Sự hình thành triều đại nhà Trần

by Moc Lam Quan

Tháng 12 năm Ất Dậu (1 – 1226), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh cũng là thời điểm kết thúc vai trò của vương triều Lý, mở đầu cho thời kỳ thống trị của vương triều Trần.

Hình thành cát cứ Nhà Lý suy vong, nhà Trần hưng khởi

Những rối loạn về chính trị, biến động về xã hội xảy ra dưới triều Lý Cao Tông như vừa nêu trên đã mau chóng chuyển thành sự hỗn loạn lớn về quân sự và cục diện phân tán cát cứ diễn ra rất mạnh mẽ vào cuối thời Lý.

Một bộ phận quý tộc được triều đình ban chức tước, phong cấp đất đai, được quản lĩnh quân đội và gia nô riêng đã làm chủ các thái ấp của mình hoặc trấn trị các địa phương xa xôi. Ở các địa phương lại có một số hào trường thuộc các cự tộc. Họ không được triều đình ban tước, phong cấp đất đai nhưng thực sự họ đã nắm quyền hành lớn ở các địa phương của mình. Nhân cơ hội chính quyền trung ương suy yếu, họ đã nổi dậy đánh chiếm các vùng xung quanh. Lấy danh nghĩa chống lại triều đình, họ đã tập hợp được một lực lượng quần chúng khá lớn hình thành nên những thế lực cát cứ địa phương lớn nhỏ khác nhau. Những thế lực cát cứ địa phương này đã đánh lẫn nhau gây thành cuộc hỗn chiến lớn kéo dài hàng mấy thập kỳ liền ở đầu thế kỷ XIII.

Cuộc hỗn chiến giữa các thế lực cát cứ diễn ra bắt đầu từ cuộc tranh chấp xung đột giữa hai phe phái của triều đình nhà Lý là Phạm Du và Phạm Binh Di. Vào năm 1208, sau một vụ đói lớn” người chết nằm chồng chất lên nhau”, Phạm Du được vua Lý cử đi coi việc quân ở châu Nghệ An, lợi dụng tình hình xã hội loạn lạc, đói kém, chỉ còn lại những người phá sản lưu vong, Phạm Du tâu về triều đình xin cho tuyển chọn những trai tráng trong số dân lưu tán tập hợp thành đội ngũ gọi là “hậu nhân” (người do thám) đi cướp phá khắp nơi. Từ Nghệ An, Phạm Du đem quân về hương Cổ Miệt (Hưng Yên) thuộc châu Hồng liên kết với thế lực của Đoàn Thượng và Đoàn Chù.

Năm sau, tháng giêng năm Kỷ Tỵ (1209), triều đình nhà Lý đã phải cử Phạm Bình Di đem quân đi đánh Phạm Du. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng Phạm Binh Di đã cho tịch thu gia sản của Phạm Du đem đốt hết. Từ đây, mâu thuẫn giữa Phạm Du và Phạm Binh Di càng trở nên sâu sắc.

Bị thua, Phạm Du về Thăng Long cho người dèm pha nói xấu Binh Di với vua Lý Cao Tông. Nhà vua bèn cho người triệu Binh Di vào cung, bắt giam và giết chết cả hai cha con Binh Di. Thấy vậy, tướng Quách Bốc của Binh Di đã đem quân vào triều nổi loạn.

Hỗn chiến cát cứ thực sự bắt đầu từ đây. Loạn lạc đã đến kinh thành, vua không thể yên vị, Lý Cao Tông phải cùng thân cận chạy trốn lên vùng Quy Hóa giang (miền sông Thao, Phú Thọ, Yên Bái ngày nay)1Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 359. Còn Hoàng tử Sàm thì phải lánh về thôn Lưu Gia, thuộc Hải Áp (thuộc Hưng Hà – Thái Bình ngày nay). Tại đây có họ hàng nhà Trần, ông tổ là Trần Lý, một hào trưởng có thế lực, vốn đời đời làm nghề đánh cá mà trở nên giàu có, được nhiều người trong vùng quy phục. Nhân loạn lạc, Trần Lý đã tập hợp lực lượng chiếm cứ vùng Hải Ấp. Hoàng tử Sảm khi đó còn trẻ, mới 15 tuổi, thấy người con gái thứ của Trần Lý là Trần Thị có nhan sắc liền lấy làm vợ, rồi phong cho Trần Lý tước Minh Tự, Tô Trung Từ (em mẹ, cậu người con gái ấy) chức Điện tiền chỉ huy sứ.

