Quan hệ bang giao thời nhà Lý

by Moc Lam Quan

Vào thế kỷ XI, trong bối cảnh chung không ổn định của khu vực, khiến nhà Lý một mặt vừa lo xây dựng vương triều xã tắc, một mặt vừa phải lo giữ vững quan hệ bang giao hòa hiếu với các lân bang, đó là nhà Tổng ở phía Bắc và Chiêm Thành ở phía Nam.

1. Quan hệ với nhà Tống

Ở phía Bắc, tuy cuộc xâm lược của nhà Tống vào năm 981 đã bị Lê Đại Hành (thế kỷ X) đánh bại, nhưng âm mưu, ý đồ thôn tính và xâm lược Đại Việt của nhà Tống chua phải đã hết. Nắm rõ tình hình đó, nhà Lý đã phải thường xuyên củng cố mối quan hệ giao hiếu với nhà Tống. Trong khoảng hơn nửa thế kỷ (63 năm) đầu thời Lý, từ triều vua Lý Thái Tổ đến vua Lý Nhân Tông, nhà Lý đã phải cử tới 23 đoàn sứ bộ sang cống vua Tống. Trong những lần cử sứ bộ sang nhà Tống như thế, phần lớn nhà Lý thường đặt quan hệ kết hiếu, ngoài những nghi lễ cần thiết như việc tang – ai điếu vua Tống lúc băng hà hay việc hỷ – mừng vua Tống lúc đăng quang, còn có cả những lần sứ thần Đại Việt sang báo tin chiến thắng Chiêm Thành với vua Tống nữa. Hoặc là mỗi khi Đại Việt có đại sự như việc vua
băng hà, hay cầu phong, nhận phong, nhà Lý cũng đều cừ sứ thần sang báo tin hoặc tạ ơn, v.v… Ngoài những lễ nghi cần thiết về ngoại giao, nhà Lý còn thường xuyên cử sứ thần sang nhà Tống xin kinh Phật nhằm mục đích truyền bá đạo Phật nhưng đồng thời cũng để tăng thêm tinh hòa hiểu giữa hai nước.

Ví dụ, về những đoàn sứ bộ cùa nhà Lý thường xuyên được cừ sang nhà Tống dưới triều vua Lý Thái Tổ vào những năm như: 1010, dẫn đầu có Lương Văn Nhâm và Lê Tái Nghiêm; 1011, dẫn đầu có Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn; 1012, dẫn đầu có Đào Thạc Phu và Ngô Nhưỡng; 1014, dẫn đầu có Phùng Chân và Lý Thạc; 1018 dẫn đầu có Nguyên Đạo Thanh và Phạm Hạc; 1021, dẫn đầu có Nguyễn Khoan Thai và Nguyễn Thù Cương; 1026, dẫn
đầu có Lý Trưng Hiển và Lê Tái Nghiêm1Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 241, 243, 244, 248, 249, 251. Dưới triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, các đoàn sứ thần lần lượt được cừ sang nhà Tống vào các năm như: 1029, 1030, 1034, 1036, 1040, 1042, 1046, 1047, 1055, 1057,1063, 1061, 1068, 1069, 1070 và 10732Toàn thư, Bản ký, quyển II, tập I, sđd. Những sứ thần cùa Đại Việt cừ sang nhà Tống đều được chọn trong hàng ngũ quan lại cao cấp, có biệt tài về thơ phú, giỏi về đối đáp mà biên niên sử ghi hầu hết đều là những Viên ngoại lang hay Thái sư, v.v…

Bang giao thời nhà lý

Bản đồ Nhà Tống và nước Đại Việt ( ảnh sưu tầm)

Đối với nhà Tống, mỗi lần có sứ thần của Đại Việt sang, vua Tống đều tiếp đón rất nồng hậu. Khi Đại Việt có đại sự như có quốc tang và vua mới lên ngôi, vua Tống thường sai sứ quan ở vùng Quảng Tây sang phúng viếng và tẩn phong vua mới. Như năm Kỳ Tỵ (1029), vua Tống sai viên Chuyển vận sứ ở vùng Quảng Tây là Chương Dĩnh sang nước ta làm lễ điếu tang vua Lý Thái Tồ và lại cử sứ thần sang phong vua mới Lý Thái Tông làm Quận vương3Toàn thư, Bản kỳ, quyền II, tập I, sđd, tr. 259.

