Ông vua không giỏi dùng binh chỉ giỏi dùng tướng

by Lãnh Thành Kim

Ai nói có được lòng người mới được thiên hạ? Kẻ lưu manh vô lại cũng có thể được thiên hạ! Lưu manh vô lại mà lại được cả thiên hạ ư? Chính là vì chúng sai khiến được nhân tài, nên chúng mới được thiên hạ đó thôi!

Luu-bang -hàn tín

Hán Cao Tổ

Đương nhiên, về ý nghĩa căn bản mà nói: “Được lòng người sẽ được thiên hạ”, nhưng nguyên nhân căn bản không là nguyên nhân trực tiếp, không thể lúc nào, đâu đâu cũng nhấn mạnh tác dụng của nguyên nhân căn bản, nếu không sẽ thất bại thảm hại.

Trong điều kiện nhất định, nước xa không giải được khát gần, nguyên nhân căn bản chỉ phát huy được tác dụng lâu dài, tiềm ẩn, mà những sách lược cụ thể lại có thể trở thành căn nguyên của thành bại. Thời loạn lạc cuối đời Tần càng như vậy. Trong một thời đại binh lửa khắp nơi, mua chuộc lòng dân, thực hiện “nhân chính”, chưa phải thực tế, sách lược hữu hiệu nhất là thu thập nhân tài, sử dụng nhân tài. Khi ấy, có thể nói kẻ nào được nhân tài kẻ đó sẽ được thiên hạ vậy!.

Quả thật là “Nghìn quân dễ được, một tướng khó cầu”, các nhà chính trị, quân sự cổ đại Trung Quốc đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú. Về mặt này, điển hình nhất có lẽ là truyện “Bốn công tử” thời Chiến quốc, tức Mạnh Thường quân nước Tề, Bình Nguyên quân nước Triệu, Tín Lăng quân nước Ngụy và Xuân Thân quân nước Sở.

Theo ghi chép, môn khách của bốn vị này có lúc lên tới trên ba ngàn người, chỉ cần có một tài năng nào đấy là có thể làm môn khách, không phân sang hèn. Có khi để chiêu tập môn khách, thu hút nhân tài, họ có cả những hành động quá đáng. Ví dụ, Bình Nguyên quân bỗng nhiên thấy số môn khách của mình ít đi, liền lo lắng, hoảng sợ mới hỏi các môn khách rằng:

– Gần đây, môn khách của ta đến thì ít, mà đi thì nhiều, ta có gì sơ xuất chăng?

Một môn khách nói:

“Người đẹp của ngài đã đắc tội với một môn khách thịt chân, mọi người cho rằng ngài quý người đẹp hơn quý môn khách, do vậy chúng tôi cũng đang muốn cáo từ”. Bình Nguyên quân vừa nghe vội điều tra, hóa ra, phòng của ông gần kề phố, ông thích gái đẹp, một số người thiếp thường đứng kề cửa sổ nhìn ra phố. Một lần, một người thiếp được ông sủng ái nhất nhìn thấy một người thọt chân gánh nước đi tới, trông dáng buồn cười, không nhịn được đã bật cười, không ngờ làm mất lòng người đó. Ngờ đâu, người đó lại là môn khách của Bình Nguyên quân. Ông ta tìm tới Bình Nguyên quân nói:

– Nghe nói ngài thích giao kết với các bậc hào kiệt trong thiên hạ nên nhiều người tới đầy trước cửa nhà ngài, nhưng nay người thiếp yêu của ngài chế nhạo tôi, làm mất nhân phẩm của tôi xin ngài hãy trừng phạt cô ta thật đích đáng.

Lúc đó Bình Nguyên quân không để ý, và mấy hôm sau thì quên hẳn Vị môn khách kia thấy Bình Nguyên quân bỏ ngoài tại việc này bèn tung dư luận, nói Bình Nguyên Quân quý gái đẹp hơn môn khách, do vậy các môn khách dần bỏ đi. Bình Nguyên quân rõ chuyện, lập tức chém người thiếp nọ, và môn khách của ông lại dần kéo về. Bình Nguyên quân đãi khách như vậy, nên khi cần thiết, môn khách đã có tác dụng. Bấy giờ nước Tần đang ban vây thành Hàm Đan, kinh đô của nước Triệu, nước Sở còn do dự chưa quyết xuất binh giúp Triệu. Một môn khách là Mao Toại đã tự tiến cử mình tháp tùng Bình Nguyên quân sang sứ nước Sở. Quả nhiên, ông là người rất xuất sắc, nói năng khẳng khái làm vua Sở phải hoảng sợ, đem quân cứu Triệu, lập công lớn trong việc giải vây Hàm Dan.

Tín Lăng quân nước Ngụy, để kết giao với người coi thành đã hơn bảy mươi tuổi là Hầu Sinh,cùng một người đồ tể là Chu Hợi đã tự đánh xe đi mời, còn đón rước long trọng, và mời các vị quan khách cùng tiếp tiệc, coi như bậc bề trên. Sau này Ngụy Sở vương không chịu phát binh cứu Triệu, nhờ có Hầu Sinh bày mưu và Chu Hợi có sức khỏe, Tín Lăng quân mới được cứu viện, giải vây Hàm Đan, cứu Triệu khỏi bị nước Tần diệt.

Trong bốn công tử thời Chiến quốc, nổi tiếng nhất vẫn là Mạnh Thường quân của nước Tề. Ông dựa vào các môn khách mà thu phục nhân tâm, khôi phục chức Tướng quốc, càng làm càng chắc, uy tín lan ra cả các nước khác. Ông nhờ mấy môn khách biết bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà gáy mà trốn khỏi nước Tần, tránh khỏi cái chết tha hương. Có thể nói, ông giỏi thu hút và sử dụng nhân tài. Nhưng nhà văn lớn, nhà sử học lớn, nhà chính trị lớn đời Tống là Vương An Thạch lại nhận xét khác. Ông viết trong “Đọc Mạnh Thường Quân truyện” như sau:

“Người đời đều nói Mạnh Thường quân giỏi chiêu hiền đãi sĩ, và sau nhờ trí lực của những kẻ sĩ này mà trốn thoát khỏi nước Tần dữ như hổ báo. Ôi, Mạnh Thường quân cũng chỉ là thủ lĩnh của quân biết bắt chước chó sủa, gà gáy mà thôi, đâu đáng gọi là chiêu hiền đãi sĩ? Bọn chó kêu gà gáy tới của nhà ông ta, đó mới là nguyên nhân căn bản tại sao các hiền sĩ không lui tới.”

Vương An Thạch thật không hổ là bậc danh tiếng thiên cổ. Lời lẽ sắc sảo của ông đã lật lại cả bản án cũ.

Trong lịch sử Trung Hoa có một biệt lệ là, được một người hiền có thể dựng được nước. Lưu Bị cuối Hán, không giao du quá nhiều như Mạnh Thường Quân, thu nhặt cả bọn gà gáy chó sủa, mà chỉ cầu một người hiền, “tam cố thảo lư” (ba lần đến lều tranh) tìm Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng đã không phụ lòng tin của Lưu Bị, trước khi ra làm, ông đã phân tích rạch ròi cái thế “tam phân thiên hạ” cho Lưu Bị nghe, sau đó ông dốc hết tâm huyết giúp Lưu Bị phát triển từ không tới có, từ nhỏ tới lớn, xây dựng được nước Thục không những ngang hàng với nước Ngụy, nước Ngô, và còn tạo được thế chân vạc thậm chí còn có cái thế thôn tính được thiên hạ. Ví dụ về Gia Cát Lượng, hoàn toàn có thể chứng minh được quan điểm của Vương An Thạch, và cũng chứng minh được một cách hùng hồn tầm quan trọng của việc sử dụng nhân tài.

Thời Chiến Quốc, Yên Chiêu vương xây đài vàng chiêu hiền, đây cũng là một sự kiện lịch sử rất nổi tiếng. Năm 314 trước Công nguyên, nước Yên có nội loạn do tướng quốc cướp ngôi vua, nước Tề thừa gió bẻ măng, mang quân sang trấn áp, diệt luôn nước Yên. Về sau người Yên nổi loạn, phát động phong trào phục quốc, tìm lại được thái tử, tôn lên làm vua, tức Yên Chiêu vương.

Chiêu vương không những khôi phục được nước Yên, còn lập chi báo thù nước Tề. Ông nói với tướng quốc Quách Quì:

– Ta không lúc nào không nghĩ tới báo thù, nếu tìm được người tài làm việc đó, ta nguyện đi hầu cho ông ta, khanh nghĩ thế nào?