Nhờ có thế lực như vậy, anh em họ Trần đã đem quân đưa Hoàng tử Sảm về kinh, đẹp loạn, lập lại trật tự. Sau đó Trần Lý bị giặc cướp giết hại, quyền hành thuộc về người con trai thứ là Trần Tự Khánh. Còn Tô Trung Từ lúc này đã trở thành một thủ lĩnh quân sự mạnh ở vùng Hải Ẩp.

Đến mùa đông năm Canh Ngọ (1210), vua Lý Cao Tông mất, Hoàng tử Sảm lên nối ngôi, tức vua Lý Huệ Tông. Lý Huệ Tông lên ngôi, cho người đi đón Trần Thị về kinh lập làm Nguyên phi. Tô Trung Từ được phong làm Thái úy phụ chính và Trần Tự Khánh thì làm Chương Thành hầu.

Giữa lúc chính quyền trung ương suy yếu thì nhiều tập đoàn quân sự ở các địa phương đã dần dần hình thành và trở thành những thế lực cát cứ chống đối lẫn nhau. Trong nước lúc này có tới 3 tập đoàn cát cứ lớn trong vùng, đó là Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương), Nguyễn Nộn ở Bắc Giang và mạnh nhất là tập đoàn quân  sự cát cứ ở vùng Hải Ẩp (Thái Bình) của anh em họ Trần.

Triều đình trung ương nhà Lý lúc đó đã trở nên bất lực, không còn sức sống, khi thì dựa vào thế lực cát cứ này, khi thì dựa vào thế lực cát cứ khác, song cuối cùng cũng không tránh khỏi nguy cơ sụp đổ.

Đoàn Thượng – đứng đầu thế lực cát cứ ở Hồng Châu, vốn là người cùng vú nuôi với vua Lý Huệ Tông2Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 362. Ngay từ tháng 8, năm Đinh Mão (1207), nhân việc được vua Lý Cao Tông cử đi đánh dẹp giặc cướp nổi loạn, Đoàn Thượng đã đem binh cùng Đoàn Chủ làm phản3Việt sử lược, sđd, tr. 173. Đoàn Thượng cậy thế làm oai làm phúc, nhóm họp bè đảng, đắp thành xưng vương, cướp bóc lương dân, Lý Cao Tông đã phải phái rất nhiều quân lính đi đánh dẹp. Thấy quân của triều đình mạnh Đoàn Thượng bèn lập mưu kết với Phạm Du để đánh quân Binh Di. Khi Lý Huệ Tông lên ngôi, Đoàn Thượng đã quy phụ triều đình nhà Lý, để đánh nhau với thế lực của anh em họ Trần – đối thủ chủ yếu của Đoàn Thượng và một số thế lực khác như Phạm Vũ ở Nam Sách (Hải Dương), Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, v.v…

Vua Lý Huệ Tông

Vua Lý Huệ Tông (vị vua cuối cùng nhà Lý)

Trong thời gian đầu, địa bàn hoạt động chủ yếu của Đoàn Thượng là ở Hồng Châu4Hồng Châu thuộc vùng Bình Giang – Ninh Giang (Hải Dương, cách Nam Sách bởi con sông Thái Bình) (Hải Dương) thuộc triền sông Thái Bình. Lúc đó còn có nhiều tướng lĩnh họ Đoàn cùng hợp sức với Đoàn Thượng, như Đoàn Ma Lôi, Đoàn cấm , Đoàn Khả Như, Đoàn Tri Lỗi, Đoàn Nguyễn, Đoàn Nghi, v.v… Năm 1211, tướng lĩnh của Đoàn Thượng đem quân -đánh Phạm Vũ ở Nam Sách, sau bị Tự Khánh cho tướng là Đình Khôi đem quân đánh lại, bị thua. Cũng vào năm này, tướng của Đoàn Ma Lôi là Đinh Cảm đem quân sang vùng hữu ngạn sông Hồng lại bị quân của Tự Khánh đánh bại ở Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam). Năm 1214, tướng của Đoàn Thượng là Đoàn Cấm phối hợp với quân của triều đình chống lại quân của Trần Thủ Độ ở kinh thành, bị Trần Thủ Độ đánh thua. Sau đó tướng khác của Đoàn Thượng là Đoàn Nhuyễn đem quân đánh vào vùng núi Đông Cứu (Bắc Giang), bị Nguyễn Nộn đánh thua, giết chết Đoàn Nhuyễn. Năm 1216, một tướng nữa của Đoàn Thượng là Đoàn Ma Lôi lại tiếp tục kháng cự với quân của Trần Tự Khánh ở Quy Hóa (thuộc Yên Bái).