Năm Ất Mùi (1055), vua Tống sai viên Chuyển vận sứ Quảng Tây là Tô Yên Thế tới Đại Việt điếu vua Lý Thái Tông và phong cho vua Lý Thánh Tông làm Giao Chi quận vương4Toàn thư, Bản kỷ, quyển III, tập I, sđd, tr. 282. Năm Quí Sửu (1073), vua Tống sai viên Chuyển vận sứ Quàng Tây là Khang Vệ tới điếu vua Lý Thánh Tông và tấn phong vua Lý Nhân Tông làm
Giao Chi quận vương5Toàn thư, Bản kỷ, quyển III, tập I, sđđ, tr. 289, v.v…

Ngoài quan hệ ngoại giao chính thức bằng sứ bộ giữa hai bên, nhà Tống và nhà Lý còn giao dịch thường ngày ở vùng biên thùy qua con đuờng giao lưu buôn bán. Vào thời kỳ này, việc trao đổi buôn bán giữa hai nước khá phát đạt. Cả hai bên Tống và Lý đều sợ và ngăn ngừa người ngoài giả mạo vào buôn bán để dò la tình hình, nên đã tổ chức việc trao đổi hàng ngày tại một địa điểm nhất định gọi là Bạc dịch trường.

Không chỉ lo đối phó với nhà Tổng ở phía Bắc mà ở phía Nam, nhà Lý cũng luôn phải đề phòng với nạn nhũng nhiễu cướp phá của Chiêm Thành.

2. Quan hệ với Chiêm Thành

Vào buổi đầu thời Lý, Chiêm Thành là một đất nước khá phồn thịnh. Địa phận của Chiêm Thành chạy suốt từ vùng Bình Thuận

cho đến Quảng Bình ngày nay. Quân của Chiêm Thành thường hay quấy rối ở những vùng giáp ranh với Đại Việt là châu Hoan và châu Ái. Có lần vua Lý đã phải tự cầm quân đi đánh dẹp. Chiêm Thành đã thần phục nhà Tống và cầu cứu nhà Tống đánh Đại Việt. Trong tình thế đó, triều đình nhà Lý vừa phải tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược Tống vừa phải tiến hành nhiều cuộc bình Chiêm nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và gìn giữ sự bình an cho đất nước.

Vào đầu thế kỷ XI (1010), trong lúc ở Đại Cồ Việt, vương triều Tiền Lê suy sụp, nhà Lý lên cầm quyền thì ở Chiêm Thành một ông vua mới cũng lên nối ngôi, đó là vua Harivarmandeva III. 

