Sự thành lập triều nhà Lý

Lý Công Uẩn – người sáng lập vương triều Lý

Theo nguồn tài liệu chính sử, Lý Công Uẩn – sáng lập ra vương triều Lý, là người châu cổ Pháp1Theo chú thích trong Toàn thư, từ thời Đinh về trước gọi là châu Cổ Lãm, thời Tiền Lê đến năm 995 vẫn gọi tên ấy, sau đồi là Co Phập. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi mới đổi làm phù Thiên Đức. Châu Cổ Pháp là một vùng đất rộng, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, về quê hương của Lý Công Uẩn xin xem bài: “Góp phần nhận diện lợi quê hương Lý Thái Tổ” của Nguyễn Quang Ngọc đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 (393) năm 2009. Theo nghiên cứu mới nhất được công bố của Nguyễn Quang Ngọc thì quê nội của Lý Thái Tổ là làng Đình sấm (nay là thôn Dương Lôi, phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) và quê ngoại của Lý Thái Tổ là xã Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Đây cũng là ý kiến được xới lên trong vài năm gần đây và được dư luận đồng tình., sinh vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974) thời Đinh2Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, bản dịch Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983, tr. 240 (tức ngày 8 tháng 3 năm 974). Như nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng khác, Lý Công Uẩn đã được nhân dân sùng bái và thần thánh hoá nên nguồn gốc của ông cũng bao phủ nhiều yếu tố huyền thoại, truyền thuyết và sấm ký. Chính sử ghi: mẹ Lý Công Uẩn là người “họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn3Chùa Tiêu Sơn, theo chú thích của Toàn thư tức là chùa Trường Tiêu ở xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (sđd, tr. 140) cùng với người thần giao hợp rồi có chửa”4Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240. Theo nguồn tài liệu địa phương (tại làng Dương Lôi, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) thì mẹ Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị Ngà5Xem Làng Dương Lôi với vương triều Lý, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000; và Chu Quang Trứ, “Xung quanh nhân vật Lý Công Uẩn”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 – 1999. Nay tại làng Dương Lôi vẫn còn một ngôi đền thờ bà Phạm Thị Ngà (mới được trùng tu trên nền đền thờ cũ) và dân làng nơi đây đã tôn xưng bà là “Lý triều Thánh mẫu”. Có rất nhiều dị bàn, huyền tích và truyền thuyết về người phụ nữ hiền dịu này lúc sinh thời và lúc sinh Lý Công Uẩn. Việc Lý Công Uẩn sinh cũng gắn với bao sự huyền bí mà cho đến nay lịch sử chưa giải mã hết. Đó là một người con khi sinh chi biết mẹ, không biết cha. Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn tài liệu nào nói tới thân phụ của Lý Công Uẩn. Chi sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, sách Đại Việt sử ký toàn thư mới nhắc đến việc Lý Công Uẩn cho “truy phong cha là Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu” và phong “anh làm Vũ Uy vương và chú làm Vũ Đạo vương”6Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 239. Sau đỏ, vào năm 1018, Lý Công Uẩn còn “truy phong cho bà nội làm Hậu và đặt tên thuỵ”7Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 248, rồi tiếp sau đó (năm 1026) “nhà vua còn xuống chiếu cho làm Ngọc điệp”8Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 251 (phả hệ nhà vua). Rất tiếc, gia phả của Hoàng tộc nhà Lý hiện không còn nên càng khó giải mã về điều này.

Lý Công Uẩn - Thành lập triều Lý
Lý Công Uẩn – Thành lập triều Lý (ảnh mạng)

Những căn cứ vào nguồn tài liệu chính sử nói trên thì rõ ràng Lý Công Uẩn xuất thân trong một gia đình có gốc rễ hẳn hoi. Tuy nhiên, chính sử cũng không nói gì tới vai trò của những người thân trong dòng tộc về công lao giáo dưỡng Lý Công Uẩn. Trái lại, ở đây chi thấy rõ vai trò của nhà chùa đã gắn bó mật thiết tới tiểu sử và hành trạng của Lý Công Uẩn ngay từ khi còn ấu thơ tới lúc ông đăng quang (từ năm lên 3 đến năm 35 tuổi – 1009). Thậm chí ảnh hưởng của Phật giáo còn chi phối cả cuộc đời làm vua của Lý Công Uẩn.

Chính sử ghi rõ, lúc 3 tuổi, Lý Công Uẩn được mẹ ẵm đến cho làm con nuôi của nhà sư Lý Khánh Văn9Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240 ở chùa Cổ Pháp và Lý Công Uẩn ngay “từ bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường”10Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240. Sau đó được su Vạn Hạnh ờ chùa Lục Tổ nuôi học11Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240. Sư Vạn Hạnh khen rằng: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”12Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240.

