tích ở trên.

Như vậy, sự ra đời của nước Văn Lang trên cơ sở nền Văn hóa Đông Sơn rực rỡ – thời đại đồng thau phát triển đến đinh cao và bước sang thời đại sắt sớm, tồn tại vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III TCN. Nước Văn Lang còn là biểu hiện của sự liên kết các cộng đồng bộ lạc giữa khu vực đồng bằng sông Hồng với các khu vực đồng bằng sông Mã, sông Cả vùng Thanh – Nghệ trên nền tảng một nền văn hóa chung đa sắc thái. Văn hóa Đông Sơn, Nhà nước Văn Lang tuy còn sơ khai, chất phác nhưng cũng đánh dấu sự trưởng thành, phát triển vượt bậc của các cộng đồng dân cư bản địa, một bước chuyển “cách mạng” từ thời đại hoang sơ nguyên thủy sang thời đại văn minh hơn. Có thể coi Nhà nước Văn Lang là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Nước Văn Lang và nước Âu Lạc đã mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Nước Âu Lạc ra đời vào thế kỷ thứ III TCN cũng trên nền tảng của Văn hóa Đông Sơn lúc đó đã bước sang đầu thời đại đồ sắt. Trong hoàn cảnh lịch sử mới đầy biến động và thử thách, cộng đồng người Lạc Việt và Âu Lạc đã xây dựng một quốc gia mới ở trình độ cao hom. Họ phải xây thành đắp lũy, ch ế tạo nhiều vũ khí đ ể đối phó với quân xâm lược Triệu. Cuối cùng, cuộc kháng chiến chống xâm lược thất bại, đất nước rơi vào tay họ Triệu và bị nhập vào nước Nam Việt.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: