Quan hệ ngoại giao thời nhà Trần

by Moc Lam Quan

Nhà Trần là triều đại có mối bang giao với 3 đời triều đại phương bắc là nhà Tống, nhà Mông – nguyên và nhà Minh. Mỗi triều đại lại có chính sách khác nhau với Đại Việt. Vậy những vị vua nhà Trần đã có những đối sách như thế nào. 

* Quan hệ Đại Việt – Tống

Mối bang giao giữa Đại Việt và nhà Tổng (906 – 1279) sau khi nhà Trần thiết lập chủ yếu là thực hiện nghi lễ phong vương và triều cống. Toàn thư ghi: Năm Kỷ Sửu (1229), vua Trần Thái Tông “sai sứ sang thăm nước Tống. Nhà Tống phong vua làm An Nam quốc vương”1Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 10. Tuy nhiên, về mức độ giao hảo giữa hai nước, Toàn thư chép không nhiều. Ngoài nghi lễ phong vương thì việc triều cống cũng chỉ được chép sơ lược. Sau khi Nguyên Thái Tông băng thì cửa ải thường không thông bởi lẽ, tất cả các vật tiến cống của Đại Việt đều phải gói cẩn thận rồi gửi lại thổ quan bản xứ để nộp lên. Sứ thần Đại Việt đến Kinh chi mang theo tờ biểu mà thôi. Cho nên, vua sai quân lên trấn giữ biên giới phía Bắc để dọn đường thông hiếu. Sử chép: năm 1242, “sai Thân vệ tướng quân là Trần Khuê Kình đem quân trấn giữ biên giới phía Bắc, đánh lấy địa phương lộ Bằng Tường. Trước là từ sau khi Nguyên Thái Tông băng thì cửa ải thường không thông, nếu có sứ mệnh thì chi có hai viên chánh phó sứ và hai bọn người đi theo mà thôi, còn sản vật tiến cống có bao nhiêu thì gỏi bọc cẩn thận đưa đến địa giới, thổ quan bản xứ nhận giữ để nộp. Sứ thần đến Kinh chi dâng biểu tâu thôi, các vật tiến cống không đến nơi cả được. Đến nay sai tướng chống giữ đánh chiếm mới được thông hiếu với nước Tổng”2Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 19.

Tuy nhiên, theo ghi chép của Phan Huy Chú thì lại khác, vào thời Trần Thái Tông nước ta không có sứ sang phong và nước ta chưa từng đưa thư trước cầu phong với hai nước Mông Cổ và Tống. “Xét: Buổi đầu thời Trần, nước Mông Cổ thế lớn mạnh, mà nước Nam Tống thì suy yếu ở vào một góc, nước ta không sai sứ sang đuợc, cho nên suốt đời Thái Tông không có sứ sang phong.

Đến đây phong vương thi Mông cổ phong trước mà nhà Tống phong sau. Đỏ cũng chỉ là tùy hai nước ấy tự sai sứ sang, nước ta chưa từng đưa thư trước cầu phong với hai nước ấy”3Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chi, tập III, mục Văn tịch chí, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1992, tr. 190.

* Quan hệ giữa Đại Việt với đế quốc Mông – Nguyên

Trong thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất: trước khi đem quân vào biên giới Đại Việt, tướng Ngột Lương Hợp Thai của nhà Nguyên đã nhiều lần sai sứ dụ hàng vua Trần Thái Tông nhưng không có kết quả4Một số sách như Tục Hoằng giản lục (q, 42, 21b) và Cương mục tục biên đều chép U Ry Ang Kha Đai ba lần sai sứ đến dụ hàng không thấy trở về. Đại Việt sử ký cũng nói rằng sứ Mông cổ đến ba lần. Ba lần đó có lẽ là: 

1. Tháng 8 năm Đinh Tỵ chép trong Toàn thư; 

2. Lần tháng 9 chép trong Nguyên sừ, quyển 121; 

3. Lần tháng 11 chép trong Nguyên sử, quyển 209. Theo Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỳ XIII, in lần thứ 4, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1975, tr. 64. Nguyên sử chép: “Tháng 9, mùa Thù, sai sứ chiêu hàng Giao Chi, không thấy trả lời. Tháng 10, mùa Đông tiến binh đến sát biên giới”; “Tháng 11 năm Đinh Tỵ (Hiến Tông năm thứ 7), quân của Ngột Lương Hợp Thai đến phía Bắc Giao Chi, trước hết sai hai sứ đến dụ, sứ không trở lại”5Dần lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỳ XIII, In lần thứ 4, sđd, tr. 64. Nguyên sử, q. 209 chép: “Thấy sứ không trở về [Ngột Lương Hợp Thai] bèn sai bọn Triệt Triệt Đô đều đem 1 nghìn người chia đường mà tiến đến trên sông Thao ở Kinh Bắc nước An Nam. Lại sai con là A Truật sang giúp và dòm ngó tình hình”6Toàn thư, Phần Chú giải và khảo chứng, Bản kỷ, quyển V, tập II, sđd, tr. 286. Toàn thư cũng chỉ chép đến sự kiện có sứ nhà Nguyên sang Đại Việt, ngoài ra không có thông tin gỉ hơn: “Tháng 8 (1257), chủ trại Quy Hóa là Hà Khuất sai người chạy tâu nói là có sứ nhà Nguyên sang”7Toàn thư, quyển V, tập n, sđd, tr. 28. Liền sau đó vua nhà Trần đã ra lệnh cho toàn dân Đại Việt tích cực sắm sửa binh khí, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Trần Quốc Tuấn được giao chỉ huy quân đội lên biên giới ngăn chặn đường tiến quân của quân giặc. Sử chép: “Tháng 9 (1257), xuống chiếu cho tả hữu tướng quốc đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”8Toàn thư, quyển V, tập n, sđd, tr. 28.

* Trong thời kỳ ngoại giao (1258 – 1281) 

Sau thất bại ở lần xâm lược thứ nhất, vua Nguyên luôn sai sứ sang hạch sách nước Đại Việt. Nhung các vua Trần và các đoàn đi sứ đều hết sức thông minh tài giỏi vừa mềm dẻo vừa khôn khéo để  cuối cùng đạt được mục đích của minh. Đối với nước Nguyên, chiến lược của vua tôi nhà Trần là giữ quan hệ hòa hiếu, thể hiện qua những lần tiếp sứ Nguyên và cử người đi sứ sang Nguyên. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cho biết từ năm 1289 đến 1359 có 12 đoàn của hai nước Đại Việt và Nguyên tiến hành bang giao…

Sau kháng chiến lần thứ nhất tháng lợi, đất nước thanh bình, nhân dân cả nước tiếp tục sự nghiệp xây dựng đất nước, nhưng, đây cũng là thời gian triều đình nhà Trần phải tập trung trí lực trên phương diện ngoại giao. Sau khi đoàn quân bại trận Mông Cổ về nước, tháng 2 – 1258, nước Mông cổ liền sai sứ sang Đại Việt yêu cầu vua Trần Thái Tông phải nộp cống mỗi năm một lần. Vua Trần Thái Tông đã sai Lê Phụ Trần và Chu Bác Lãm sang xin hoãn ba năm nộp cống một lần. “Khi ấy sứ Nguyên sang đòi của dâng hàng năm, tăng thêm vật cống. Bàn tính phân vân không quyết định, vua sai Lê Phụ Trần sang sứ, Bác Lãm làm phó. Rốt cuộc định 3 năm một kỳ cống làm lệ thường”9Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 31. Sách Lịch triều hiến chương loại chí,Mục Bang giao chỉ cũng chép: “Trần Thái Tông, năm Nguyên

Phong thứ 8 (1258), sai sứ sang nước Mông cổ, sai Lê Phụ Trần làm chánh sứ, Chu Bác lãm là phó sứ, định lệ thường 3 năm một lần”10Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 219. Đồng thời, triều đình cũng cử sứ đoàn sang thông hiếu với nhà Tống.

Tháng 3 – 1258, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng tức Trần Thánh Tông11Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 31. Ngay trong năm này, sứ Mông Cồ là Nột Thích Đinh (Nậu Thích Đinh)12Nguyên sứ Thế tổ bàn kỳ có chép một sứ đến Đại Việt năm 1261 là Nạp Thóc Thích Đinh chắc cũng là một người. Có lẽ đó là Nâsr ud Din, tín đồ Hồi giáo ờ Vân Nam và là Nescradin trong sách Marco Polo. Theo Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, In lần thứ hai, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr. 294 đã hai lần sang Đại Việt, đòi vua Trần vào chầu với những lời đe dọa: “Nếu các người hết lòng nội phụ thì quốc chủ phải tự đến chầu, bằng không thì hãy báo ta rõ”. Vua Trần Thánh Tông vẫn mềm mỏng trả lời: “Nước nhỏ thành tâm thờ kẻ trên thì nước lớn đối đãi thế nào”.

Năm 1261, sau khi lên ngôi Hãn, Hốt Tất Liệt đặt tên nước là Nguyên, liền sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang thư sang Đại Việt yêu cầu những việc lễ nhạc, mũ áo, phong tục đều phải theo nước Nguyên, không thay đổi13Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 35. Khi sứ đoàn nhà Nguyên trở về, “vua Trần Thánh Tông đã sai Trần Phụng Công, Nguyễn Thâm, Nguyễn Diễn mang thư sang nước Nguyên để thông hiếu”14Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 35 và xin được ba năm một lần cống. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng chép: “Trần Thánh Tông, năm Thiệu Long thứ 4 (1261), sai sứ sang thăm (sính) nước Mông Cổ. Nước Mông Cổ phong vương vua làm An Nam vương (cho 3 tấm tây cẩm, 6 tấm kim cẩm và hổ phù)”15Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Văn tịch chí,sđd, tr. 190.

Trần Thánh Tông - ngoại giao nhà trần

Trần Thánh Tông

Nhưng sứ đoàn nhà Nguyên sang Đại Việt không chỉ thực hiện nhiệm vụ của Hãn Hốt Tất Liệt là “phong” Trần Thánh Tông làm An Nam quốc vương mà luôn kèm theo những yêu sách mỗi ngày một tăng. Vua Nguyên yêu cầu Đại Việt phải cống hàng năm. Ngay năm sau, “tháng 11 năm Nhâm Tuất (1262) nước Nguyên sai Mã Hợp Bộ 10 người sang hỏi lễ chúc mừng”. Lê Tắc cho biết trong năm này (1262), nhà Nguyên đặt quan Đạt lỗ hoa xích16Đạt lỗ hoa xích, chức quan cai trị, theo quan chế của nhà Nguyên tại Đại Việt: “Năm Trung Thống thứ 3 (1262), sai Nạp Lạt Đinh làm chức Đạt lỗ hoa xích tại nước An Nam”17Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd, tr. 93.