Quách Qui kể cho Yên Chiêu vương một câu chuyện: Ngày xưa có một ông vua muốn dùng một ngàn lạng vàng để mua một con thiên lý mã, nhưng không mua được. Về sau cho người đi mua, nhưng lại mua về bộ xương của thiên lý mã. Vua rất tức giận, nhưng người mua nói:

– Đại vương yên tâm, đại vương sắp có nhiều thiên lý mã bây giờ đấy. Mọi người nghe nói đại vương chẳng tiếc ngàn lạng vàng để mua bộ xương thiên lý mã lẽ nào lại không mang thiên lý mã sống tới.

Quả nhiên sau đó, vua mua được nhiều thiên lý mã. Quách Quì lại nói:

– Nếu bệ hạ đối xử tốt với người bình thường như thần đây, người có tài lại chẳng chạy đến như vịt sao?

Thế là Yên Chiêu vương vội xây cho Quách Quì một ngôi nhà thật đẹp, nhất nhất nghe theo lời Qui. Lại xây một đài cao ở cạnh Di Sơn, trong để đầy vàng để tặng khách và để họ chi dùng, gọi là “Hoàng Kim Đài”. Tin Yên Chiêu vương cầu hiền như khát nước truyền đi khắp nơi, các hiền sĩ đến tới tấp. Kịch Tân ở nước Triệu đến, Tô Đại ở Lạc Dương sang, Châu Diễn ở nước Tề tới, Khuất Dung từ nước Vệ về. Trong đó, được trọng dụng nhất là Nhạc Nghị từ Ngụy tới. Chính Nghị đã dẫn quân Yên tấn công nước Tề, không những báo thù cho Yên, còn ở Tề năm năm, hạ hơn 70 thành của nước Tề, thiếu hai thành nữa thì diệt xong nước Tề.

Xem ra, trong điều kiện nhất định, nhân tài là yếu tố tính then chốt, võ dũng mấy mà “vàng ngọc mua tiếng cười, tấm cám nuôi hiền nhân”, thì trước sau cũng chuốc lấy bại; còn như lưu manh vô lại, biết sử dụng người tài, vẫn nên cơ nghiệp. Lưu Bang, ông vua lập nên triều đại nhà Hán, chính là ví dụ điển hình về điều đó.

Tư Mã Thiên không lấy thành bại để luận anh hùng. Tuy viết “Sử ký” dưới triều Hán, nhưng ông không chê điều ác của Lưu Bang cũng như không thổi phồng cái tốt của ông, dùng một bút pháp ẩn dụ mà nói lên tính lưu manh vô lại của Lưu Bang. Sau đây là vài chuyện để chứng minh.

Nghe nói Lưu Bang khi sinh có dị tướng. Mẹ Lưu Bang có việc đi ra ngoài, qua một đầm lầy lớn, cảm thấy mệt, bèn ngồi bên bờ đầm nghỉ, bất giác mơ màng ngủ thiếp, đang lúc mơ màng, thấy một vị thần mặc áo giáp vàng từ trên trời xuống, sợ ngất đi, không biết vị thần đã làm những gì. Bố Lưu Bang thấy vợ lâu không về, sợ xảy chuyện gì, bèn đi tìm. Đến gần đầm, thấy đám mây xà thấp che kín, thấp thoáng nhìn thấy vảy giáp như có giao long tới đây, khi mây tan, thấy một người phụ nữ nằm lại thì chính là vợ mình. Hỏi chuyện gì xảy ra, thi bà không nhớ chút nào. Từ ấy mẹ Lưu Bang có mang, sau này sinh con trai, đó là Lưu Bang.

Lưu Bang sinh ra có dị bẩm, mũi cao cổ dài, trên đùi bện trái có bảy mươi hai nốt ruồi. Cha Lưu Bang thấy con mình khác thường, mới đặt tên là Bang (nghĩa là một nước, hay quốc gia nhỏ). Khi đã lớn, Bang không thích làm ruộng cùng cha và các anh, suốt ngày rong chơi, cha nhiều lần khuyên bảo không nghe. Anh của Bang cưới vợ, người chị dâu thấy Bang chỉ ăn không làm, tổn hao gia sản, đem lời oán trách. Cha Lưu Bang biết được, cho vợ chồng người con lớn ra ở riêng, còn Bang vẫn ở với bố mẹ.