Trong thời trị vì của vị vua này, quan hệ giữa Chiêm Thành với các nước lân bang như Đại Việt và nước Tống có phần hữu hảo hơn. Vua Harivarman III đã cử sứ thần sang cả hai nước và gửi cống sản vật quí của Chiêm Thành như sư tử, cá sấu, v.v… Đối với nhà Lý, vào năm Tân Hợi (1011) ngay sau một năm Lý Thái Tổ lên ngôi, Chiêm Thành đã cho sứ giả sang cống vua Lý sư tử6Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 244. Nhưng vua Harivarman III trị vì đất nước Chiêm Thành không được bao lâu và đến năm 1020, một vị vua khác đã lên nối ngôi, đó là vua Paramesvaravarman II. Sau một thời gian mối quan hệ Việt – Chiêm tạm yên ổn thì đến đây dưới thời vua Paramesvaravarman II, quân Chiêm Thành lại nhiều lần kéo sang quấy phá, cướp bóc vùng biên giới Đại Cồ Việt. Năm Canh Thân (1020), quân Chiêm Thành đã kéo tới đóng ở vùng núi Long Tỵ thuộc xã Thuần Chất, huyện Bình Chính (nay thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Nên vào mùa đông, tháng 12, vua Lý Thái Tổ đã phải sai Hoàng thái tù Khai Thiên vương Lý Phật Mã và Đào Thạc Phu đem quân đi đánh ở trại Bố Chính (Quảng Bình). Trong trận giao chiến này, phần thắng thuộc về phía quân đội nhà Lý, tướng Chiêm là Bố Linh bị chết tại trận7Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240. Sau lần giao chiến này, quân đội nhà Lý do Khai Thiên vương Lý Phật Mã vẫn còn phải tiếp tục đi đánh dẹp thêm các đợt cướp phá của quân Chiêm ở vùng châu Diễn (Nghệ An) nữa.

Vào khoảng những năm 1030 – 1041, một vị vua mới của Chiêm Thành lên nối ngôi là Vikrantavarman IV. Dưới triều vua này khá nhiều rắc rối trong triều đã xảy ra, như việc tranh giành quyền lực và ngôi báu giữa các con cháu trong hoàng tộc cũng như những cuộc nội loạn, khiến cho tình hình đất nước Chiêm Thành trở nên mất ổn định, do đó vùng biên thùy giữa Đại Việt và Chiêm Thành được tạm yên. Cũng do tình hình trong nước Chiêm Thành không ổn định như thế, nên một số người trong hoàng tộc và quý tộc Chiêm đã phải chạy sang nương nhờ bên Đại Cồ Việt.

Toàn thư ghi vào năm Kỷ Mão (1039) “Mùa hạ, tháng 4, con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng Lạc Thuần, Sạ Đẩu, La Kế, A Thát Lạt, 5 người sang quy phục nước ta ”8Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 268. Năm sau (1 0 4 0 ), viên quan coi giữ trại Bố Chính của Chiêm Thành là Bố Linh, Bố Kha, Lan Đà Tình, còn đem bộ thuộc hơn 100 người sang quy phục9Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 269.

Nhưng rồi tình hình yên ổn ở biên giới Việt – Chiêm cũng không kéo dài được bao lâu. Năm 1041, vua Vikrantavarman IV chết, con trai là Jaya Sinhavarman II (sử Việt ghi là Sạ Đẩu) lên nối ngôi. Nhung vừa lên cầm quyền, Sạ Đẩu đã thi hành chính sách truyền thống giống như các vua Chiêm Thành trước đó là tăng cường đặt quan hệ kết hiếu với nước lớn và dựa vào nước lớn (lúc đó là triều đình nhà Tống) để gây rối và cướp phá Đại Việt, về phía nhà Tổng thỉ vua Chiêm Thành đã cho sứ thần sang dâng voi thuần ba con, còn về phía Đại Việt thì Sạ Đẩu không những không sai sứ thần sang cống mà còn liên tục đưa quân sang quấy rối, cướp phá vùng biên giới và ven biển. Trong suốt 16 năm, dưới triều vua Lý Thái Tông (từ năm 1028 sau khi Lý Thái Tổ qua đời đến năm 1043) Chiêm Thành tuyệt giao với nhà Lý. Đã vậy, vào tháng 4, năm Quý Mùi (1043), quân Chiêm Thành lại theo gió mùa mà sử ghi là “giặc gió mùa” tiến vào cướp bóc dân ven biển. Vua Lý Thái Tông đã phải sai Đào Xử Trung đem quân đi đánh, dẹp yên được10Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 272. Trước thái độ tuyệt giao của vua Chiêm và sự quấy phá của quân Chiêm, khiến vua Lý phải nghĩ đến chuyện thân chinh. Ngay từ cuối năm đỏ (1043), vua Lý Thái Tông đã ra lệnh chuẩn bị cho cuộc xuất chinh vào đầu năm Giáp Thân (1044). Vua “xuống chiếu sai đóng các chiến thuyền hiệu Long, Phượng, Ngư, Xà, Hổ, Báo, Anh Vũ hơn vài trăm chiếc”11Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 275. Trước khi quyết định thân chinh, vua Lý Thái Tông còn họp quần thần tả hữu trong triều để nói rõ về thái độ của Chiêm Thành như sau: “Tiên đế mất đi đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang là cớ gì?12Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 275”. Quần thần trong triều đều cho rằng, đối với Chiêm Thành, vua Lý mới chi ban đức để vỗ về chứ chưa dùng đến uy (võ lực) để chinh phạt, đó không phải là cách làm cho người xa sợ oai. Do đó, vua mới quyết định đem quân đi đánh Chiêm Thành. Vào mùa xuân, tháng giêng, năm 1044, vua Lý Thái Tông đã trao quyền lưu thủ kinh sư cho Khai Hoàng vương Nhật Tôn rồi tự dẫn quân tiến vào đất Chiêm.