Vua Trần sai Phạm Cự Địa và Trần Kiều sang nước Nguyên vào tháng Giêng năm Quý Hợi (2 – 1263). “Vua Nguyên xuống chiếu ưu đãi cho 3 năm một lần cống”18Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 35. Chúng ta biết rằng một lần triều cống, Đại Việt phải chuẩn bị rất nhiều đồ cổng có giá trị. Nếu một năm thực hiện triều cống một lần thì quả là không đơn giản chút nào cho quốc gia Đại Việt19Từ Minh Thiện là sứ nhà Nguyên sang Đại Việt năm 1289 đã chép khá rõ đồ cống của Đại Việt cho vua nhà Nguyên như sau: “Có một tấm gấm, hai tấm đoạn và 20 tấm lụa sợi nhỏ năm mầu. Một tấm chiểu gấm dệt màu, 50 tấm lụa nhỏ năm mầu và 100 tấm lãnh năm mầu, một hòm đựng biểu gỗ sơn đỏ vỏ mạ vàng bạc cả khóa, một bộ yên cà bành ngồi nạm vàng, phần nạm vàng nặng 10 lạng, 7 chiếc đạc đồng mạ vàng, 1 cái ghế bằng sừng linh dương, 1 mâm bằng đá hoa nạm bạc mạ vàng, 2 bình lưu ly có nắp bằng vàng (nặng tất cả 1 tạng 6 tiền), một đôi cọc đèn bảng vàng nặng 14 lạng, l mâm bằng sừng tê nạm bạc mạ vàng, chén bằng trầm hương nạm vàng có cà nắp và đế, 1 cái đĩa lá sen vàng, nắp và đế nặng 3 lạng 7 tiền, đìa lá sen vàng nặng 5 lạng, 1 đĩa hình quả dưa bằng vàng nặng 6 lạng 8 tiền, 1 quả bầu bằng vàng nặng 10 lạng, 1 đĩa bằng sừng tê cà đế nạm vàng, nặng 4 lạng, 1 chén bằng sừng tê nạm vàng nặng 5 tiền, một đĩa vàng nặng 4 lạng 3 tiền, một bộ thìa và đũa bằng vàng nặng 6 lạng, thìa vàng 4 lạng, đũa vàng 1 lạng ba liên, một cái nia xóc thịt bằng vàng, 4 tua rù bằng vàng lốt (chán kim), một bàn cờ bằng gỗ có vân và xương voi có nạm bạc mạ vàng, dây vàng 3 lạng, 1 tráp bạc mạ vàng nặng 10 lạng 8 tiền, 5 cái sừng lê màu đen lớn với 5 cái đẻ băng giô vẽ, 5 cái chiêng vàng nặng tất cả 100 lạng, 10 cái chiêng bạc nặng tất’ cá 300 lạng, hai cái bình bằng bạc đựng dầu lô hợp hương, dầu nặng tất cả 163 lạng, bình nặng tất cả 79 lạng” Ngoài ra còn có các thứ như đàn hương, thảo quả, ngà voi, chim trà, trĩ, ung, sáo, chồn, cá sấu, v.v…. Vì vậy, việc xin được ba năm một lần cống là một thắng lợi trong quan hệ bang giao thời kỳ này. Tháng 12 – 1263, vua lại sai viên Ngoại lang Dương An Dưỡng, Nội lệnh Võ Phúc Hoàn, Thư xá Nguyễn cầu và Trung dực lang Phạm Cử sang “tạ ơn” việc Hốt Tất Liệt “‘ban” gấm cho Thánh Tông năm 1262.

Bắt đầu từ năm 1263, Đại Việt không chi cống sản vật mà còn phải cống nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói và các loại thợ giỏi mỗi hạng ba người. Các sàn vật như dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, châu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, vải lụa, chén sứ… đều phải cống nộp đầy đủ.

Năm 1266, nhà Nguyên lại cừ sứ đoàn sang Đại Việt. Theo Toàn thư thì: “Tháng 2 năm Bính Dần (1266), nước Nguyên sai Nậu Lạt Đinh sang bảo rằng: “Ta trước có sai sứ sang thông hiếu, chấp sự (chữ dùng để đối xưng, tỏ ý khiêm nhượng) mê mà không trả lại, vì thế có việc dụng binh năm trước. Vua sai Dương An Dưỡng và Vũ Hoàn sang thăm nhà Nguyên để đáp lễ”20Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 38; Nguyên sứ, quyển 209 lại chép sự kiện này vào năm Mông Kha thứ 8, tức Trần Thiệu Long thứ 1 (1258) như sau: “Mùa hạ, Quang Nột (Trần Thánh Tông) sai rể và người trong nước đem phương vật đến. Ngột Lương Hợp Đài đem đến sở hành tại. Sai riêng Nạp Lạt Đinh sang dụ rẳng: “Trước kia ta sai sứ thông hiếu, bọn ngươi bắt không cho về, vì thế ta mới có việc dụng binh năm ngoái. Vì quốc chúa ngươi phải chạy ra đồng nội, ta lại sai hai sứ đi chiêu an mà trả nước cho, ngươi lại trói mà trả lại sứ của ta. Nay đặc biệt sai sứ sang dụ, nếu bọn ngươi hết lòng nội phụ thì quốc chúa phải thân đến. Nếu còn không tỉnh ngộ thì báo rõ với ta”. Theo Toàn thư, quyển V, tập II, phần Chú giải và khảo chúng, sđd, tr. 290. Toàn thư ghi: “Mùa thu, tháng 8 (1267), bọn Dương An Dưỡng từ nước Nguyên trở về, mang theo luôn lễ vật của vua Nguyên hồi đáp”21Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 39. Sự kiện này, Phan Huy Chú chép như sau: “Thánh Tông, năm Thiệu Long thứ 9 (1266), tháng 2, sứ Mông Cổ là Nạp Lạt Đinh sang nói về việc quân (Mông Cổ ) phạm đất Bình Lệ (không rõ chỗ nào ở trên sông Thao), nhà vua sai Dương An Dưỡng và Vũ Hoàn sang Nguyên thăm lại”22Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chi, tập III, Mục Văn tịch chi, sđd, tr. 220[/mfn.

Lúc này, Hốt Tất Liệt tiếp tục cuộc chiến tranh chinh phục Nam Tống và mức độ sách nhiễu Đại Việt cũng không ngừng tăng lên. Vua Trần mặc dù mềm mỏng đáp lễ nhưng thái độ rất kiên quyết để bảo vệ chủ quyền của đất nước. Năm 1267, nước Nguyên sai sứ mang Chiếu sang Đại Việt yêu sách sáu việc:

– Vua phải thân vào chầu

– Cho con em sang Mông Cổ làm con tin

– Kê biên dân số

– Cung ứng quân dịch.

– Nộp thuế khóa.

Đặt quan Đạt lỗ hoa xích để thống trị22Nguyên văn Lời chiếu dụ nước An Nam, tháng 7 năm Chí Nguyên thứ 4 (1267) được Lê Tắc chép trong An Nam chi lược, sđd, tr. 76.

Nếu đáp ứng đủ sáu việc trên thì rõ ràng Đại Việt trở thành thuộc quốc của nhà Nguyên. Vì vậy, vua Trần đã khôn khéo từ chối. Và, mặc dù nhà Nguyên có đặt quan Đạt lỗ hoa xích ở Đại Việt nhưng trên thực tế là đã bị vô hiệu hóa.

Cũng trong năm 1267, vua nước Nguyên còn gửi lễ vật và ban tứ cho vua Đại Việt. Trong Chiếu văn gửi vua Đại Việt còn cho thấy nhà Nguyên đã đáp ứng một số yêu cầu của vua Đại Việt. Chiếu viết: “Từ khi trẫm lên ngôi về sau, tất cả các nước trong, ngoài quanh biển đều thân mật như một nhà. Phàm chư hầu vào đại quốc để cống hiến vật sản, là chế độ thông thường từ xưa đến nay.

Hễ kỳ hạn ba năm là nhập cống một lần, nay đã đến triều, lấy thành tín thờ nước lớn, tức là lễ vậy. Trước đây trẫm sai quan Đạt lỗ hoa xích là Nậu Thứ Đinh Qua, khanh và các tôi nên yên chí lo việc nước; những việc khanh đã xin, trẫm đều chấp thuận, còn về việc các biên thần làm rối loạn, trẫm đã có sắc lệnh ngàn ngừa, khanh nên biết rỗ. Nay trẫm ban cho các đồ lễ vật, có kê rõ trong giấy tờ, khanh nên nhận lãnh lấy. Nay ban tứ cho An Nam quốc vương”23Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd, tr. 77.

Năm 1272, nhà Nguyên lại sai người sang hỏi về giới hạn cột đồng, “Tháng 4 năm Nhâm Thân (1272), nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới hạn cột đồng cũ. Vua sai viên Ngoại lang là Lê Kính Phu hội khám, nói rằng cột đồng của Mã Viện lập lâu năm bị mai một, không còn tung tích gì nữa”24Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 42. Hai tháng sau, vua Trần sai Đỗ Dã Mộc sang nước Nguyên.

Tháng 11 năm Ất Hợi (1275), người Nguyên đi tuần ở biên giới phía Bắc Đại Việt để xem xét địa thế. Đại Việt cử Lê Khắc Phục và Lê Tuy Kim sang nước Nguyên. Do vua Đại Việt luôn khéo léo từ chối những yêu cầu của nhà Nguyên nên trong lời Chiếu văn năm Chí Nguyên thứ 12 (1275), vua Nguyên đã trách vua Trần là đã quy phụ 15 năm nhưng chưa một lần triều kiến, thực hiện đúng 3 năm một lần tiến cống nhưng các đồ tiến cống đều không dùng được. Chiếu vàng của vua Nguyên được sứ thần là Hợp Sát Hải Nhi vâng mệnh mang sang Đại Việt với nội dung: “Theo chế độ của tổ tông đã quy định, phàm các nước nội phụ thì vua phải thân hành tới chầu, gửi con em làm tin, biên nạp dân số, nộp thuế lệ, một dân trợ binh và vẫn đặt quan Đạt lỗ hoa xích đề thống trị; sáu điều nói trên, năm trước đã có lời dụ cho khanh biết rồi, thế mà quy phụ đã hơn 15 năm, khanh chưa từng tới triều kiến một lần nào, và các điều quy định đến nay vẫn hoàn cảnh chưa thi hành; tuy rằng ba năm tới cống hiến một lần, nhưng các đồ cống đều không dùng được…”25Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd, tr. 77.

Tình hình hai nước không chỉ dừng lại ở việc bang giao đom thuần mà lúc này, càng ngày vua Trần càng tăng cường hơn sự đề phòng nhà Nguyên để bảo vệ an ninh quốc gia nên tháng 2 – 1276, vua Trần Thánh Tông “sai Đào Thế Quang sang Long Châu, mượn tiếng đi mua thuốc để thăm dò tình hình người Nguyên”26Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 43.