Lưu Bang tới tuổi trưởng thành vẫn tính nào tật nấy, bố mẹ trách:

– Con thật là vô tích sự, nên học tập anh con, ở riêng chưa bao lâu đã tậu được đất, như con thì biết bao giờ tậu được đất, làm được nhà?

Lưu Bang chẳng những không giác ngộ, mà thỉnh thoảng còn lội lũ bạn đến nhà anh ăn cơm. Chị dâu tức quá mắng Bang. Bang vẫn để ngoài tai. Một lần Bang lại đưa lũ bè bạn hư hỏng về ăn tàn phá hại ở nhà ông anh, người chị dâu nghĩ ra một kế, chạy vào trong bếp lấy muôi cạo xoẹt xoẹt đáy nồi, tiếng kêu ầm ĩ, Lưu Bang nghe thấy biết là cơm đã hết, tiếc là đến muộn, đành bảo bạn bè ra về. Bang đi vào bếp, không ngờ thấy trên bếp vẫn còn khói nghi ngút, mới biết chị dâu đã đánh lừa, Bang thỏ dài, quay đi, từ đó không về nữa.

Thời Sở Hán tưởng tranh, Lưu Bang từng thua trận ở Bành Thành, bây giờ là thị trấn Từ Châu tỉnh Giang Châu, bỏ chạy, thất lạc hai con nhỏ. Bang chạy trốn mấy ngày gặp bộ tướng Hạ Hầu Anh mới bớt lo, rồi lại tìm thấy hai con trong đám người chạy loạn, cảm thấy được an ủi. Nhưng không lâu, tướng Sở là Quì Bố dẫn quân đuổi tới, Lưu Bang phải vội chạy. Quân Sở càng đuổi càng gần, Bang sợ xe nặng chạy chậm, bèn đẩy hai đứa con của mình xuống xe. Hạ Hầu Anh thấy vậy, vội nhặt hai đứa bé đặt vào trong xe, cứ như vậy, ba lần vứt ba lần nhặt. Lưu Bang nói:

– Ta đã nguy như thế này, sao còn giữ hai đứa nhỏ, để mất mạng mình?

Hạ Hầu Anh bác lại:

– Đây là hạt máu của đại vương, sao bỏ đi được!

Bang tức giận rút gươm ra chém Hạ Hầu Anh, Anh tránh được, không dám đặt hai đứa nhỏ vào xe nữa mà cắp ở nách để cưỡi ngựa chạy trốn cùng Lưu Bang.

Khi quân của Sở, Hán còn đang ngang sức, Hạng Võ đã từng bắt được cha của Lưu Bang. Một lần đối đầu, Hạng Võ đẩy cha Lưu Bang ra trước trận nói:

– Nếu ngươi không rút binh, ta sẽ cho luộc chín cha ngươi. Lưu Bang không hề do dự trả lời luôn:

– Ta và người đã từng kết nghĩa anh em, cha ta là cha ngươi, nếu luộc chin cha ngươi, gửi sang cho ta một bát canh.

Đến nước đó Hạng Võ đành chịu thua Bang, thả cha Lưu Bang ra.

Cuối cùng Bảng giành được thiên hạ, lập nên triều Hán. Trong một bữa mừng công, Bang hỏi cha: “Cha xem, con và anh con sản nghiệp của ai lớn hơn?” Cha Bang thấy bộ mặt đắc chí tiểu nhân của Bang, tức quá hừ một tiếng rồi đi vào trong điện.

hàn tín - lưu bang

Anh hùng Hàn Tín (ảnh minh họa)

Lưu Bang là kẻ lưu manh vô lại như vậy, nhưng ông ta lại có điểm mạnh người khác không có, đó là biết nghe ý kiến người khác, biết đoàn kết tướng lĩnh, biết chịu đựng, biết sử dụng nhân tài.

Triều Hán khai quốc không lâu, Lưu Bang cùng Hàn Tín và quần thần nghị luận về tài năng của tướng lĩnh. Lưu Bang hỏi Hàn Tín:

– Khanh xem ta có thể thống lĩnh trăm vạn đại quân không? Hàn Tín nói:

– Không được.

Lưu Bang lại hỏi:

– Thế có thống lĩnh được mười vạn đại quân không?

Hàn Tín nói:

– Không được.

Lưu Bang tức quá hỏi:

– Thế theo khanh ta có thể chỉ huy bao nhiêu quân?