bang giao thời nhà lý - chiêm thành - chân lạp

Bản đồ nước Chiêm thành – Chân lạp ( ảnh sưu tầm)

Khi quân Lý tiến vào đến cửa Điểu Long (tức cửa Tư Hiền) thì được biết tin quân Chiêm đã bày trận trên bờ sông Ngũ Bồ. Vua Lý cắt đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, vượt tắt sang sông để đánh. Binh khí chưa chạm nhau mà quân Chiêm đã tan võ, quân Lý đuổi theo chém được khá nhiều (3 vạn thủ cấp), tướng Lý là Quách Gia Di đã chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận. Trong trận này quân nhà Lý còn bắt được 30 voi thuần và 5000 người. Nhưng vua Lý tỏ lòng cảm khái không cho quân sĩ sát hại dân Chiêm mà ra lệnh rằng: “Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha”13Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 275.

Sau lần thất bại to lớn này, Chiêm Thành đã kính nể và tiếp tục giữ lễ thần phục Đại Việt. Lúc ấy, một vua mới lên thay Sạ Đẩu là Jay a Paramesvaravarman I. Ông vua này vừa thực hiện công cuộc khôi phục đất nước bị tàn phá sau chiến tranh vừa phải giữ lễ triều cống Đại Việt trong 20 năm trị vì, nhất là dưới triều vua Lý Thánh Tông, Việt sử lược, ghi nhiều về những sự kiện nước Chiêm Thành sang cống Đại Việt vào các năm: 1055, 1057, 1059, 1060, 1063, 1065, …14Việt sử lược, sđd. tr. 94, 96, 97, 98, 99, 101 Lúc thì hiến voi trắng, lúc thì biếu tê trắng, lúc thì sang mừng vua mới (Lý Thánh Tông) lên ngôi, v.v… Nhờ thế, quan hệ hai bên giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong thời kỳ này cũng trở nên yên ổn hơn.