Khi vua Trần Thái Tông băng hà, Trần Thánh Tông lên ngôi, nhà Nguyên lấy lý do vua Trần lên ngôi không xin mệnh lệnh, liền cử sứ thần sang yêu cầu vua sang chầu, nhung thực chất là nhân cơ hội này định tính kế mở cuộc tấn công xâm lược Đại Việt. Sử chép: tháng 10 – 1278, “Vua Nguyên nghe tin Thái Tôn băng, ý muốn mưu tính nước ta, sai Thượng thư Lễ bộ là Sài Xuân (tức Sài Trang hương) sang sứ. Bấy giờ sứ nước ta là Lê Khắc Phục, trở về, gặp quân Nguyên đánh nhà Tống, đi theo đường Hồ Quảng về nước. Xuân cùng đi với Khắc Phục sang nước ta, thác cớ là vua không xin mệnh lệnh (nhà Nguyên) tự lên làm vua mà bảo phải sang chầu.

Trần Thái Tông - ngoại giao nhà Trần

Trần Thái Tông

Vua không nghe. Sai Trịnh Đình Toàn và Đo Quốc Ke sang nước Nguyên, nhà Nguyên giữ bọn Đình Toàn không cho về”27Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 48. Sử không chép phái đoàn Đại Việt tiếp sứ Nguyên gồm những ai nhưng qua bài thơ của Trần Quang Khải: Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh (Tiễn sứ Bắc Sài Trang Khanh) cho thấy, Trần Quang Khải là một trong những người được triều đình cử tiếp Sài Xuân và lần tiếp đón này rất tốt đẹp. Nhà Trần tiếp Sài Xuân tử tế và khi ra về lại tiễn đưa chu đáo nhưng vẫn giữ vững tư thế của một nước độc lập. Nội dung bài thơ còn mô tả được sự thân tình của Trần Quang Khải và Sài Xuân: Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi chia tay, Cùng nhau xướng họa tiếc những nỗi hai giường đối diện…”28Thơ văn Lý – Trần, tập II, quyển Thượng, sđd, tr. 426.

Phái đoàn Đại Việt sang Nguyên mang theo lời từ chối của vua Trần là đường sá xa xôi không thể vào chầu. Trong lời Chiếu của vua Nguyên gửi vua Trần Thánh Tông năm 1278, có đoạn viết, “Thế thì bọn Lê Khắc Phục làm sao mà tới được? Hai điều đó là nói dối rõ ràng”29Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd, tr. 78. Nguyên văn lời Chiếu như sau: “Lời chiếu dụ cho Thế tử An Nam Trần Nhật Huyến (Trần Thánh Tông) trong tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 15 (1278). Hồi trước, khi nước khanh mới nội phụ, hễ có xin điều gì, ta cũng y cho cà, trong ý nói rằng theo lễ thờ phụng nước lớn, lâu ngày tự xét sẽ biết rồi tuân theo các điều khoản mà thi hành. Nhưng đã lâu năm rồi, lễ nghi dần dần sơ bạc, vì vậy cho nên trong năm Chí Nguyên thứ 12 (1275), trẫm lại xuống một lời chiếu để trách khanh về những việc thân hành vào chầu và trợ binh. Mới đây, bọn Lê Khắc Phục qua dâng tờ biểu đều là nói dối: “Nói nước khanh nội phụ trước hết”. Kỳ thực các nước tứ phương tới đầu hàng trước khanh đã đông rồi, sau khanh chi có nhà Tống mà thôi, nhưng trẫm cho một đạo quân ra thì cả nước đều dẹp yên; kể ra thì khanh cũng đã nghe biết, thế thì lời của khanh không phải là giả dối sao? Lại nói: “Có kẻ thù là nước Chiêm Thành quấy rối nên không thể trợ binh”. Vả khanh cùng nước Chiêm Thành là bạn láng giềng đã lâu, không phải mới từ ngày nay. Còn như nói: “Vì đường xa không thể vào chầu”. Thế thì bọn Lê Khắc Phục làm sao mà tới được? Hai điều đó là nói dối rõ ràng.

Hồi xưa khanh cùng nhà Tống thông hảo, nay nhà Tống đã dẹp yên, nhưng lẽ nghĩa thờ kính thế nào, cũng chép ở trong thơ tịch, có thể xem mà biết. Việc trong thiên hạ chỉ lấy lòng chí thành làm căn bản. Nay khanh dối trá như vậy, ai sẽ tin được. Trước kia ông thân sinh khanh tuổi già suy nhược, đường sá xa xôi, xông pha không nổi thì còn cỏ lý; chứ nay khanh đương tuổi cường tráng, vào chầu mà chịu sắc mạng, là chính tại lúc này, huống chi nước khanh tiếp giáp với châu Ung và châu Khâm của nước ta, có sợ gì mà không đi tới một lần? Hoặc giả khanh không lo sự an toàn, cổ sự lời sắc mạng của trẫm, thì khanh nên lo sửa sang thanh quách cho vững vàng, chuẩn bị binh giáp cho đầy đủ để chờ quân ta; cơ họa phúc đổi dời, chính tại trong việc này, phải lo mà định đoạt lấy. Nay sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung và các quan viên khác phụng sứ qua nước khanh để truyền chiếu chỉ”.

Năm 1279, nước Nam Tống mất, Hốt Tất Liệt trên đà thắng thế càng muốn đem quân sang đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt liền ra lệnh đóng chiến thuyền đề thực hiện mưu đồ đó. Thất bại trong việc đòi vua Trần vào chầu, lúc này, tình hình bang giao ngày càng căng thẳng. Năm 1281, triều đình nhà Trần một mặt chuẩn bị kháng chiến, mặt khác tìm cách trì hoãn nhằm có thêm thời gian chuẩn bị, vua Trần đã sai chú họ là Trần Di Ái cùng Lê Mục, Lê Tuân theo sứ thần nhà Nguyên là Sài Thung sang Nguyên. Vua Nguyên liền giữ sứ đoàn Đại Việt lại không cho về và còn phong Trần Di Ái làm Lão hầu, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư.

Sự kiện bang giao vào tháng Giêng năm Tân Tỵ ( 1281 ) cho thấy sứ thần nước Nguyên rất ngạo mạn, tỏ ra coi thường nghi lễ Đại Việt nhưng nhờ sự tài giỏi của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn mà Sài Xuân phải thay đổi hẳn thái độ. Sử chép: vua Trần Nhân Tông “sai chú họ là Trần Di Ái và Lê Mục, Lê Tuân sang sứ nước Nguyên. Nhà Nguyên lập Di Ái làm Lão hầu, cho Mục làm Hàn lâm học sĩ, Tuân làm Thượng thư, lại sai Sài Xuân đem 5.000 quân30Theo Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm trong Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII, In lần thứ tư, sđd, tr. 159 cho rằng chỉ có một nghìn quân “Sau việc lập An Nam tuyên úy ty và sai một nghìn quân đưa Trần Di Ái về nước năm 1282…” hộ tống về nước. Xuân kiêu ngạo vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân lấy roi ngựa đánh bị thương ở đầu. Khi đến Viện Tập hiền thấy chăng đầy màn trướng mới chịu xuống ngựa. Vua sai Quang Khải đến sứ quán tiếp đãi, Xuân nằm khểnh không chịu ra. Quang Khải đi thẳng vào trong phòng Xuân cũng không dậy. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn nghe thấy việc ấy, tâu xin đến sứ quán xem Xuân làm gì. Bấy giờ Quốc Tuấn đã gọt tóc mặc áo vải, đi đến sứ quán vào trong phòng.

Xuân đứng dậy vái chào mời ngồi, mọi người đều lấy làm lạ, nhưng biết đâu gọt tóc mặc áo vải là vẻ hòa thượng phương Bắc. Khi đã ngồi yên, pha trà mời uổng, người hầu của Xuân cầm cái tên đứng đằng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu Quốc Tuấn chảy máu ra, sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không thay đổi. Khi về Sài Xuân tiễn ra đến cửa”31Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 51. Những cuộc tiếp sứ nhà Nguyên khiến triều đình Đại Việt hết sức vất vả. Một đoàn đi sứ mà có đến hàng nghìn quân hộ tống mà triều đình Đại Việt phải tiếp đón đủ thấy tốn kém như thế nào.

Tháng 4 cùng năm, Trần Di Ái trở về nước, vì không làm tròn chức trách, không giữ được thể diện quốc gia nên ông bị nhà vua trị tội. Trần Di Ái phải đồ làm binh khao giáp ở Thiên Trường, Lê Tuân phải đồ làm Tống binh (có lẽ là đạo binh người Tống lưu vong). Sau nhiều lần các sứ đoàn nước Nguyên sang Đại Việt, ngoài mục đích ngoại giao giữa hai nước mà thực chất là do thám tình hình Đại Việt. Trong nước vua Nguyên đã dự định một cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Sử chép: tháng 8 năm 1282, “thú thần ở châu Lạng là Lương Uất tâu rằng Hữu Thừa tướng nước Nguyên là Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhuệ, nói phao là mượn đường đi đánh Chiêm Thành nhưng thực ra là đến xâm lấn nước ta”32Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 52. Cuộc chiến tranh đang đến gần.

Đến năm 1283, khi sứ Đại Việt là Hoàng Ư Linh và nội thư gia là Nguyễn Chương sang nước Nguyên đã phát hiện “Thái tử là A  Đài và bình chương là A Lạt đương họp 50 vạn binh các sứ ở Hồ Quảng, định sang xâm lấn nước ta”33Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 54.

* Trong thời kỳ kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai

Trong hơn 20 năm đấu tranh ngoại giao đầy phức tạp, các vua Trần đã thấy được mưu đồ của nhà Nguyên. Trong hai năm 1281, 1282 quan hệ bang giao giữa hai nước đã hết sức căng thẳng, lúc này, nhà Trần càng thấy được nguy cơ cuộc chiến là không tránh khỏi. Vì vậy, bề ngoài vẫn giữ quan hệ hòa hảo với nhà Nguyên nhưng trong nước nhà Trần vẫn ra sức chuẩn bị lực lượng chổng Nguyên.

Tháng 7 – 1284, vua Trần đã sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ sang hành tinh Kinh Hồ xin hoãn binh34Nguyên sử, quyển 13, Bản kỷ, tập 3a chép: “Ngày giáp thìn tháng 5 nhuận năm Chí Nguyên thứ 21 (ngày 11 -7 – 1284), quốc vương An Nam là thế tử Trần Nhật Huyên (tức Trần Thánh Tông) sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ cổng các vật như chén ngọc, binh vàng, chuỗi châu, lĩnh vàng và vượn trăng, chim cưu xanh, vải vóc”. An Nam chí lược, quyển 14 chép: “Thế tử sợ, sai Đại phu Trần Khiêm Phủ, Trần Quân đến hành tỉnh Kinh Hồ – Chiêm Thành xin hoãn binh, không cho”, dẫn lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII, sđd, tr. 180, nhằm tranh thủ thời gian đó để chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Tháng 8 cùng năm, vua Trần lại sai Trung đại phu Nguyễn Đạo Học đem sản vật đi sứ nước Nguyên. Thoát Hoan sai Lý vấn quan Quy Lê và Tuyên sứ Ta khai Xa ric đi cùng với Nguyễn Đạo Học sang Đại Việt, đưa thư của A ric Kha y a trách hỏi vua Trần, buộc phải chở lương thực đến Chiêm Thành cho quân Nguyên và phải lên đón Trấn Nam vương Thoát Hoan35Nguyên sử, quyển 209, An Nam truyện, tập 5b – 6a, dẫn lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII, sđd, tr. 181. Nếu lên đón Thoát Hoan tức là nhà Trần phải lui quân ở những nơi đã trấn giữ, điều đó là không thể xảy ra.