Những thế lực cát cứ của Đoàn Thượng vẫn còn tồn tại mãi tới những năm đầu của vương triều Trần. Đến cuối năm 1228, với sự tấn công từ hai phía của Trần Thủ Độ và Nguyễn Nộn, cuối cùng quân của Đoàn Thượng mới bị thua khi Đoàn Thượng bị Nguyễn Nộn giết và tịch thu gia sản.

Nguyễn Nộn, vốn là một cư sĩ ở chùa Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội) bị triều đình bắt vì tội bắt được vàng ngọc mà không đem dâng5Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 363. Nhưng sau vua tha cho do được Trần Tự Khánh xin, vì thấy Nộn có tài và được việc cho mình. Trần Tự Khánh cho Nộn làm tướng, gà em gái con dì và cấp cho Nộn thêm hai ấp ở Thần Khê và Cả Lũ (miền Tiên Hưng – nay là Hưng Hà, Thái Bình), rồi dùng Nộn trấn giữ vùng Bắc Giang để cùng dẹp các thế lực cát cứ khác.

Tuy hình thành muộn hơn, nhưng thế lực cát cứ của Nguyễn Nộn nhờ có sự hỗ trợ của Trần Tự Khánh nên cũng tương đối mạnh. Nguyễn Nộn đã từng cầm quân đi đánh người Man ở Quảng Oai, thắng được quân triều đình ờ Bắc Giang, giết chết được các tướng Thân Trường, Thân Cải6Việt sử lược, sđd, tr. 195. Từ khi đánh thắng được quân của Đoàn Thượng ở Bắc Giang và giết chết tướng Đoàn Nhuyễn của Đoàn Thượng thì thế lực quân sự của Nguyễn Nộn càng mạnh hơn nữa7Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 364.

Nhưng chẳng được bao lâu, Nguyễn Nộn đã quay lưng lại với Trần Tự Khánh, phát triển thế lực cát cứ độc lập của mình. Nguyễn Nộn tìm cách đứng về phía triều đình nhà Lý, tranh thủ sự ủng hộ của Thái hậu (mẹ Lý Huệ Tông). Nên có lần Nguyễn Nộn đã đem quân về gần kinh thành, đánh lại tướng Nguyễn Bát là phần tù chống đối Thái hậu. Nhưng rồi, sự liên minh giữa Nguyễn Nộn với triều đình nhà Lý cũng chỉ là tạm thời. Khi Trần Tự Khánh giảng hòa, liên kết trở lại với vua Lý, thì Lý Huệ Tông lại dùng Tự Khánh đánh lại Nguyễn Nộn. Khi triều đình nhà Lý và Trần Tụ Khánh đều chống lại Nguyễn Nộn, thì Nguyễn Nộn đã trở thành lực lượng cát cứ riêng biệt ở vùng Bắc Giang chống lại cả Đoàn Thượng, anh em nhà Trần và triều đình nhà Lý. Khi Nguyễn Nộn đánh xong Đoàn Thượng, thanh thế lẫy lừng, Trần Thủ Độ rất lo lắng đã tìm cách dụ hàng, phong cho Nộn làm Hoài Đạo Hiếu Vũ vương, đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho Nộn. Đen tháng 3, năm 1229 Nguyễn Nộn ốm chết8Toàn thư, Bản kỷ, quyển V, tập II, sđd, tr. 10; Việt sử lược chép Nguyễn Nộn chết năm 1219, có lẽ nhầm, thế lực của Nộn mới bị tan.