Hàn Tín nói:

– Chỉ huy được một vạn là giỏi!

Lưu Bang hỏi lại:

– Thế khanh có thể chỉ huy bao nhiêu quân?

Hàn Tín không hề khách khi trả lời:

– Thần chỉ huy càng nhiều càng tốt.

(Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện). Lưu Bang đã không hiểu, lại tức giận hỏi:

– Thế nào ta làm vua, khanh chỉ làm tướng sao?

Hàn Tín lại trả lời:

– Bệ hạ tuy không giỏi dùng binh, nhưng giỏi dùng tướng.

Đúng vậy, “Trù tính ở trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm, Lưu Bang không bằng Trương Lương; bảo đảm lương thảo trị nước yêu dân, Lưu Bang không bằng Tiêu Hà, xông pha tiền tuyến, dẫn quân giết giặc, Lưu Bang không bằng Hàn Tín. Nhưng cái mạnh của Lưu Bang là tập hợp được những người đó, để họ phát huy được năng lực và sở trường, phục vụ cho mình.

Tiêu Hà là một trong những khai quốc công thần của Lưu Bang, Lưu Bang quen Tiêu Hà khi làm đình trưởng ở Tứ Thủy. Chức trách của đình trưởng là xử các vụ kiện cáo nhỏ ở hương xã, nếu gặp việc lớn phải báo lên huyện, do vậy Bang khá quen các quan lại trong huyện. Tiêu Hà làm công tào huyện Bái, đồng hương của Bang, rất thông thạo pháp luật, Lưu Bang rất tôn trọng và tin tưởng Tiêu Hà. Công việc của Bang có gì không ổn, Tiêu Hà đều chỉ bảo, che đậy những sai sót của Lưu Bang, nên quan hệ giữa hai người ngày càng thân thiết. Từ ngày Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa, Tiêu Hà luôn theo ở bên, hầu như việc gì Lưu Bang cũng nghe theo Hà. 

Mọi phương châm sách lược khi Sở Hán tương tranh cũng như Hán triều khai quốc đều do tay Tiêu Hà sắp đặt, Tiêu Hà thật là vất vả công cao. Đương nhiên, Lưu Bang không phải không đề phòng Tiêu Hà, nhưng xử lý tế nhị. Khi Lưu Bang rời Hán trung lên Quan Đông đánh nhau với Hạng Võ bốn năm liền, Tiêu Hà ở lại giữ căn cứ, lo cung cấp lương thảo, tráng binh. Tiêu Hà rất giỏi trị lý việc nước, chẳng bao lâu mà “Hán trung đại định”, trăm họ đều dốc lòng theo Tiêu Hà, việc cung cấp lương thảo cho Lưu Bang được đảm bảo đầy đủ, kịp thời. Lưu Bang cứ như vậy, e rằng nếu lòng người sẽ theo Hà, không có lợi cho mình, bèn nhờ người đưa tin hỏi thăm Tiêu Hà, ngợi khen ông trị lý việc nước giỏi. Tiêu Hà rất cảnh giác, để tránh sự hiềm nghi, ông cho con cháu trong nhà ai đủ điều kiện đều đưa ra mặt trận, nói để góp phần bình định thiên hạ cho Hán Vương. Lưu Bang thấy vậy rất an tâm vì biết rằng không có phe đảng của Tiêu Hà ở Hán trung. Từ đó giữa quân thần không còn gì nghi kỵ nữa.

Về quân sư, mưu sĩ chính của Lưu Bang là Trương Lương. Ông xuất thân quý tộc nước Hàn, đã từng mưu sát Tần Thủy Hoàng ở Bác Lãng Sa, việc không thành, phải chạy trốn khắp nơi, sau tập hợp được đội quân hơn trăm người, dựng cpừ chống Tần, rồi khi gặp đội quân khởi nghĩa của Lưu Bang liền theo Lưu Bang. Nhưng chẳng bao lâu, gặp Hạng Lương thế lực hùng hậu, thuyết phục Hạng Lương lập nước Hàn, Trương Lương làm tư đồ. Về sau, nước Hàn bị quân Tần tiêu diệt, Trương Lương không còn cách nào lại quay về theo Lưu Bang. Lưu Bang không bực vì chuyện đã bỏ đi của Lương, vẫn đối đãi tử tế, làm cho Trương Lương cảm phục, từ đó Trương Lương giúp Lưu Bang bày mưu quân sự, khai sáng ra nhà Hán.