Khi đạo quân của Thoát Hoan tiến đến huyện Hành Sơn, tinh Hồ Nam thì thông tin cho hay, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đem quân trấn giữ các cửa ải biên giới, Thoát Hoan bèn cho người đưa thư sang đòi muợn đường Đại Việt để đi đánh Chiêm Thành nhằm thực hiện một mũi tên trúng hai đích. Nhưng Quy Lê và Ta khai Xa ric trờ về cùng với các sứ Đại Việt là Trung lượng đại phu Trần Đức Quân và Triều tán lang Trần Tự Tông, mang theo bức thư của vua Trần Thánh Tông khước từ việc cho mượn đường đi đánh Chiêm Thành: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy đường bộ đều không tiện”36Nguyên sừ, quyển 209, An Nam truyện, tập 5b – 6a, dẫn lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIV , sđd, tr. 181.

Tháng 11 – 1284, quân Thoát Hoan tiến đến Vĩnh Châu (huyện Linh Lăng, tỉnh Hồ Nam), A ric Kha y a sai Triệu Tu Kỷ viết thư cho vua Trần đòi phải mở đường, sửa soạn lương, phải đến đón Trấn Nam vương. Quân Thoát Hoan đến châu Tư Minh (huyện Nam Ninh, Quảng Tây), lại tiếp tục gửi thư cho vua Trần, nhưng sử không chép rõ nội dung thế nào. Khi tiến đến Lộc Châu (nay là huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), vua Trần Thánh Tông liền sai Nguyễn Đức Dư và Nguyễn Văn Hàn đem thư đến cho Thoát Hoan yêu cầu lui binh. Đồng thời vua Trần cũng đưa thư cho A ric Kha y a. Thoát Hoan đã giữ Nguyễn Văn Hàn lại và sai A li cùng đi với Nguyễn Đức Dư mang thư đến cho vua Trần: “Sở dĩ ta dấy quân là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam”37Nguyên sử, quyển 209, An Nam truyện, tập 6a, dẫn lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chổng xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII, sđd, tr. 181. Quân Nguyên tiến đánh ải Động Bản (tức Biên Động, huyện lỵ huyện Sơn Động) và biết được Trần Hưng Đạo đang đóng quân tại ải Nội Bàng. Quân Nguyên thận trọng không dám tiến đến Nội Bàng mà dừng lại ở thôn Biến Trú cho người đưa thư yêu cầu Hưng Đạo vương mờ đường và đón Trấn Nam vương Thoát Hoan, nhưng việc không thành. Quân Nguyên liền tiến đến ải Nội Bàng. Ở đây, Thoát Hoan lại đưa thư chiêu dụ Hưng Đạo vương nhưng cũng như lần trước, việc không thành. Chúng liền chia quân làm sáu mũi tấn công cửa ải này. Trần Quốc Tuấn lui quân về Vạn Kiếp. Ở đây, quân nhà Trần đã tập trung một lực lượng lớn. Quân Nguyên biết vậy nên đã dồn quân về Vạn Kiếp.

Khi quân Thoát Hoan và A ric Kha y a tiến đến gần Vạn Kiếp, A ric Kha y a đã đưa thư cho Nguyễn Văn Hàn, sứ của Đại Việt dã bị quân Nguyên bắt giữ trước đây, đem về cho vua Trần đòi vua Trần lui quân mở đường cho quân Nguyên đi đánh Chiêm Thành38Thư của A ric Kha y a như sau: Triều đình đem quân đi đánh Chiêm Thành, nhiều lần đưa thư cho thế tử (chi vua Trần – TG), bảo mở đường, chuẩn bj lương, không ngờ trái mệnh triều đình, để bọn Hưng Đạo vương đem quân chống lại, bắn quân ta bị thương. Để cho sinh linh An Nam chịu tai họa, chính là do nước ngươi làm ra vậy. Nay đại quân qua nước ngươi, hoàng đế truyền lệnh cho thế tử hãy nghĩ kỹ đi. Nước ngươi quy phụ đã lâu nên nghĩ đến cái đức thương yêu to lớn của hoàng đế mà lập tức ra lệnh rút lui mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nẩy cứ làm ăn sinh sổng, quân ta đi qua khổng mảy may xâm phạm. Thế tử hãy ra đón Trấn Nam vương củng bàn việc quân, nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở phủ” (Nguyên sử, quyển 209, tập 6b – 7a, dẫn lại của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỳ XIII, sđd, tr. 191).

Lê tất nhiên là điều đó không xảy ra. Ngày 6 tháng Giêng năm Ất Dậu (11 – 2 – 1285), Ô Mã Nhi tấn công vào chốt của quân nhà Trần ở Vạn Kiếp và núi Phả Lại. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thực hiện kế lui quân, bảo toàn lực lượng.

Trần Quốc Tuấn - ngoại giao nhà Trần

Trần Quốc Tuấn (ảnh minh họa)

Ngày 12 tháng Giêng (17 – 2 – 1285) quân Nguyên tiến về phía Đông Bộ Đầu đóng lại bên sông Hồng. Quân nhà Trần sau khi rút lui từ các hướng đã tập trung tổ chức một phòng tuyến ở phía Bắc sông Hồng. Chiều ngày 1 7 – 2 vua Trần muốn điều tra tình hình giặc nên đã vờ cầu hòa. Đỗ Khắc Chung đã tình nguyện xin đi. Vua Trần rất mừng. Đỗ Khắc Chung trong doanh trại giặc đã đối đáp rất thông minh, khiến Ô Mã Nhi thầm khen là giỏi. Toàn thư chép: “Ô Mã Nhi hỏi rằng’. “ Vua nước ngươi vô lễ, sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn quân thiên triều, nơi ấy to lắm”. Khắc Chung trả lời: “Chó trong nhà cắn người lạ, vì không phải chủ của nó. Do lòng trung thành tức giận, họ tự thích mực lấy, quốc vương tôi có biết đâu. Tôi là kẻ hầu gần, sao việc ấy lại không có? ” Bèn giơ cánh tay cho xem. Mã Nhi nói: “Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở ngược giáo đều đến ra mắt, mà lại chống cự mệnh lệnh? Càng con bọ ngựa chống lại bánh xe rồi sẽ ra sao? ” Khắc Chung trả lời: “Hiền tướng không theo kế sách của Hàn Tín bình nước Yên ngày xưa, đóng quân ở đầu địa giới, đưa thư tín trước, nếu không chịu hòa hiếu mới là có loi; nay ,đem quân bức nhau, tức như người ta nói “muông cùng phải đánh lại, chim cùng phải mổ lại”, huống chi là người!’’. Mã Nhi nói: “Đại quân của ta mượn đường nước ngươi để đi đánh Chiêm Thành, vua nước ngươi nếu đến gặp nhau thì bờ cõi yên ồn, không xâm phạm mảy may, nếu cứ chấp mê thì trong khoảng giây phút núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ mục”. Khi Khắc Chung ve rồi, Mã Nhi bào các tướng rằng: “Người ấy đương lúc bị uy lực áp chế mà lời nói sắc mặt vẫn tự nhiên, không hạ thấp chủ nó là Chích, không nịnh hót ta là Nghiêu, nước nó có người giỏi, chưa dễ đánh lấy được Sai người đuổi theo nhưng không kịp”39Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 57 – 58.

Ngày mồng 3 tháng Giêng (10 – 3 – 1285), quân nhà Trần giao chiến với quân Nguyên ở sông Đại Hoàng. Thấy thực lực của quân Nguyên còn mạnh nên quân nhà Trần rút lui. Trong khi đó, quân đội nhà Trần lại phải lo đối phó với cánh quân của Toa Đô từ Chiêm Thành kéo ra. Tại miền Thanh – Nghệ, Chương Hiến hầu Trần Kiện trước sức tấn công của quân Toa Đô đã hèn nhát đầu hàng giặc. Quân của Trần Quang Khải lại đang trên đường đến Nghệ An. Quân Thoát Hoan thấy vua tôi nhà Trần rút lui đã gấp rút đuổi theo. Vua Trần phải tìm kế hoãn binh nhằm ngăn chặn sự rượt đuổi của quân Nguyên. Vua Trần đã sai Trung Hiến hầu Trần Dương đến gặp Thoát Hoan xin cầu hòa và còn đem công chúa An Tư, em út của vua Trần Thánh Tông cho Thoát Hoan. Trần Dương bị Thoát Hoan giữ lại. Thiên hộ họ Ngải theo lệnh của Thoát Hoan đòi vua Trần phải đến gặp hắn. Nhưng vua Trần không đến. Thoát Hoan tiếp tục truy kích quân đội nhà Trần ráo riết hơn. Một thời gian ngắn sau, vào tháng 4 năm Ất Dậu, quân dân Đại Việt đã liên tục tấn công quân Nguyên. Kể từ thời gian đó cho đến ngày toàn thắng (ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu, tức ngày 9 – 7 – 1285), việc bang giao giữa vua Trần và các tướng nhà Nguyên đã không còn diễn ra.

Có thể thấy rõ rằng, triều đình nhà Trần trong quan hệ bang giao với nhà Nguyên đã thể hiện xuyên suốt tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc. Trong từng thời gian cụ thể mà thực hiện sách lược vừa khôn khéo, mềm dẻo vừa cương quyết, không chịu khuất phục truớc một đế chế hùng mạnh như Mông – Nguyên.

Sau thảm bại của cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, năm 1286, nhà Nguyên gửi Chiếu thư cho vua Đại Việt nhưng lời lẽ không còn hách dịch như xưa nữa mà có phần biện minh cho thất bại của mình và tỏ vẻ “quan tâm” đến nhân dân Đại Việt: “Hễ tờ chiếu thư này tới nơi ngày nào, thì bắt đầu giải tán về làng xóm hết để lo yên nghiệp làm ăn…”40Lê Tắc, An Nam chi lược, sđd, tr. 81.

* Trong thời kỳ kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ ba.

Thất bại trong cuộc chiến lần thứ hai khiến vua Nguyên không giữ được binh tĩnh. Thoát Hoan, con trai vua thoát chết trở về, tướng lão luyện là Toa Đô thì bị chết trận. Trước cảnh sụp đổ của mộng bành trướng đã khiến vua Nguyên không kiềm chế được sự tức giận liền gấp rút mở một cuộc chiến tranh tiếp theo đánh vào Đại Việt nhằm thiết lập căn cứ cho cuộc xâm lược sâu hơn về phía Nam.

Ngày 9 – 7 – 1285, cuộc chiến tranh lần thứ hai kết thúc thì ngày 21 – 8 – 1285 (tức 2 0 – 7 Âm lịch), Khu mật viện nhà Nguyên đã quyết định cử Thoát Hoan và A ric Kha y a làm Tiết chế quân đi đánh Đại Việt. Nhưng để chuẩn bị cho chu đáo, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho quân lính nghỉ ngơi lấy sức, đồng thời tăng cường bổ sung thêm quân lính.