Thế lực họ Trần. Thế lực mạnh nhất, cuối cùng đã thắng được triều đình nhà Lý là tập đoàn cát cứ của anh em họ Trần ở vùng Hải Ẩp (Thái Bình). Tập đoàn cát cứ này đã chiếm được một vùng châu thổ rộng lớn, đó là vùng ven biển Thái Bình – một cơ sở kinh tế – xã hội vững chắc với nghề chài lưới và nông nghiệp ven biển. Ưu thế lớn mạnh nhất của tập đoàn cát cứ này là bắt đầu từ mối liên hệ chặt chẽ với vương triều Lý đang trong cơn hấp hối bằng quan hệ hôn nhân. Những tướng lĩnh quan trọng của họ Trần lúc này đều là họ hàng thân cận của Trần Thị – vợ Lý Huệ Tông – kết hôn với nhau từ thuở hàn vi loạn lạc lúc còn là Hoàng tử Sảm. Trần Lý là bố vợ, Tô Trung Từ là cậu vợ, Trần Tự Khánh là anh vợ và Trần Thủ Độ là em họ vợ. Trong cuộc hỗn chiến loạn lạc vào năm Kỷ Tỵ

(1209), anh em họ Trần đã có công phò giúp đưa Thái tử Sảm về kinh đô dẹp loạn, đón vua Cao Tông từ Quy Hóa trở về Thăng Long, rồi giúp Sảm lên ngôi. Khi Hoàng tử Sảm lên ngôi (tức Lý Huệ Tông) mới có cơ hội đưa Trần Thị về kinh thành, phong làm Nguyên phi. Tất cả mối quan hệ này đều vừa là ràng buộc vừa là sức ép thường trực bên cạnh ông vua nhu nhược của triều Lý đối với thể lực đang lên của anh em họ Trần.

Vai trò thủ lĩnh quân sự của anh em họ Trần đã thuộc về Tô Trung Từ chỉ ít lâu sau khi vua Lý Cao Tông qua đời. Trong triều đình nhà Lý, mọi quyền hành cũng đã nằm trong tay Tô Trung Từ. Nhờ thế Trung Từ đã tìm mọi cách loại dần thế lực và tay chân của họ Lý. Đỗ Kính Tu vừa được vua Lý Huệ Tông phong lên chức Thái úy thì ngay sau đó đã bị Tô Trung Từ cho dìm chết ở bến Đại Thông lấy cớ Đỗ Kính Tu mưu giết Tô Trung Từ. Trong triều đình nhà Lý có một phe đối lập với Tô Trung Từ, gồm có Đỗ Thế Quy, Đỗ Quảng, Phí Lệ, Cao Kha là những người trước mưu phế lập đưa Hoàng tử Thầm lên ngôi. Biết tin, Tô Trung Từ đem quân đánh, giết được bọn Thế Quy và đem bêu xác ở chợ Đông. Lúc này, Tô Trung Từ đã được vua Lý Huệ Tông phong là Chiêu Thảo đại sư.

Năm 1211, sau khi Lý Huệ Tông đón được Trần Thị về kinh, lập làm Nguyên phi thì Tô Trung Từ được phong làm Thái úy phụ chính. Nhưng đến tháng 6 năm 1211, đang đêm Tô Trung Từ sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị chồng công chúa là quan Nội hầu giết chết. Từ đó, thủ lĩnh của thế lực cát cứ của anh em họ Trần chuyển sang Trần Tự Khánh.

Trần Tự Khánh là một người đầy mưu mô trên trường chính trị và có vai trò rất lớn trong quá trình thúc đẩy bước đường giành ngôi cho họ Trần. Tự Khánh đã tìm cách liên kết với Nguyễn Tự – đứng đầu một thế lực mới được hình thành ở Quốc Oai. Nguyễn Tự vốn là tướng của Tô Trung Từ, bị Trung Từ nghi ngờ và tước hết binh quyền, đã chạy lên Quốc Oai ẩn nấp và sau khi có công dẹp được Sơn Lão ở ấp Than đã trở thành một thế lực cát cứ. Trần Tự Khánh tìm cách liên kết với Nguyễn Tự, thề “làm bạn sống chết có nhau, tận trung báo quốc, cùng bình họa loạn”. Hai bên chia nhau hai bờ sông lớn, mỗi người thống suất một bên để cùng hợp lực đi đánh quân của Đoàn Thượng ở Hồng Châu. Từ Thượng khối (Bắc Ninh) đến Na Ngạn (Lục Ngạn – Bắc Giang), các hương ấp dọc theo sông Đuống và đường bộ là thuộc về Tự Khánh. Từ Kinh Ngạn (bờ sông thuộc về kinh sư) đến ô Diên (Hoài Đức – Hà Nội ngày nay) là thuộc về Nguyễn Tự. Để chống lại lực lượng họ Đoàn đang lớn mạnh, Trần Tự Khánh còn liên kết cả với các lực lượng  của họ Phạm (con cháu dòng dõi Phạm Cự Lượng thời Tiền Lê) ở vùng Nam Sách (Hải Dương).