Tại Hồng môn yến, Trương Lương đã khôn khéo yểm hộ cho Lưu Bang trốn thoát, sau thất bại Bành Thành, Lương đề ra sách lược chính xác liên kết với Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố cùng đánh Hạng Võ. Khi Hàn Tín đề xuất ý muốn làm Tề Vương, Lương thuyết phục Lưu Bang ổn định được Hàn Tín; sau khi Hán Sở ký hòa ước Lương khuyên đánh mạnh đuổi mạnh cuối cùng tiêu diệt được Hạng Võ,

Nhìn cả cuộc đời Trương Lương, có thể nói ông là nhà quân sự kiệt xuất. Ở mỗi thời điểm gay cấn nhất, ông đều nêu ra ý kiến đúng đắn. Không có Trương Lương chắc khó nói tới thắng lợi quân sự của Lưu Bang. Do vậy, Lưu Bang được Trương Lương còn hơn được chục vạn đại quân.

Còn chuyện Tiêu Hà đuổi Hàn Tín dưới trăng thì không ai không biết. Hàn Tín tuy xuất thân hàn vi, lâu ngày chưa đắc chí, nhưng vẫn luôn để chí hướng vào đại cục trong thiên hạ. Hàn Tin mới đầu theo Hạng Võ, thấy Hạng Võ chủ quản khó thành đại sự, mới bỏ Võ theo Lưu Bang. Nhưng Lưu Bang không cho Hàn Tín là “kỳ tài”, chỉ xếp ông làm chức tổ coi việc tiếp khách, chẳng bao lâu vì tội liên lụy tới đồng sự phạm pháp bị kết án tử hình. Khi đến lượt bị chém, Tin hét to:

– Hán vương không muốn được thiên hạ ư? Sao lại chém đầu tráng sĩ!

Quan trông coi việc xử trảm là Hạ Hầu Anh thấy tướng mạo và lời nói của Hàn Tin thật khác thường, vì vậy Tín mới không bị làm mà dưới lưỡi đao. Nhờ Hạ Hầu Anh tiến cử, Hàn Tín được làm trị lật đổ úy. Sau quen biết Tiêu Hà, Tin cũng nói chuyện tình thế thiên hạ, được Hà khen ngợi. Tiêu Hà hứa sẽ tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang. Hàn Tín đợi mãi chẳng thấy động tĩnh bèn trốn đi.

Lúc đó quân sĩ bỏ trốn nhiều, đều chạy sang phía đông để về quê. Bỗng nhiên Tiêu Hà cũng mất hút hai ngày liền, Lưu Bang rất đỗi ngạc nhiên, sợ Tiêu Hà cũng bỏ trốn nốt. Đến khi gặp Tiêu Hà, mới biết ông đuổi theo Hàn Tín. Lưu Bang kinh ngạc hỏi rằng:

Tướng lĩnh trong quân, trốn đi đến mấy chục người, sao chỉ đuổi theo Hàn Tín?

Tiêu Hà trả lời

Những tưởng kia muốn được không khó, còn Hàn Tín là “quốc sĩ vô song” kẻ sĩ trong nước không ai bằng. Đại vương muốn làm chủ Hán Trung, không thể không dùng người này, nhược bằng muốn giành thiên hạ, e ngoài người này, không tìm được ai để bàn đại sự với đại vương!.

Lưu Bang nghe lời tiến cử của Tiêu Hà, cho lập lễ đài, tắm rửa ăn chay, phong Hàn Tín làm đại tướng, làm cho cả quân đều kinh. Hàn Tín quả như Tiêu Hà đánh giá, đã lập được nhiều kỳ công. Ông dẹp Tam Tần, tập kích phá Ngụy, mưu khéo diệt Triệu, khuất phục nước Yên, bình định nước Tề, diệt Sở ở Cái Hạ. Nhờ có đại tướng Hàn Tín mà Lưu Bang đánh bại được Hạng Võ.

Lưu Bang tuy vô lại, nhưng biết nghe lời khuyên. Sau khi đánh Hàm Dương, Lưu Bang vào cung điện nhà Tần, thấy điện đài nguy nga, đồ đạc quý giá, gái đẹp từng bầy, không muốn trở ra nữa. Tưởng Phàn Khoái bỗng nhảy vào hét lớn:

– Ngài muốn làm phú ông hay muốn có thiên hạ?