Nhưng từ sau khi sứ Chiêm Thành sang cống vua Lý một con tê trắng vào năm Ất Tỵ (1065)15Việt sử lược, sđd. tr. 101 thỉ Chiêm Thành không sai sứ sang Đại Việt nữa. Vì vào thời gian này, đất nước Chiêm Thành đã đặt dưới quyền trị vì của vua Rudravarman III (sử Việt ghi là Chế Củ). Ồng vua này lại bắt đầu thực hiện đường lối đối ngoại giống như các triều vua Chiêm trước đây, là liên kết với nước lớn và dùng uy nước lớn để tấn công nước nhỏ. Ngay sau khi lên nắm quyền bính, Chế Củ một mặt cho củng cố quân đội, một mặt ngầm cho người đem cống phẩm sang nhà Tống báo tin là đang chuẩn bị lực lượng quân sự và hẹn cùng phối hợp tấn công Đại Việt. Gặp đúng lúc nhà Tổng đang nuôi sẵn ý đồ xâm lược Đại Việt nên sứ thần Chiêm Thành đã được tiếp đãi rất hậu. về sự kiện này, Tống sử (q. 489, mục Chiêm Thành truyện) có ghi rõ vào năm Gia Hựu thứ 7 (1065), viên Kinh lược Quảng Tây tâu lên vua Tống rằng: “… Chiêm Thành bắt đầu chuẩn bị lực lượng quản sự để chống lại Giao Chỉ và gửi đồ cống đến kinh đô theo đường Quảng Đông. Ta phải đối đãi với họ một cách có ân tình”. Tất nhiên việc này đã được vua Tống ưng thuận. Còn đối với Đại Việt, tuy bên trong Chế Củ có ngầm muốn dựa vào Tống để tấn công Đại Việt, nhưng bên ngoài vẫn phải giữ quan hệ bình thường với Đại Việt, vỉ lúc đó lực lượng Chiêm Thành chưa đủ mạnh để công khai cắt đứt quan hệ với Đại Việt nên vẫn phải cử sứ thần sang triều cống vua Lý Thánh Tông cho đến năm 1065 thì chấm dứt.

Vào thời gian này, nhà Lý đang tích cực đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước trên nhiều lĩnh vực và vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) lại là vị vua có nhiều tâm huyết muốn xây dựng đất nước thành một quốc gia Đại Việt hùng cường để có đầy đủ sức mạnh chống chọi với các thế lực ngoại xâm đang đe dọa từ nhiều phía. Việc cho đổi tên nước thành Đại Việt vào năm 1054 đã khẳng định rõ điều đó. Trước thái độ cố hữu của Chế Củ cũng như nhiều vua Chiêm là ỷ thế nước lớn để gây sự với nước láng giềng và việc thôi không triều cống của Chế Củ, khiến vua Lý Thánh Tông đã phải quyết định thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Văn bia chùa Linh Xứng dựng vào năm 1126 ghi rõ: “Khi nước Phật Thệ (Chiêm Thành – TG) khinh nhờn phép tắc, không chịu vào chầu, vững sư rầm rộ tiến đánh”16Thơ văn Lý – Trần, tập I, sđd, tr. 363.

Ngay từ mùa hè năm 1068, vua Lý Thánh Tông đã cho sửa chữa và đóng thêm thuyền chiến và đến cuối năm đó thì mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng. Vào đầu năm Kỷ Dậu (1069), ngày 24 – 2, cuộc thân chinh bắt đầu, việc nước được trao quyền cho Thái sư Lý Đạo Thành và Nguyên phi Ỷ Lan. Lý Thường Kiệt được chọn làm Đại tướng quân, kiêm chức Nguyên soái dẫn đầu đội quân tiên phong.

Sau gần 4 tháng giao chiến kịch liệt trên đất Chiêm, quân Lý giành được chiến thắng. Vua Chiêm là Chế Củ phải đem 5 vạn quân ra hàng quân Lý tại gần biên giới Chân Lạp. Sách Việt sử lược chép rằng: “Mùa hạ, tháng 4, Nguyên soái Nguyễn (Lý) Thường Kiệt bắt được Đệ Cù ở biên giới Chân Lạp17Việt sử lược, sđd, tr. 104“. Tháng 7 năm đó, vua Lý đem quân về đến kinh sư Thăng Long và dâng tù ở Thái miếu. Nhưng để được toàn mạng trở về đất nước, vua Chiêm Chế Củ đã phải nhượng bộ đem đất 3 châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh của Chiêm Thành (nay thuộc vùng đất Quảng Bình và bắc Quảng Trị) dâng cho nhà Lý.