Với triều đình nhà Lý, Trần Tự Khánh luôn áp dụng chính sách mềm dẻo, khôn khéo, bên ngoài tỏ ra rất tôn phò nhà Lý để phá tan mối nghi ngờ của vua Lý cùng Thái hậu và tranh thủ sự ủng hộ của vua Lý Huệ Tông.

Về phía nhà Lý, biết lực lượng của Trần Tự Khánh đang mạnh, vua Lý không những không dám cử binh chống lại mà còn ban thêm tước hầu cho Tự Khánh, hiệu là Chương Thành9Việt sử lược chép phong tước hầu vào tháng giêng năm Nhâm Thân (1212), Toàn thư chép vào tháng 2 năm Tân Mùi (1211). Vua Lý Huệ Tông, kể từ sau vụ đem binh ra mạn Tây kinh thành đánh dẹp lực lượng của Nguyễn Cuộc (phó tướng của Nguyễn Tự) bị thua, phải bỏ kỉnh thành lánh nạn lên vùng Lạng Châu (Lạng Sơn). Tự Khánh nghe tin, đã đem quân từ Hồng Châu về kinh sư, đuổi theo xa giá năn nỉ đòi đón vua về kinh. Năm 1214, Trần Tự Khánh chỉ huy các tướng tá đem quân về Thăng Long. Lúc này còn có cả Trần Thừa và Trần Thủ Độ, lấy cớ đem quân về dẹp loạn Đoàn Thượng. Huệ Tông đã đem quân triều đình ra kháng cự, bị đánh bại, phải cùng Thái hậu lánh lên vùng Lạng Châu. Tự Khánh lại lần nữa đuổi theo, xin được đón xa giá, cắt tóc thề thốt về lòng trung thành của mình, nhưng Lý Huệ Tông vẫn không tin và càng nghi ngờ, đặc biệt là Thái hậu. Vua và Thái hậu vẫn đi Lạng Châu. Trần Tự Khánh nghe tin xa giá long đong, Ngự nữ (Trần

Thị) lâu ngày bị Thái hậu làm khổ nên vẫn đem quân đến xin đón xa giá. Nhưng Huệ Tông và nhất là Thái hậu vẫn không tin việc làm đó của Tự Khánh. Đến năm 1216, khi Lý Huệ Tông đã sắc phong cho Ngự nữ làm Thuận Trinh phu nhân rồi mà Thái hậu vẫn cho Tự Khánh là kẻ phản trắc và Thái hậu chi vào phu nhân bảo là bè đảng của giặc (Trần Tự Khánh). Thái hậu bắt vua Lý Huệ Tông đuổi phu nhân đi và thậm chí còn sai người bỏ thuốc độc vào cơm để hãm hại. Nhưng với lòng yêu thương của vua Lý Huệ Tông, Thuận Trinh phu nhân đã thoát khỏi sự hãm hại và nghi kỵ của Thái hậu. Trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, Lý Huệ Tông – ông vua ươn hèn ấy phải tìm cách hòa hoãn với Trần Tự Khánh. Khi Hoàng trưởng nữ (công chúa Thuận Thiên) ra đời thì Thuận Trinh phu nhân được vua Lý Huệ Tông phong làm Hoàng hậu và lúc này Trần Tự Khánh được cất nhắc làm Thái úy phụ chính và Trần Thừa (anh trai Trần Tự Khánh) được làm Nội thị phán thủ.

Thế là đến đây, Lý Huệ Tông đã hoàn toàn phải trông cậy vào thế lực của anh em họ Trần. Khi đã được ở vào vị trí “tin tưởng” trong triều đình nhà Lý, tháng 4 năm 1220, Trần Tự Khánh và Trần Thừa đã đem quân tiến đánh Hà Cao ở Quy Hóa10Việt sử lược, sđd, tr. 210. Trần Tự Khánh đem quân bao vây bốn phía, Hà Cao và vợ con, kế cùng phải thắt cổ tự từ. Từ đó, cả miền Thượng Lộ (Thái Nguyên – Bắc Cạn), Tam Đái giang (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) đều bình được.