Năm 1286, việc chuẩn bị lực lượng xâm lược Đại Việt càng được xúc tiến khẩn trương hơn. Tháng 2 Âm lịch (ngày 25 – 2 đến ngày 25 – 3 – 1286), Trần ích Tắc đã được nhà Nguyên phong làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn được phong làm Phụ nghĩa công. Tất cả những người đã hàng quân Nguyên đều được phong chức tước. Việc làm đó cho thấy, nhà Nguyên đã chuẩn bị sắp đặt một đội ngũ quan lại cho Đại Việt nếu như cuộc xâm lược thành công. Và, để từng bước thu phục nhân dân Đại Việt, Hốt Tất Liệt đã gửi tờ Chiếu kể tội vua Trần Thánh Tông đã giết Trần Di Ái và báo rằng sẽ thay thế bằng Trần ích Tắc. Đồng thời với những việc làm trên, những sứ đoàn của nhà Nguyên tiếp tục sang Đại Việt không chỉ đe dọa, uy hiếp triều đình nhà Trần mà còn bí mật do thám tình hình Đại Việt. Tháng 2 năm Bính Tuất (ngày 2 5 – 2 đến ngày 25  – 1286), Kha xa Kha y a sang Đại Việt. Tháng 6 Âm lịch, Hốt Tất Liệt lại sai Ra ma đan đi sứ Đại Việt. Và, đáp lại, nhà Trần cũng cử phái đoàn sang Nguyên nhưng đều bị nhà Nguyên giữ lại không cho về như Nguyễn Nghĩa Đoàn, Nguyễn Đức Vinh.

Trong bức thư của vua Trần Thánh Tông gửi Hốt Tất Liệt năm 1288 có đoạn: “Sau lúc đại quân rút về (sau năm 1285)…, vi thần đã đặc sai bọn thông thị đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh… đem sản vật sang cống” để biểu thị sự khôn khéo trong ứng xù ngoại giao đối với một đế chế lớn bại trận trước một nước nhỏ nhưng vẫn kiên quyết không sang chầu.

* Từ sau kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ ba đến khi nhà Nguyên sụp đổ (1289 -1368)

Lê Tắc trong An Nam chí lược cho biết từ năm 1289 (sau chiến tranh kết thúc một năm) đến năm 1339 có tới 26 đoàn sứ bộ của triều Trần sang Nguyên. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cũng cho biết là từ năm 1289 đến năm 1359 có 12 đoàn của hai nước Đại Việt và Nguyên tiến hành bang giao. Mặc dù con số nêu trên không giống nhau nhưng phần nào đó cũng thấy được mức độ bang giao giữa hai nước. Qua đó có thể thấy, nhà Nguyên mặc dù bị thất bại trong ba lần xâm lược Đại Việt, song không phải đã hoàn toàn dập tắt được mộng bành trướng, nhưng thời gian sau chiến tranh, nhà Nguyên cũng muốn yên ổn và tò ra tôn trọng Đại Việt hơn.

Về phía Đại Việt, sau kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba thắng lợi, nhằm giữ mối giao hảo với nhà Nguyên, vua Trần Nhân Tông đã liên tục cử phái đoàn đi nước Nguyên. Mùa Đông, tháng 10 năm Mậu Tý (1288), sai Đỗ Thiên Hứ (Thiên Hứ là em Khắc Chung sang sứ nước Nguyên)41Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 69.

Theo ghi chép của Phan Huy Chú, nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên nhưng về ngoại giao, bề ngoài vẫn tò thái độ kính trọng nước lớn nên ngay sau khi quân Thoát Hoan bại trận, vua Trần đã cừ phái đoàn đem sản vật sang cống “Thoát Hoan thua trận chạy về, vua sai Nghĩa Toàn và Hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh, Hữu vũ đại phu Đoàn Hải Khung và Trung thị đại phu

Đoàn Văn Ngạn, kế đem sản vật sang cống”. Nhà Nguyên đã giữ phái đoàn lại, một năm sau mới tổ chức đưa phái đoàn về. Nhà Nguyên cũng giữ mối hòa hảo với Đại Việt nên năm sau (1289) đã “sai Đề hình Lưu Đình Trực và Lễ bộ thị lang Lý Tư Diễn sang dụ và đưa sứ nước ta là bọn Thông thị đại phu Nguyễn

Nghĩa Toàn 34 người về nước”. Vua Trần “sai bọn Đàm Minh và Thông thị đại phu Chu Anh Thực đem sản vật sang Nguyên”42Phan Huy Chú, Lịch triều hiển chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 221.

Khi Thượng hoàng Trần Thánh Tông băng hà (1290), vua Trần Nhân Tông đã cử Ngô Đinh Giới sang cáo phó với nước Nguyên43Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 73. Liên tục những năm sau chiến tranh, hai nước đều cử sứ đoàn ngoại giao sang. Nội dung gồm các việc chính như đem sản vật tiến cống, cáo phó, báo việc nhường ngôi, dâng biểu tạ ơn nhân dịp lễ Vạn thọ. Trong đó, nhà Nguyên cũng không quên đòi vua Trần sang chầu, nhưng vua Trần Nhân Tông cũng như vua cha đã từ chối không sang vì lý do đương có tang44Toàn thư, quyển V, tập II, sđđ, tr. 74.

Trần Nhân Tông - ngoại giao nhà Trần

Trần Nhân Tông (ảnh minh họa)

Chuyến đi sứ của Trương Lập Đạo không đạt kết quả, Hốt Tất Liệt liền sai Lương Tằng, Thượng thư Bộ Lại đi sứ Đại Việt một lần nữa, Phó sứ là Trần Phu, giữ chức Lang trung Bộ Lại. Phái đoàn trên một nghìn người khởi hành từ Trung Quốc vào tháng 9 năm Nhâm Thìn (1292), tới Đại Việt vào tháng Giêng năm Quý Tỵ (1293) và ở lại Đại Việt 52 ngày. Riêng Trần Phu trong chuyến đi

sứ này đã sáng tác được hơn 100 bài thơ, gộp lại thành một tập Giao Châu cảo. Đoàn đi sứ Đại Việt lần này cũng sang dụ vua (Trần Nhân Tông) vào chầu. Nhưng vua Trần chối từ vì đương có bệnh. Vua sai Đào Tử Kỳ đem sản vật địa phương sang biếu. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng ghi: “Năm 1292, sai bọn Nguyễn Đại Phạp, Hà Duy Nham sang Nguyên tiến cống. Tháng 9, nhà Nguyên sai Lại bộ Thượng thư lang Lương Tằng và Lang trung Trần Phu sang dụ vào chầu”45Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 221.

Mối quan hệ bang giao giữa hai nước trong giai đoạn này được cải thiện đáng kể qua lời Tấu của vua Trần Nhân Tông ngày 4 – 3 – 1293 rằng: “Trong ngày 14 tháng 2 năm nay thấy thiên sứ là quan Lại bộ Thượng thư Lương Tằng, quan Lễ bộ Lang trung Trần Phu đệ tờ chiếu thư đến hạ quốc. Tôi kính cẩn xuất cả tông tộc và quan lại, vội vã ra đường xông hương nghênh tiếp, khi đến nơi đường đi có trải nệm, tôi ba lần hô vạn tuế và quỳ lạy, kính đem ra tuyên đọc, thấy lời tuyên chiếu nói rằng: “Tội lỗi của nước khanh đã biết tự thú nhận rồi, thì ta không trách phạt nữa”. Thánh Thiên Tử rộng lượng bao dung như thế, chúng tôi mừng rỡ, không xiết kể, lấy gì mà tỏ lòng cảm tạ trong muôn một”46Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd, tr. 146 – 147.

Năm 1293, vua nhường ngôi. Sai Đào Từ Kỳ sang Nguyên dâng biểu tạ ơn nhân dịp lễ Vạn Thọ được ban Kim sách47Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 221. Khi Trần Anh Tông lên ngôi (1293), nhà Nguyên sai sứ sang Đại Việt. Lời Chiếu của vua nhà Nguyên nhắc nhở vua Trần Anh Tông phải “giữ gìn và tôn thờ thiên oai48Lê Tắc, “Lời thánh chi của Thánh Tông Hoàng đế dụ cho An Nam quốc vương Trần Nhật Tôn trong tháng 4 năm Chí Nguyên thứ 31 (1294)”, trong An Nam chí lược, sđd, tr. 82. Đáp lễ, vua Trần đã sai một phái đoàn gồm Trần Khắc Dụng và Phạm Thào sang Nguyên49Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 221.

Dưới thời vua Trần Anh Tông (ở ngôi 1293 – 1314), trong thời gian trị vì (21 năm) nhà vua và triều đình đã nhiều lần đón tiếp sứ nhà Nguyên và cũng nhiều lần cử sứ đoàn sang nước Nguyên. Đó là vào các năm 1293, 1295, 1299, 1306, 1308, nhưng không chép rõ nội dung ra sao. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã thống kê các sự kiện liên quan đến việc đi sứ này: Năm 1299, sai Nhữ Lâm sang Nguyên, năm 1306, sai Hàn lâm học sĩ Lê Tôn Nguyên và Trung thị đại phu Bùi Mộc Đạc sang thăm nhà Nguyên, năm 1308, sứ nhà Nguyên là Thượng thư An Lỗ Uy sang báo việc lên ngôi (của Vũ Tông). Vua sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên. Năm 1313, vua nhường ngôi cho hoàng thái tử Mạnh. Mạnh lên ngôi Hoàng đế đồi niên hiệu là Đại Khánh năm thứ nhất50Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 113-114. Sứ nhà Nguyên sang làm lễ tuyên đọc quốc thư, ban yến. Vua Trần mặc áo tràng vạt bằng là màu vàng, đội mũ có thao, sứ giả khen là “nhẹ nhõm như người thần tiên, có phải không?” Sứ nước ta trả lời rằng: “Đúng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong thái cả nước vậy”. Sau đó vua sai Nguyễn Trung Ngạn và Phạm Mại sang nước Nguyên đáp lễ51Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 114.

Trong thời trị vì của vua Minh Tông quan hệ ngoại giao giữa hai nước chủ yếu là việc nước Nguyên sang báo việc lên ngôi và Đại Việt sang mừng. Sách Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Năm 1321, sai sứ sang Nguyên mừng lên ngôi”52Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 221. Toàn thư cũng chép: “Mùa Đông, tháng 12 (1321), sai sứ sang nhà Nguyên mừng Anh Tôn lên ngôi”53Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 124.

Có lần sứ nhà Nguyên sang Đại Việt báo việc lên ngôi nhưng tỏ ra rất ngạo mạn không tuân theo quy định của Đại Việt “Năm 1324, nhà Nguyên sai bọn Thượng thư Mã Hợp Mưu và Dương Tông Thụy sang báo việc lên ngôi và cho một quyển lịch. Vua sai Mạc Đĩnh Chi sang mừng”54Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 222; Cương mục, tập I, sđđ, tr. 595.