Lưu Bang vẫn ngồi ngày người, không có phản ứng gì. Phàn Khoái dằn giọng trách:

Chẳng lẽ ngài đã bị cung điện nhà Tần làm mê hoặc? Chính cái xa hoa của cung điện là gốc của sự bại vong, ngài hãy mau trở về quân trung, không nên nấn ná nơi cung điện này.

Vị đại vương chưa được nếm mùi phú quý này quả bị mê hồn thật, ông năn nỉ Phàn Khoái:

– Ta thấy mệt, hãy cho ta nghỉ lại đây đêm nay!

Phàn Khoái định nói tiếp, nhưng lại e quá lời, vội đi tìm Trương Lương, kể cho Lương biết Lưu Bang bị mê hồn trong cung. Trương Lương rất rõ, vào cung tìm Lưu Bang ôn tồn nói:

Triều Tần hoang dâm vô đạo, nên ngày nay đại vương mới được ngồi ở đây. Đại vương trừ bạo, phải phế bỏ những cái thối nát, lập lại triều chính từ đầu. Nay đại vương mới vào Hàm Dương đã muốn ở lại cung hưởng lạc, e rằng Tần triều bị diệt vong hôm qua, thì đại vương ngày mai sẽ bị diệt vong! Tội gì vì một lát hưởng lạc để bỏ lỡ công thành. Người xưa có câu: Thuốc hay đắng miệng nhưng khỏi bệnh, lời trung khó nghe nhưng việc thành, đại vương nên nghe lời thần.

Lưu Bang nghe lời khuyên của Trương Lương vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, thấy mình nếu không đi thì thật không còn ra gì, bèn luyến tiếc rời khỏi cung Tần. Được Trương Lương cùng đồng bọn thúc giục, Bang tuyên bố trước các phụ lão đất Tần ba điểm: giết người sẽ bị xử tử, đánh người, trộm cắp sẽ bị nghiêm trị, mọi luật pháp hà khắc của Tần đều hủy bỏ. Từ đó Lưu Bang được dân chúng ủng hộ.

Rõ ràng là phẩm đức của Lưu Bang không có gì đáng nói, nhưng một người như vậy vẫn dựng nên đại nghiệp Hán Triều, đó là vì sao? Nếu ông so sánh cùng Hạng Võ, mới thấy sự tương phản rõ rệt..

Khi Tần Thủy Hoàng đông du (đi về phía đông), Lưu Bang và Hạng Võ đều chứng kiến đội quân nghi thức, khí thế oai hùng, đáng sợ của Tần Thủy Hoàng. Hạng Võ nhìn thấy thế hùng dũng hết lớn: “Ta sẽ thay mi” rồi hiên ngang bỏ đi. Nhưng Lưu Bang nhìn thấy lại than rằng: “Đại trượng phu phải như thế!”, tỏ ý rất thèm muốn. Sau này trong chiến tranh, Hạng Võ dũng mãnh thiện chiến, không ai địch nổi, tính thẳng thắn hào phóng, tạo nên hình tượng một Sở Bá vương đáng kinh nể.

Còn Hạng Võ có tấm lòng nhân như đàn bà, có thể hút mủ vết thương cho binh sĩ, nhưng không biết dùng người hiền, con dấu đã khắc để mòn trong túi còn tiếc chưa ban cho quan tướng, có một Phạm Tăng mà không biết dùng, chẳng bại thì sao? Lưu Bang thì ngược lại, tuy không biết dẫn quân xông trận, nhưng lại biết hội tụ nhiều hiền sĩ, nên đã thắng lợi.

Như vậy ta thấy, cái “đức” vị tất lúc nào và đầu đâu cũng phù hộ ta, mà cái “thuật” có lúc trở thành mấu chốt của thắng lợi.

Người xưa nói: “Hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ” (trời chẳng thiên vị ai, chỉ có cái đức phù hộ). Lấy cuộc chiến Hạng Võ, Lưu Bang làm ví dụ, anh hùng hào kiệt mà thua, lưu manh vô lại thì thắng, lịch sử vậy đó, ta biết nói sao? Chỉ còn biết ngậm ngùi mà thôi.

Nguồn: Quyền trí Trung Hoa

Xem thêm: 

You may also like