Như vậy là sau 13 năm (1207 – 1220), nền thống nhất đất nước bị phá hoại nay lại được khôi phục. Triều đình nhà Lý qua bao phen hấp hối nay dần dần được cùng cố, kinh đô lại dời về Thăng Long và được hoàn thành vào tháng 8 năm 1220. Mùa xuân, tháng 2 năm 1222, các địa phương trong cả nước được chia làm 24 lộ11Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, ừ. 364 thống thuộc vào chính quyền trung ương.

Dù chính quyền trung ương cuối thời nhà Lý có được khôi phục, đời sống nhân dân trong bao năm tháng loạn ly có được trở lại bình yên, nhưng những hậu quả của cuộc nội loạn, những sự tàn phá ghê gớm về người và của khó có thể phục hồi ngay được. Niềm mong muốn của quảng đại quần chúng nhân dân là được yên ổn làm ăn, không có chiến tranh. Lúc này, vai trò của anh em họ Trần trong việc đánh dẹp các thế lực cát cứ thống nhất đất nước, khôi phục lại chính quyền trung ương, về mặt nào đó đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân – một yêu cầu khách quan của xã hội.

Trần Tự Khánh - thành lập nhà Trần

Trần Tự Khánh viên tướng cuối triều Lý ( ảnh minh họa)

Trần Tự Khánh – người có công lớn nhất trong quá trình dọn đường cho họ Trần lên ngôi từ lúc còn gian nan thì đến cuối năm 1223, đã qua đời tại nhà riêng ở Tây Phù Liệt. Đầu năm 1224, Trần Thừa được thay Trần Tự Khánh làm Phụ quốc Thái úy, Phùng Tá Chu làm Nội thị phán thủ, Thượng phẩm hầu Trần Bảo được lên tước vương. Trần Thủ Độ làm Điện tiền Chỉ huy sứ thống lĩnh các quân hộ vệ cấm đình. Trong khi đó, vua Lý Huệ Tông thì bệnh tình ngày càng tăng, do bản tính nhu nhược và trải qua một thời gian dài tinh thần quá căng thẳng đã mắc phải chứng điên “đùa múa từ sớm đến chiều không nghi, có khi thôi đùa nghịch đổ mồ hôi, nóng bức khát nước thì uống rượu ly bì, đến hôm sau mới tinh”12Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV, tập I, sđd, tr. 363. Huệ Tông lại buồn phiền vì không có con trai nối nghiệp, chi cỏ hai con gái. Con cà là Công chúa Thuận Thiên đã gả cho con trai Trần Thừa là Trần Liễu. Còn con gái thứ là Công chúa Chiêu Thánh lúc ấy mới lên 7 tuổi. Đen tháng 6 năm Ất Dậu (1225)13Việt sử lược, sđd, tr. 213, Lý Huệ Tông phải nhường ngôi cho Chiêu Thánh, lên làm Thái thượng hoàng, rồi xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo. Chiêu Thánh lên ngôi, tức Lý Chiêu Hoàng. Tuy ngôi vua đang còn ở trong tay Công chúa nhà Lý, nhưng quyền hành thực tế đã về hết anh em họ Trần, nhất là Trần Thủ Độ. Anh em họ Trần đã tìm cách sắp đặt, đưa một loạt họ hàng con cháu của mình vào giữ những chức vụ quan trọng và thân cận trong cung đình nhà Lý, đặc biệt là những chức vụ hầu hạ phục dịch vị nữ hoàng trẻ tuổi Lý Chiêu Hoàng. Như Trần Bất Cập làm Cận thị thư lục cục chi hậu, Trần Thiêm làm Chi hậu cục, Trần Cảnh (con thứ của Trần Thừa và là cháu họ Trần Thủ Độ) làm Nội thị chính thù. Lúc đó Trần Cảnh mới 8 tuổi.