Từ đây, biên giới Việt – Chiêm đã được đẩy xuống phía Nam dãy Hoành Sơn thêm ba châu. Tuy nhiên vùng đất này sau đó còn bị giành dật nhiều lần nữa giữa Đại Việt và Chiêm Thành, nhưng kết quả này đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ giữa hai bên. Đặc biệt là thanh thế của Đại Việt lúc này trở nên rất lớn. Nước Tống cũng phải kiêng nể. Còn Chiêm Thành thì hoàn toàn kính sợ và thần phục. Đến năm Tân Hợi (1071), Chiêm Thành đã phải cho sứ sang cổng Đại Việt18Toàn thư, Bản kỷ, quyền III, tập I, sđd, tr. 387.

Khi đã dâng đất của ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt và được vua Lý tha cho về nước rồi, nhưng Rudravarman III (Chế Củ) lúc đó vẫn đứng trước một tình thế vô cùng khó khăn về chính trị do các phe phái trong hoàng tộc đua nhau tranh giành quyền lực gây ra. Biết không thể trụ lại được, Chế Củ đã phải đem theo vợ con cùng quân lính trở lại nương nhờ trên đất Đại Việt vào đầu năm Giáp Dần (1074). Đất nước Chiêm Thành lúc đó lại chuyển sang quyền trị vì của một vị vua mới là Harivarman IV (1074 – 1080). Dưới thời trị vì của vị vua này không những đất nước Chiêm Thành được thái bình thịnh trị mà quan hệ giữa Chiêm Thành với nhà Tống cũng như với Đại Việt diễn ra khá là tốt đẹp.

Nhưng vua Harivarman IV trị vì không được bao lâu đã nhường ngôi cho con trai mới đang 9 tuổi. Sau khi Harivarman IV mất, quần thần trong triều thấy vua mới còn nhỏ tuổi đã tôn một hoàng thân (là chú của vua, em của Harivarman IV) là Parmabodhisatva lên ngôi năm 1081. Vua Parmabodhisatva lên ngôi đã thiết lập quan hệ thân thiện với Đại Việt, hàng năm gửi sứ thần và cổng phẩm đều đặn sang Đại Việt nhưng không gửi sứ thần đều đặn sang nhà Tống. Đến năm 1086, vị vua nhỏ 9 tuổi là cháu vua Parmabodhisatva vừa bị phế đã cùng quần thần trong phe cánh làm cuộc đảo chính giành lại ngôi vị chính thống, tiếp tục làm vua

Chiêm Thành, đó là Jaya Indravarman II (1086 – 1113). Sử Việt gọi là Chế Ma Na. Khi đã giành lại ngôi vị, vua Indravarman II lập tức nổi lại quan hệ với nhà Tống vừa bị gián đoạn hàng chục năm trước đó và vẫn duy trì lệ cống phẩm đều đặn đối với Đại Việt. Tuy nhiên, trong thâm tâm vị vua này vẫn ngầm nuôi ý định lấy lại ba châu mà trước đây đã bị cha ông họ dâng cho Đại Việt. Việc đó chỉ cần có đủ cơ hội là họ Chế thực hiện.