Tiếc rằng, các sách sử của nước ta chi chép sự kiện sứ nhà Nguyên sang nước ta, đi lại rất ngông nghênh mà chép quá sơ sài lần đi sứ này của Mạc Đĩnh Chi nên không thể kể rõ sự việc. Toàn thư chép: “Năm Giáp Tý (1324), tháng 4… Vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu và Dương Tông Thụy sang báo việc lên ngôi và cho một quyển lịch. Bọn Hợp Mưu cưỡi ngựa đến tận đường ở cầu Tây Thấu trì không xuống. Những người biết nói tiếng Hán vâng chỉ đến tiếp chuyện, từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, vẻ giận càng hăng. Vua sai Thị ngự sử Nguyễn Trung Ngạn ra đón. Trung Ngạn lấy lời lẽ bẻ lại, Hợp Mưu không cãi được, phải xuống ngựa, bưng tờ chiếu đi bộ”55Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 127. Và, không có một dòng nào chép về việc Mạc Đĩnh Chi đi sứ. Sách Cương mục, Đại Việt sử ký tiền biên đã bổ sung thêm chi tiết đó: “Bọn Hợp Mưu trở về vua sai Mạc Đĩnh Chi sang chúc mừng”56Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997, tr. 424; Cương mục, tập I, sđd, tr. 595.

Chính sử của triều Nguyên ghi lại như sau: “Năm thứ nhất niên hiệu Thái Định (1324), Thế tử Trần Nhật Khoáng (tức vua Trần Minh Tông) sai bề tôi là bọn Mạc Tiết Phu đến tiến cống”57Nguyên sử, quyển 209, Nhị thập ngũ sử, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, Thượng Hải thu điếm, 1988, tr. 539. Dần theo tư liệu của ThS. Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học). Và, tiếng tăm của lần đi sứ lần trước đã khiến cho chuyến đi sứ lần này của Mạc Đĩnh Chi được các sử thần triều Nguyên trân trọng ghi chép trong chính sử Trung Quốc…58Xem thêm: Nguyễn Hữu Tâm, Mạc Đĩnh Chi vói hai lần đi sứ, bản thảo

Trong thời gian tiếp theo, nội dung bang giao giữa hai nước cũng chủ yếu là những thông báo mang tính chất nghi lễ lên ngôi và chúc mừng. Ví dụ: nhà Nguyên sai Lại bộ Thượng thư Tát Chí Ngõa sang báo việc lên ngôi. Vua sai Đoàn Tử Trinh sang cống và mừng lên ngôi59Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 222.

Năm 1345, Toàn thư chép sự kiện sứ nhà Nguyên là Vương Sĩ Hành sang hỏi về việc cột đồng. Vua Trần đã sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên để biện bạch60Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 150.

Trần Anh Tông

Trần Anh Tông (ảnh minh họa)

Thời gian này, ở nước Nguyên giặc cướp nổi lên khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó, nhà Nguyên phải lo dẹp loạn nên việc bang giao chi mang tính chất nghi lễ, không còn khả năng vừa dùng ngoại giao vừa thăm dò và thám thính Đại Việt như trước. Năm 1355, Chu Đức Dụ nước Nguyên xưng Hoàng đế (tức Minh Thái Tổ), sau đổi là Nguyên Chương. Năm 1359, Trần Hữu Lượng dấy quân đến lúc này đã được 4 năm, khiến nhà Minh tìm mọi cách đối phó, trong đó có cử sứ đoàn sang Đại Việt. Vua Trần cũng cử phái đoàn sang thông hiếu. Toàn thư chép: “Năm Kỷ Hợi (1359), nhà Minh sai sú sang thông hiếu. Bấy giờ vua Minh cầm cự nhau với Trần Hữu Lượng, chưa phân được thua. Vua sai Lê Kính Phu sang sứ phương Bắc để xem hư thực thế nào” 61Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 162; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 222.

Nhưng cuộc chiến của Minh Thái Tổ với Trần Hữu Lượng vẫn chưa phân thắng bại nên nhà Minh yêu cầu Đại Việt cung ứng quân lương nhưng đã bị vua Đại Việt khước từ. Sử chép: Năm 1361, Minh Thái Tổ đánh Giang Châu, Trần Hữu Lượng lui về giữ Vũ Xương. Minh Thái Tổ sai người sang Đại Việt yêu cầu cung cấp quân cứu viện nhưng vua Trần đã từ chối.

Năm 1367, nhà Nguyên sụp đổ. Mối quan hệ giữa Đại Việt với đế quốc Mông – Nguyên kết thúc. Từ đây Đại Việt chuyển sang thời kỳ quan hệ với nhà Minh.

* Quan hệ giữa Đại Việt và nhà Minh

Năm 1368, sau khi lên ngôi hoàng đế ờ Kim Làng, cũng như các triều đại trước, vua Minh đã cử Dịch Tế Dân sang Đại Việt báo việc lên ngôi. Nhà Trần cũng cử sứ đoàn do Đào Văn Đích sang đáp lễ. Sử chép: Tháng 4 năm 1368, “Minh Thái Tổ lên ngôi, sai Dịch Tế Dân sang thăm nước ta. Mùa Thu, tháng 8, sai Thị lang Lễ bộ là Đào Văn Đích sang nước Minh đáp lễ”62Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 162; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, mục Bang giao chí, sđd, tr. 222.

Năm 1370, khi Dương Nhật Lễ tiếm ngôi, vua nước Minh thân làm bài chúc văn nhưng chi sai đạo sĩ Triều Thiên cung là Diêm Nguyên Phục đem lễ trâu và lụa đến tế thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô. Khi Diêm Nguyên Phục đến quốc đô nước ta, làm lễ tế xong, khắc chữ vào đá để ghi việc làm, rồi từ biệt về nước63Toàn thư, quyển V III, tập II, sđd, tr. 172 – 173. Thiết lập vương triều không được bao lâu, quân Minh xúc tiến cuộc bành trướng về phía Nam, trong đó có Đại Việt. Năm 1384, người Minh bắt đầu tiến đánh Vân Nam, đã sai Dương Bàn, Hứa Nguyên sang đòi nước Đại Việt phải cung cấp lương thực cho quân đội của họ đóng ở Lâm An và họ không chỉ đòi hỏi một lần mà năm sau (1385) lại yêu cầu Đại Việt cung cấp 20 nhà sư và năm sau nữa (1386) nước Minh sai Lâm Bột sang yêu cầu cung cấp cho các giống cây cau, vải, mít, nhãn. Liền sau đó lại sai cẩm y vệ xá nhân Lý Anh sang đòi lấy 50 con voi đưa đến Vân Nam và muốn mượn đường đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực chất là nhằm tìm hiểu tình thế nước Đại Việt. Có lần nhà Minh đánh người Man ở Long Châu và Phụng Nghi (Quảng Tây) đã yêu cầu Đại Việt giúp 5 vạn quân, 50 con voi, 50 vạn hộc lương lấy cớ là gạo lương không đủ nhưng thực chất là để bắt người nước ta. Để tạm yên mạn Bắc, Đại Việt đã đáp ứng những yêu cầu trên, dĩ nhiên là không đầy đủ. Sử chép nhiều sự kiện về yêu sách của nhà Minh: “Năm 1385, nước Minh sai sứ sang cầu 20 tăng nhân”64Toàn thư, quyển VIII, tập II, sđd, tr. 197; “Năm 1386, nước Minh sai bọn Cẩm y vệ xá nhân Lý Anh sang nói mượn đường đánh Chiêm Thành, đòi lấy 50 con voi, từ phủ Nghệ An đặt trạm, cấp lương cò để đưa voi đến Vân Nam”65Toàn thư, quyển VIII, tập II, sđd, tr. 199.

Năm 1394, quân Minh đánh Triệu Tống Thọ ở Long Châu, nhà Minh đã sai Thượng thư Nhâm Hanh Thái, Nghiêm Chấn Trực sang chiêu dụ Đại Việt. Rồi lại sai Hình bộ Thượng thư Dương Tĩnh sang Đại Việt đòi nộp 8 vạn thạch gạo cho quân Long Châu. Hồ Quý Ly cho tải 1 vạn thạch gạo, 1 ngàn lạng vàng, 2 vạn lạng bạc, nói đường bộ đi Long Châu hiểm trở, xin cho vận lương đến Bằng Tường.

Dương Tĩnh không nghe, bắt phải tải 2 vạn thạch lương đến sông Đà Hải, sông ấy cách Long Châu nửa ngày đường. Khi quân Minh đánh xong Triệu Tống Thọ thì chúng chỉ yêu sách Đại Việt cung cấp 2 vạn thạch lương và miễn cho số vàng bạc66Minh sử, quyển 321, An Nam truyện. Dần lại của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, sđd, tr. 370. Năm 1395, nước Minh sai bọn Nhâm Hanh Thái sang xin giúp 5 vạn quân, 50 con voi, 50 vạn hộc lương tải đến địa đầu để cấp cho quân. Bấy giờ người Minh đánh người Man làm phản ở Long Châu và châu Phụng Nghi, ngầm làm kế ấy, muốn lấy cớ là gạo lương không đủ, để chộp bắt người nước ta. Hanh Thái mật báo cho ta biết. Vì thế không cho binh và voi, chỉ cấp cho một ít lương, sai quan tài đến Đồng Đăng rồi trở lại. Nước Minh lại sai sứ sang đòi tăng nhân, đàn bà xoa bóp, người bị thiến, đều cho một vài người thôi67Toàn thư, quyển VIII, tập II, sđd, tr. 216.

Minh thái tổ

Minh thái tổ

Có thể thấy, quan hệ bang giao với nhà Minh vào những năm cuối thế kỉ XIV càng về sau càng căng thẳng, nhất là trong việc tranh chấp về biên giới. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Quảng Thành tâu với vua Minh rằng: “Từ thời Nguyên đặt châu Tư Minh, sau đổi phủ tồng quản quân dân lộ Tư Minh, quản lãnh các châu huyện động trại miền Tả giang, đông đến châu Thượng Tư, nam đến cột đồng. Quân Nguyên đánh Giao Chi, cách cột đồng 100 dặm, lập trại Vĩnh Bình, phủ vạn hộ quân dân, đặt binh phòng giữ, bắt Giao Chi cung đốn quân lương. Cuối đời Nguyên loạn lạc, người Giao Chỉ đem quân đánh phá trại Vĩnh Bình, vượt qua cột đồng hơn 200 dặm, xâm đoạt 5 huyện Khâu ôn, Như Ngao, Khánh Viễn, Uyên, Thoát thuộc phủ Tư Minh. Gần đây lại nói với Nhâm Thượng thư (Hanh Thái) đặt trạm ở đất Đồng Đăng thuộc Tư Minh. Hạ thần thường đem việc ấy tâu bày và triều đình đã sai Dương Thượng thư (Tĩnh) đến nơi xem thực. Vậy xin hạ chiếu bắt An Nam phải trả lại 5 huyện ấy cho thần, vẫn lấy cột đồng làm giới. Vua Minh căm tóc nòi: “Man di tranh đất của nhau, từ xưa vẫn có, nó cứ ngoan bướng tất phải chịu vạ”, và sai Lữ Nhượng, Trần Thành đòi đất”68Minh sử, quyển 321, An Nam truyện. Dan lại của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, sđd, tr. 370.