Qua những việc giao tiếp hàng ngày, Chiêu Hoàng đem lòng yêu mến Trần Cảnh và nhiều lần đùa nghịch với Trần Cảnh, như té nước vào mặt, lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh, v.v… Trần Cảnh về mách với Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ đem thân thuộc vào cung cấm, sai đóng cửa thành và cửa cung lại, tuyên bố Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh. Sau đó ít lâu, Thủ Độ lại bố trí để Chiêu Hoàng triệu tập các quan vào chầu, sai bày hội lớn ở điện Thiên An, rồi thác chiếu của Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Hôm đó là vào ngày 11 tháng Chạp năm Ẩt Dậu (tóc ngày mồng 10 tháng 1 năm 1226). Chiêu Hoàng trút bỏ áo Ngự, khuyên mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế. Các quan đều lạy mừng, mở đầu cho triều đại

Vương triều Trần thành lập

Tháng 12 năm Ẩt Dậu (1 – 1226), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh cũng là thời điểm kết thúc vai trò của vương triều Lý, mở đầu cho thời kỳ thống trị của vương triều Trần. Nhưng giữa buổi giao thời, tình hình chính trị trong nước vẫn còn nhiều phức tạp, khiến triều đình phải tập trung sức lực giải quyết nhằm bình ổn tình hình xã hội và củng cố, xây dựng vương triều.

– Trấn áp các thế lực đối lập

Kinh đô Thăng Long có hai phía quan trọng là phía Đông và phía Bắc thì đều nằm dưới sự kiểm soát của hai thế lực lớn lúc đỏ là Đoàn Thượng, làm chủ vùng Hồng Châu (phía Đông); Nguyễn Nộn làm chủ vùng Bắc Giang (phía Bắc). Nhà Trần đã dùng nhiều biện pháp: quân sự, dụ dỗ và kế mỹ nhân nhằm thu phục hai thế lực này. Cuối cùng, sau một thời gian, vào tháng 3 năm 1229, Nguyễn Nộn ốm rồi chết Nhà Trần không tổn mũi tên hòn đạn mà vẫn thống nhất được thiên hạ.

– Thanh toán thể lực của quỷ tộc họ Lý

Thực tế lúc bấy giờ, một sổ quý tộc triều Lý vẫn nuôi chỉ mong lập lại vương triều. Nỗi nhớ vua cũ của người dân vẫn chưa nguôi. Nhà Trần phải tiến hành những biện pháp mang tính cương quyết. Con bài chính trị lúc này là Lý Huệ Tông, cha của Lý Chiêu Hoàng. Các quý tộc Lý rất có thể dùng Lý Huệ Tông làm ngọn cờ để tập hợp lực lượng chống lại triều Trần. Tháng 8 – 1226, chỉ sau 8 tháng khi Trần Cảnh lên ngôi, Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) chép: “Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo”14Toàn thư, quyển V, tập II, sđd, tr. 6. Hoàng hậu của nhà vua quá cố này trở thành vợ của Trần Thủ Độ. Tất cả con gái họ Lý và cung nhân đều đem gả cho các tù trưởng người Man. Những người mang họ Lý đều phải đổi sang họ Nguyễn vỉ lấy cớ kiêng húy Trần Lý, nhưng thực chất là muốn xóa sổ họ Lý.

Trần Thủ Độ ( ảnh minh họa)

Trần Thủ Độ ( ảnh minh họa)

– Củng cố mối đoàn kết trong hoàng tộc

Sau nhiều năm kết hôn, Hoàng hậu vẫn chưa có con. Năm 1237, chị dâu của nhà vua, tức vợ của Hoài vương hầu Trần Liễu đang mang thai, Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực mật mưu với vua là nên mạo nhận lấy. Ngay lập tức Hoàng hậu bị giáng làm công chúa. Chị dâu – bà công chúa Thuận Thiên được lập làm Hoàng hậu Thuận Thiên. Mất vợ về tay em trai cũng chính là vua nhà Trần, khiến cho Hoài vương hầu Trần Liễu rất tức giận, đã họp quân ở bờ sông Cái (sông Hồng) để chống lại nhà vua. Vua Trần Thái Tông thì chán nản, bỏ kinh thành lên núi Yên Tử. Hai tuần sau, tự thấy mình yếu thế, nhân lúc thuận tiện Trần Liễu đã giảng hòa với nhà vua. Mâu thuẫn nội bộ được giải quyết. Trần Liễu được ban các xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang làm ấp thang mộc và được phong làm Yên Sinh vương. Tình hình xã hội và triều chính yên ổn, nhà Trần có điều kiện củng cố vương triều và xây dựng đất nước.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm:

You may also like