Chính từ ý đồ sâu căn đó mà đến năm 1092, Chế Ma Na đã không gửi sứ thần sang Đại Việt mà lại gửi sứ thần sang nhà Tống vì muốn cùng phối hợp với nhà Tống tấn công Đại Việt. Nhưng âm mưu này không thực hiện được vì nhà Tống lúc đó đang còn bận chống trả lại sự tấn công của giặc Kim và Liêu ở phía Bắc. Mặt khác, Đại Việt lúc đó lại vẫn duy trì đầy đù nghĩa vụ thần thuộc đối với triều đình nhà Tống nên nhà Tống không thể có lý do đem quân sang đánh Đại Việt được. Vì không thực hiện đều đặn nghĩa vụ cống phú, nên đến năm 1094, triều đình nhà Lý đã phải cử quan Hàn lâm học sĩ Mạc Hiển Tích sang sứ Chiêm Thành để nhắc nhở. Biết thế của Đại Việt lúc đó đang cường thịnh, Chế Ma Na lại phải tiếp tục cử sứ thần sang nộp cống đều đặn. Được một thời gian thì vua Chiêm lại động binh với ý muốn lấy lại ba châu đã dâng cho Đại Việt. Thấy tình hình như vậy, vào đầu năm Giáp Thân (1104), triều đình nhà Lý đã cử Lý Thường Kiệt cầm quân đi đánh, quân Chiêm phải trả lại ba châu ấy về cho Đại Việt. Sau lần thất bại này, vua Chế Ma Na lại phải giữ lễ thần phục và triều cống Đại Việt như cũ.

Sau Chế Ma Na là Harivarman V lên làm vua nước Chiêm. Vị vua này đã duy trì được quan hệ thân thiện với cả nhà Tống lẫn nhà Lý. Sứ thần hai nước đều qua lại dâng cống phẩm quý và vì thế biên giới Việt – Chiêm thời kỳ này cũng khá yên ổn, nhân dân hai nước cũng sống với nhau khá là yên vui. Nhưng triều vua Harivarman V tồn tại không lâu, chì đến 1129. Sau đó Chiêm

Thành bị uy hiếp của nước láng giềng phía Nam là Chân Lạp. Rồi cả Chiêm Thành và Chân Lạp có lúc câu kết với nhau đem quân vào cướp phá lãnh thổ Đại Việt ở vùng giáp ranh. Nhà Lý nhiều lần phải cử quân đi đánh dẹp, đem lại sự yên lành cho nhân dân, như cử Thái úy Lý Công Bình đi đánh dẹp nhiều lần. Có thời gian Chiêm Thành bị Chân Lạp chiếm đóng và làm chủ đất nước. Trong thời gian Chiêm Thành đặt dưới sự kiểm soát của Chân Lạp, nội bộ Chiêm Thành bị phân hỏa, lục đục. Sau đó một trong số thân vương của Chiêm Thành lên làm vua khoảng năm 1147, đó là vua Jaya Harivarman I, sử Việt gọi là Chế Bì La Bút. Chế Bì La Bút tiến hành chiến đấu chống quân Chân Lạp và những cuộc tấn công của một số bộ tộc miền núi khác ở phía Tây. Qua rất nhiều cuộc đánh dẹp lại các phe phái chống đối cũng như đương đầu với nhiều tình huống khác xảy ra, cho đến năm 1160, Jaya Harivarman I mới lập lại được nền thống trị trên toàn đất nước Chiêm Thành.

Vua Chế Bì La Bút, sau khi ổn định đất nước đã thi hành những chính sách đối ngoại rất mềm dẻo với Đại Việt một cách hữu hảo, mặc dù trong thời gian này thỉnh thoảng vẫn có những toán người từ nước Chiêm Thành và Chân Lạp sang quấy rối, cướp bóc vùng biên giới thuộc châu Nghệ An của Đại Việt. Việc đó khiến vua Lý lo ngại đã phải cho quân đi đánh dẹp. Vua Chế Bì La Bút đã phải lấy lòng vua Lý của Đại Việt bằng cách cho tuyển chọn các thiếu nữ người Chiêm đưa sang dâng vua Lý. Năm 1154, vua Lý Anh Tông đã tiếp nhận số thiếu nữ người Chiêm này vào trong cung. Nhưng được vài năm (1166), sứ Chiêm lại đến các miền châu Ô, châu Lý mộ quân vượt biển cướp bóc nhân dân miền ven biển Đại Việt19Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 346. Để đến năm 1167, vua Lý Anh Tông phải sai Thái úy Tô Hiến Thành mang quân đi đánh20Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 346. Khi tới Chiêm Thành, Tô Hiến