Tóm lại, nhà Minh tìm hết cớ này đến cớ khác để gây chiến tranh với Đại Việt. Quan hệ giữa Đại Việt và nhà Minh hồi cuối thế kỷ XIV không mấy hòa bình. Khi triều Hồ được thiết lập thì nhà Minh đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và năm 1407, triều Hồ đã để mất nước về tay nhà Minh.

* Quan hệ giữa Đại Việt và Champa

Champa còn có những tên gọi khác như Chiêm Thành, Chiêm. Sử cũ thường gọi là Chiêm Thành69Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 48. Trong mối bang giao lúc bấy giờ, Champa thường chịu sự thần phục Đại Việt và thường mang sản vật sang tiến cống. Tuy nhiên không phải lúc nào mối quan hệ bang giao này cũng diễn ra trong hòa bình và không phải lúc nào Champa cũng thần phục Đại Việt một cách tuyệt đối.

Dưới triều Trần Thái Tông, mặc dù Champa thần phục Đại Việt nhưng lại vẫn tổ chức sang cướp phá đòi lại đất cũ đã mất từ thời Lý. Điều đó khiến cho vị vua đầu triều Trần – Trần Thái Tông rất tức giận. Năm Nhâm Tý (1252), nhà vua điều động quân đội rồi tự làm tướng cùng quân lính tiến đánh Champa. Trận ra quân này, Đại Việt giành thắng lợi vẻ vang, bắt được vợ vua nước Champa là Bố Da La và các thần thiếp cùng nhân dân rất nhiều.

Năm 1279, “Nước Chiêm Thành sai Chế Năng và Chế Diệp sang cống. Bọn Chế Năng xin ở lại làm nội thần vua (Trần Nhân Tông – TG) không chịu”70Những đoạn trích dẫn, chúng tôi để nguyên là Chiêm Thành. Tháng 2 năm 1282, nước Champa sai Bố Bà La cùng một trăm người sang dâng voi trắng. Nhưng sự hiện diện của đế chế phương Bắc đã có tác động đến quan hệ giữa hai nước Đại Việt và Champa. Nhân dân hai nước trước sức tấn công, xâm lược của đế chế Nguyên đã sát cánh cùng nhau chống quân xâm lược, bảo vệ độc lập của đất nước. Đầu năm 1280, để chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ hai, trong chiến lược của vua Nguyên, đánh chiếm Champa làm gọng kìm tấn công Đại Việt tò phía Nam. Hốt Tất Liệt đã sai Tả thừa Toa Đô đi chiêu dụ Champa và các nước hải đảo. Để mong giữ vững hòa bình, tháng 3 năm 1280, vua Champa sai sứ cống các phương vật nhưng đến tháng 12 năm 1280, vua Nguyên lại sai Giáo Hóa Đích, Mạnh Khánh Nguyên sang dụ vua nước Chiêm cho con em hoặc đại thần sang chầu. Tiến thêm một bước, năm 1281, vua Nguyên lập Hành trung thư tinh Champa. Cừ Toa Đô là Hữu thừa, Lưu Thâm làm Tả thừa và huy động 100 thuyền biển, một vạn quân cũ mới và thủy thủ, chuẩn bị cho cuộc chinh phạt các nước hải đào vào năm 1282. Vua Nguyên còn yêu cầu Champa cung cấp quân đội và lương thực cho đội quân này, đồng thời vua Nguyên cũng yêu cầu Đại Việt cấp quân và lương cho Hành tinh Chiêm Thành. Nhưng, Đại Việt đã phản kháng và Champa cũng vậy. Năm 1282, Champa tiến hành bắt giữ thuyền các sứ bộ nhà Nguyên đi Xiêm và Mâbar. Sự việc này trở thành lý do, Hốt Tất Liệt rất tức giận, liền sai Toa Đô tiến đánh Champa. Trước khi xuất quân, Hốt Tất Liệt sai sứ sang Đại Việt yêu cầu mượn đường tiến quân, giúp quân và lương thực.

Nhưng vua Trần Nhân Tông đã cự tuyệt nên quân Toa Đô phải đi theo đường biển. Cuối năm 1282, đội quân Toa Đô gồm 5.000 quân, 100 thuyền biển, 250 thuyền chiến xuất phát từ Quảng Châu tiến thẳng đến cảng Thanh Chiêm (tức cửa Quy Nhơn). Quân Champa do vua Indravarman huy động nhân dân dựng thành gỗ, bốn mặt khoảng 20 dặm, đặt hơn 300 cỗ súng hồi hồi ba ngòi, phía Tây thành gỗ chừng 10 dặm lại dựng hành cung. Vua Champa đóng quân ở đó để kịp ứng viện. Toa Đô bảy lần cử sứ giả đến chiêu dụ vua Champa nhưng vua Champa kiên quyết không đầu hàng. Toa Đô còn nhờ sứ Chân Lạp là Tốc Lỗ Man (Sulaymân) cùng với sứ Nguyên đến dụ lần nữa nhung vua Champa trả lời trong thư hẹn ngày quyết đánh. Nửa đêm ngày 13 – 2 – 1283, mờ màn trận tấn công quân Champa. Kết quả, ngày 19 – 3 – 1283, sau trận đánh lớn xảy ra cách thành gỗ của nước Chiêm 20 dặm quân Toa Đô thất bại nặng nề, phải liều chết mới thoát được vòng vây, chạy về doanh trại71Nguyên sử, An Nam truyện, dẫn theo Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, In lần thứ hai, sđd, tr. 301.

Trước tình thế nguy nan, Hốt Tất Liệt sai Kinh hồ hành tình là A Lý Hải Nha tiếp tục yêu cầu Đại Việt cho mượn đường tiến quân và cung cấp lương thực và quân đội cho quân Nguyên. Nhưng Đại Việt đã kiên quyết từ chối vì rằng Champa trong quan hệ với Đại Việt đang tốt đẹp, không có lý do gì để giúp quân Nguyên tiến đánh. Những lý do từ chối của vua Trần tỏ rõ sự cương quyết.

Trong thư của vua Trần có đoạn: “Chiêm Thành thờ tiểu quốc đã lâu ngày, cha tôi lấy đức mà vỗ về, đến chúng tôi cũng nối chí cha. Từ khi cha tôi quy thuận thiên triều kể đã 30 năm, giáo gươm không dùng đến nữa, quân lính đổi làm dân đinh… Còn việc giúp lương, nước tôi ở địa thế gần biển, ngũ cốc sinh sàn không nhiều. Từ ngày đại quân đi rồi (tức quân Mông Cổ xâm lược nước ta lần thứ nhất – TG.), trăm họ lưu vong, lại thêm lụt lội, hạn hán, sáng no, chiều đói, ngày chạy ăn không kịp…”72Nguyên sử, An Nam truyện, dẫn theo Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, sđd, tr. 301. Quyết định của triều đình Thăng Long không giúp quân đội, lương thực cho quân Nguyên thể hiện hành động cùng vai sát cánh, hỗ trợ cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên của nhân dân Champa. Do không tiến quân theo đường bộ lại gặp những bất trắc trong nước nên đội quân tiếp viện mãi đến ngày 2 – 4 – 1284 do Hốt Đô Hồ và Ô Mã Nhi đem 2 vạn quân và binh thuyền đi Champa, nhưng khi tới cảng Thu Mi Liên (cửa Thi Nại) thỉ doanh trại của Toa Đô đã cháy rụi, hóa ra quân Toa Đô đã rút lui. Trong khi đỏ, quân Toa Đô đã lui về phía Bắc chiếm lấy đất Ô – Lý, Việt Lý gần Đại Việt đóng quân, cho binh sĩ cày ruộng, tích trữ lương thực nuôi ý đồ tạo thành một gọng kìm tấn công Đại Việt từ phía Nam. Nêu ra sự kiện đó để thấy được tình hữu hảo, cùng vai sát cánh giữa hai nước Đại Việt và Champa trong thời kỳ này.

Từ năm Giáp Thân (1284) đến năm Mậu Tý (1288), ba nước Đại Việt, Champa, Chân Lạp đều bị lôi cuốn vào cuộc xâm lược của quân Mông – Nguyên nên việc bang giao giữa hai nước Đại Việt – Champa tập trung vào cuộc kháng chiến.

Năm 1285, Jaya Simhavarman m (tức Chế Mân) lên nối ngôi, Chế Mân tỏ thái độ cương quyết chống quân Mông – Nguyên.Nhưng Chế Mân là ông vua khá đa tình. Năm 1301 Thượng hoàng Trần Nhân Tông rời Yên Tử đi chơi các địa phương trong đó có Champa. Trong dịp này, Thượng hoàng hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân và Chế Mân đã nhận lời và đòi cưới Huyền Trân công chúa bằng được, ông đã dâng nhiều sính lễ, trong đó có vùng đất thuộc hai châu Ồ, Lý. Sử chép: tháng 2 năm 1305 “Chế Bồ Đài và bộ đàng hơn trăm người đem vàng bạc, hương quý, vật lạ để dâng làm lễ vật cầu hôn. Các quan triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc vương Đạo Tái chủ trương là nên và Trần Khắc Chung tán thành, việc bàn mới quyết”73Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 100.

Đế chế Champa

Đế chế Champa (ảnh minh họa)

Năm 1306, hai châu ô , Lý của Champa đã thuộc về Đại Việt. Bằng chính sách hữu hảo với Champa của vua Trần Nhân Tông mà lãnh thổ Đại Việt được mở rộng bằng con đường hòa bình với sính lễ hai châu. Năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa (tức vùng đất phía Nam tinh Quàng Trị đến Bắc tỉnh Quảng Nam ngày nay). Nhưng chẳng được bao lâu sau sự kiện đó thì Chế Mân qua đời (1307), con trai là Chế Chí lên nối ngôi.

Ngay khi nghe tin hai châu ấy đã mất về Đại Việt, dân ở La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng phản đối gay gắt. Vua Trần Anh Tông sai Đoàn Nhữ Hài đi an ủi họ rồi chọn người tài giỏi ở trong những làng đó làm quan, cấp cho ruộng đất và tha thuế ba năm. Nhưng điều đó vẫn không làm cho dân chúng ở đó nguôi ngoai. Họ tiếp tục nổi loạn đòi lấy lại hai châu đã mất. Tháng 12 năm 1311, đích thân vua Trần Anh Tông cầm quân đi đánh Champa vì vua nước ấy làm phản. Đến tháng 5 năm 1312, bắt được vua Chế Chí đem về Đại Việt. Trận này vua quan Đại Việt thực hiện đúng mưu kế nên “không mất một mũi tên mà bình được Chiêm Thành”74Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 110.

Ngay sau đó, Champa bị quân Xiêm tấn công, Đại Việt đã đem quân sang cứu, Đỗ Thiên Hứ được vua Trần Anh Tông cử đi kinh lược Nghệ An và Lâm Bình để sang cứu Champa75Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 113.

Năm 1314, Chế Năng dấy binh lấy lại hai châu Thuận, Hóa về Champa. Được 5 năm, đến năm 1318, quân Đại Việt dưới sự điều khiển của Huệ Võ vương Trần Quốc Chân (tức Trần Quốc Chẩn, anh của Huyền Trân công chúa – TG) và tướng quân Phạm Ngũ Lão đem quân đi đánh Champa. Chế Năng bị thua phải chạy trốn sang nước Qua Oa (tức Trảo Oa, Chà Và – TG)76Phù lang Trương Bá Quát, Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam,Tập san Sử – Địa, số 19 – 20, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn, 1970, tr. 80. Việc này không thấy ghi chép trong Toàn thư nhưng có nhắc lại việc Chế Năng bị thua phải chạy sang nước Trảo Oa (Java) vào năm 1326, trong lần cử Huệ Võ vương Đại Niên đi đánh Chiêm Thành. Chế A Nan, tướng chỉ huy quân đội lên ngôi vua.

Sau khi lên ngôi, Chế A Nan liền sai người sang nước Nguyên cống sứ và yêu cầu cứu viện và được vua Nguyên chấp thuận. Tình hình Champa tạm yên trong khoảng thời gian từ 1318 – 1325. Có thời gian, Champa sao nhãng việc tiến cống, liền bị vua Trần sai sứ sang hỏi tội “Tháng 2 năm 1346, sai Phạm Nguyên Hằng sang sứ Chiêm Thành, trách hỏi về việc thiếu lễ triều cống hàng năm”. Tiếp thu sự trách hỏi của Đại Việt, ngay tháng 10 năm đó Champa mang lễ vật sang nhưng số lễ vật rất ít “Chiêm Thành sai sứ sang cống, lễ vật rất ít”77Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 151. Đây là dấu hiệu Champa lại chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Mặc dầu vậy, khi Champa cần viện binh thì không ai khác vẫn chính là Đại Việt giúp đỡ. Chế Mỗ, con trai của vua Chế A Nan bị Tể tướng Trà Hòa Bố Để đuổi đi, rồi tự lập làm vua. Chế Mỗ liền chạy sang Đại Việt cầu cứu đem quân tiến đánh Bố Để để lập Chế Mỗ lên làm vua. Sử chép: “Tháng 3 năm 1352, Chế Mỗ nước Chiêm Thành chạy sang nước ta, dâng voi trắng, ngựa trắng mỗi thú một con, một con kiến lớn (dài 1 thước 9 tấc) và các cống vật, xin nước ta đem quân đánh Trà Hòa Bố Để mà lập y làm quốc vương.”78Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 154.

Nhận lời giúp Chế Mỗ, Đại Việt tích cực chuẩn bị lực lượng. Ngay sau đó (tháng 3 năm 1352), nhà vua xuống Chiếu ra lệnh “cho các vương hầu đóng chiến thuyền, chế khí giới, luyện tập binh sĩ ’1. Đến tháng 6 cùng năm, đại quân cừ binh đánh Champa, nhưng không thành công do đoàn quân chuyển lương bị quân Champa ngăn chặn phải trở về. Ba tháng sau, Champa đem quân đến cướp

châu Hỏa. Quân Đại Việt đánh đuổi nhưng bị thua. Nhà Trần cử Trương Hán Siêu đem quân Thần Sách đến trấn giữ châu Hóa và ổn định được tình hình ở đó. Ồn định được một thời gian thì quân Champa lại liên tục tấn công Đại Việt. Lúc đầu là nhằm vào địa bàn gần biên giới như Dĩ Lý, châu Hóa. Cũng từ đây cho đến năm 1400, khi nhà Trần sụp đổ, quân Chiêm Thành liên tục tổ chức tấn công Đại Việt.

Vào nửa cuối thế kỷ XIV, đất nước Đại Việt luôn luôn phải đối phó với nạn quấy nhiễu, xâm lấn của quân Champa. Tính tót năm 1361 đến năm 1391 đã có tới 12 lần quân Chiêm tấn công Đại Việt từ biên giới phía Nam. Trong đó có 3 lần tiến thẳng vào kinh đô Thăng Long và một lần đến Quảng Oai, uy hiếp Thăng Long. Vua tôi nhà Trần đã nhiều lần xuất quân tiến đánh Champa nhưng vẫn chưa triệt được họa xâm lăng. Mối quan hệ Đại Việt – Champa cuối thế kỷ XIV có thể tạm tính từ 1360 đến 1400. Và, thời gian này, quan hệ giữa hai nước thực chất là những cuộc chiến tương tàn.

Tháng 3 năm 1361, quân Champa theo đường biển đến cướp ở cửa biển Dĩ Lý (Cương mục chú là cửa Lý Hòa, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) nhưng bị quân nhà Trần và dân sở tại đánh tan. Ngay sau đó, nhà Trần đã cử Phạm A Song vào cai quản Lâm Bình (tức là Dĩ Lý) với chức Tri phủ, nhằm tăng cường kiểm soát hơn nữa vùng cửa biển này.

Tháng 3 năm 1362, người Champa đến cướp của bắt người ở châu Hóa, cũng giống nhu ở Dĩ Lý, ngay sau đó nhà Trần cử Đỗ Từ Bình đi tuyển thêm quân ở châu Hóa và tăng cường sửa chữa, tu bổ thành Hóa châu cho vững chắc79Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 164 – 165.

Tháng 2 năm 1368, Champa sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất Hóa châu.Năm 1369, Chế Bồng Nga sai sứ sang Minh dâng lễ vật và yêu cầu Chu Nguyên Chương công nhận hợp pháp Chế Bồng Nga là vua Champa.

Sau đó, năm 1371, mẹ của Dương Nhật Lễ đang trốn ở Champa đã xúi giục quân Chiêm tấn công Đại Việt. Chế Bồng Nga dựa vào uy thế của nhà Minh kèm theo lý do xúi giục của mẹ Dương Nhật Lễ liền tổ chức cuộc tấn công quy mô vào Đại Việt. Quân Champa vào Thăng Long đốt trụi cung điện, đồ thư, cướp bóc con gái, đồ vật quý đem về. Vua Trần phải lánh nạn sang Đông Ngàn. Từ đây, tình hình trong nước thêm nhiều phức tạp80Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 179.

Chế Bồng Nga

Chế Bồng Nga

Nhà Trần cũng tích cực chuẩn bị cho cuộc tấn công đánh trả quân Champa, năm 1372 vua Trần đã lấy Đỗ Từ Bình làm Hành khiển tham mun quân sự và sửa soạn binh lương. Từ năm 1384, người Minh bắt đầu đánh chiếm Vân Nam, để nhằm cung cấp lương thực và quân nhu, người Minh yêu sách Đại Việt khá nhiều, ví dụ yêu cầu cung cấp lương thực, tăng nhân, các giống cây trồng… Vì vậy, thời gian này Đại Việt một mặt phải lo đối phó với những yêu sách của người Minh, mặt khác phải lo cuộc chiến ở phía Nam có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nên từ năm 1384 đến 1389 không thấy sử chép đến các cuộc chiến giữa Đại Việt và Champa.

Năm 1390, quân Đại Việt do Thượng tướng Trần Khát Chân tấn công Chế Bồng Nga trên sông Hải Triều (tức sông Luộc). Chế Bồng Nga, người luôn thúc đẩy các cuộc tấn công Đại Việt trúng đạn chết. Quân Champa thấy vậy, lập tức lui quân. La Khải về đến Chiêm Thành tự xưng vương. Hai người con trai của Chế Bồng Nga phải trốn sang Đại Việt. Đại Việt lấy lại được các vùng đất thuộc Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam. Sau khi Chế Bồng Nga mất, quân Champa không dám tấn công Đại Việt nữa.

Mùa Xuân, tháng 2 năm 1391, Hồ Quý Ly đem quân đi tuần châu Hóa, xét định quân ngũ. Sửa xây thành trì, ổn định tình hình ở châu Hóa.

* Quan hệ ngoại giao Đại Việt với các nước khác

Thế kỷ XIII – XIV, ngoài Trung Quốc và Champa là những nước có quan hệ thường xuyên và gần gũi thì Đại Việt còn có quan hệ ngoại giao với một số nước khác. Nhưng do khan hiếm về tư liệu nên sử cũ chỉ cho chúng ta biết được chi tiết một số nước như Trảo Oa – Trà Oa (tức Java), Ai Lao, La Hồi, Sách Mã Tích sang Đại Việt nhưng những hoạt động này thường được kết hợp giữa hai vấn đề ngoại giao đi liền với hoạt động ngoại thương. Lái buôn các nước đó đến Đại Việt thường dâng các sản vật địa phương quý, lạ lên vua Đại Việt. Đây cũng là điểm tương đồng của các quốc gia trong khu vực thời kỳ này. Có thể dẫn các sự kiện được ghi vắn tắt trong chính sử về vấn đề này.

– Nước La Hồi (Lộ Hạc, Lộ Lạc, La Hộc, Locac, Lopburi (Lavo)): “Tháng 2 năm 1305, nước La Hồi sai người dâng vải liễn la và các thứ”81Toàn thư, quyển VI, tập II, sđd, tr. 101. Theo GS. Trần Quốc Vượng thi Lộ Hạc thời Trần và Lộ Lạc thời Lý hẳn chỉ là một, Yamatomo Tatsuro (Sơn Bản Đạt Lang) đã đoán định: “Lộ Lạc và Lộ Hạc đúng là La Hộc chép ờ Tổng hội yếu (phiên di) mục Chiêm Thành, Chư phiên chí mục Chân Lạp, Tống sử (quyển 49), Văn hiến thông khảo (quyển 332) mục Đan mi lưu và Đào di chì lược và cũng là Locac chép trong sách Marco Polo, La Hộc tương đương với vùng hạ lưu sông Mê Nam, điều đó không nghi ngờ gì nữa. Từ trước đến nay, các học giả đều chi định nó là Lopburi (Lavo). Xem Annam no bceki ko Undon, Tohô ga ku bô IX, trang 280. Phía Bắc nước La Hộc là nước Xiêm, đến đời Nguyên, khoảng niên hiệu Chí Chính (1341 – 1363), hai nước đó hợp làm một mới gọi là Xiêm La. Chắc các sử gia thời sau tường nhầm rằng Xiêm trước thế kỷ XIV cũng là Xiêm La. Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến.

– Nước Sách Mã Tích: có lần sứ của nước Sách Mã Tích (?) sang cống Đại Việt82Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 137 và chỉ có Trần Nhật Duật dịch được tiếng của họ. Nhưng tiếc rằng, không biết nay là nước nào.

– Nước Trảo Oa – Trà Oa (tức Java của Indonesia ngày nay) sử cũ chép đến ba sự kiện vào các năm 1349, 1360, 1394. “Năm 1349, sang cống sản vật địa phương và chim vẹt đỏ biết nói83Toàn thư, quyển VII, tập II, sđd, tr. 152; “Tháng 10 năm 1360, dâng các vật lạ”; “Năm 1394 mùa đông, tháng giêng, dâng ngựa lạ”84Toàn thư, quyển VIII, tập II, sđd, tr. 194. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like