Thành đã “đưa thư cho chúa Chiêm, quở trách về việc không giữ lễ phiên thần, lại tỏ bày sự lợi hại để chiêu dụ”21Cương mục, quyển V, tập I, sđd, tr. 412 khiển vua Chiêm sợ hãi phải “sai sứ sang dâng châu báu và những sản vật địa phương để xin hòa”22Cương mục, quyển V, tập I, sđd, tr. 412. Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 346. Triều đình nhà Lý mới đồng ý cho Tô Hiến Thành rút quân về. Từ đấy, nước Chiêm Thành giữ lễ phiên thần và dâng cổng đầy đủ23Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 346.

Trong khoảng thời gian từ năm (1170 – 1190), nước Chiêm Thành đặt dưới sự trị vì của vị vua Jaya Indravarman IV24Lương Ninh, Lịch sử Vương quốc Champa, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 88. Jaya Indravarman IV là một ông vua hiếu chiến, đã đem quân sang đánh Chân Lạp, cướp phá và thu nhiều chiến lợi phẩm mang về. Năm 1190, vua Chân Lạp đã dẫn đại quân vào chiếm kinh đô Chiêm và bắt sống vua Chiêm Jaya Indravarman IV đưa về Chân Lạp rồi đưa người khác lên làm vua Chiêm Thành. Chiêm Thành lúc này phải chia làm hai. Một phần ở phía Bắc do một hoàng thân của Chân

Lạp trị vì (vương triều Vijaya). Vương triều Panduranga ở phía Nam do một người gốc Chiêm cai trị và phải nhận tước vị của Chân Lạp. Nhưng sau đó, nhân dân Chiêm Thành đã đứng lên đánh đuổi được sự chiếm đóng của Chân Lạp và đưa một người Chiêm lên ngôi vua, làm nhiệm vụ thống nhất lại quốc gia Chiêm Thành, góp phần đẩy lùi cuộc tấn công can thiệp của Chân Lạp vào năm 1193, 1194 sau đó. Vị vua mới có công thống nhất đất nước Chiêm Thành vừa lên ngôi này, sử Việt gọi là Bố Trì. Ngay năm 1194, Bố Trì đã gửi một đoàn sứ thần sang Đại Việt. Đến năm Mậu Ngọ (1198), Bố Trì còn cử sứ sang cống Đại Việt và xin cầu phong25oàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 355. Năm Kỷ Mùi (1199), vua Lý Cao Tông đã sai sứ sang phong cho Bố Trì26oàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 355. ít lâu sau, Bố Trì bị lật đổ, đã phải đem vợ con và tùy tùng sang ngụ ở cửa biển Kỳ La (Cửa Nhượng, thuộc Kỳ Anh, Hà Tĩnh) muốn cầu cứu sự giúp đỡ của vua Lý, nhưng sự việc lúc này không còn cơ hội. Vào hai thập kỷ đầu thế kỷ XII, Chiêm Thành bị biến thành một tỉnh của Chân Lạp. Trong thời gian này, cả quân đội của Chiêm Thành lẫn Chân Lạp nhiều lần sang cướp phá Đại Việt ở vùng châu Nghệ An, như vào các năm 1216, 121827Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 363, 364. Triều đình nhà Lý phải cử Châu bá châu Nghệ An là Lý Bất Nhiễm đem quân đi đánh, dẹp yên được28Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 363, 364. Nhưng sau, Chân Lạp phải lo đối phó với một kẻ thù mới là Xiêm, nên đã tự rút khỏi đất Chiêm, chấm dứt cục diện chiến tranh hàng trăm năm giữa hai bên. Tình hình quan hệ giữa Chiêm Thành và Đại Việt thời gian này cũng tạm ổn.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: 

You may also like