Nhờ có sự nuôi dưỡng và dạy dỗ của hai vị thiền sư nổi tiếng là Lý Khánh Vãn và Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn đã trở thành người có học vấn trong giới Phật giáo lúc bấy giờ. Ông sinh vào thời Đinh (968 – 980) và trường thành dưới thời Tiền Lê (980 – 1009) – thời kỳ Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống xã hội.

Trước khi làm vua mở nghiệp vương triều Lý, Lý Công Uẩn đã từng được cất nhắc vào làm việc trong triều đình nhà Tiền Lê tại kinh đô Hoa Lư. Dưới triều vua Lê Đại Hành, ông được cử làm Điện tiền quân, tức làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn tính mạng cho nhà vua. Khi Lê Đại Hành mất, con là Long Việt lên nối ngôi và được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết cướp ngôi. Lúc bấy giờ bầy tôi của Trung Tông (Long Việt) sợ, đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn “ôm xác mà khóc”13Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240. Lê Long Đĩnh, một người có tiếng là tàn ác, lên ngôi cũng phải khen Lý Công Uẩn là “người trung, cho làm Tứ sương quân Phó chỉ huy sứ, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ”14Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 241. Chức Phó chỉ huy sứ quân đội Tứ sương tức là phó chỉ huy quân đội bảo vệ bốn mặt kinh thành. Còn chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ là chức Tổng chỉ huy quân vệ binh của nhà vua. Ở thời Tiền Lê, đây là chức vụ khá quan trọng.

Không có tài liệu nào gắn nối thời kỳ làm quan của Lý Công Uẩn với thời kỳ ông theo học ở chùa. Nhung chắc chắn sau khi học ở chùa, ông được cất nhắc vào kinh đô Hoa Lư làm cảnh vệ cho vua Lê Đại Hành. Không rõ ông làm công việc này từ năm nào, chi biết khi Lê Đại Hành mất, Long Việt lên ngôi (1005), ông đã có mặt ở kinh đô Hoa Lư. Sử sách cũng không cho biết rõ hơn thời gian ông làm việc ở đây như thế nào, ngoài vài dòng ca tụng lòng trung quân của ông khi Lê Trung Tông bị giét và khi quần thần tung hô đưa ông lên ngôi vua.

Vào mùa đông, tháng 10, ngày Tân Hợi (tức ngày 30 tháng 1015Xem Lê Thành Lân, “về ngày đăng quang của Lý Thái Tổ” trong sách Dương Lôi với vương triều Lý, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000, tr 246, năm Kỷ Dậu – 1009), Lê Long Đĩnh, ông vua nổi tiếng là tàn ngược của nhà Tiền Lê qua đời, cơ hội ngàn năm có một đã đến với một người con của dòng họ Lý vốn “khảng khái và có chí lớn”16Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, tập I, sđd, tr. 240 là Lý Công Uẩn. Chi hai ngày sau đó, ngày Qúy Sửu17Toàn thư, Bản kỷ, quyển I, tập I, sđd, tr. 236 – ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu (tức ngày 21 – 11 – 100918Xem Lê Thành Lân, “về ngày đăng quang của Lý Thái Tổ” trong sách Dương Lôi với vương triều Lý, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000, tr 246), nhân lòng người và triều thần đã chán ghét nhà Tiền Lê, sư Vạn Hạnh cùng bầy tôi trong triều đã làm một cuộc vận động và tôn Lý Công Uẩn đang giữ một chức vụ trọng yếu trong triều đình nhà Tiền Lê (Tả thân vệ Điện tiền chi huy sứ), lên làm vua, sáng lập ra vương triều Lý (1009 – 1225).

Xung quanh việc lên ngôi của vị vua sáng lập ra vương triều Lý cũng bao phủ đầy những huyền thoại và sấm ký, phản ánh cuộc vận động chính trị của giới Phật giáo cùng các triều thần đang có xu hướng ủng hộ Lý Công Uẩn.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi về những sự huyền bí này như sau: “Trước ở viện Cảm Tuyển chùa ứng Thiên Tâm, châu cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm Thiên tử”19Toàn thư, Bản kỳ, quyển II, tập I, sđd, tr. 241 (Lý Công Uẩn sinh vào năm Giáp Tuất – 974, lên làm vua đặt niên hiệu cũng vào năm Canh Tuất – 1010). Biên niên sử còn ghi cả về sự huyền bí trên cây gạo ở hương Diên uẩn, châu

Cổ Pháp bị sét đánh để lại vết thành một bài sấm20Những chữ sét đánh trên thân cây gạo là: “Thụ căn diếu diếu, Mộc biểu thanh thanh, Hoà đao mộc lạc, Thập bát từ thành, Đông A nhập địa, Mộc di tái sinh, Chắn cung kiến nhật, Đoài cung ân linh, Lục thất niên gian, Thiên hạ thái bình” (Gốc cây thăm thăm, Ngọn cây xanh xanh, Cây hoà đao rụng, Mười tám hạt thành, Cành đông xuống đất, Cây khác lại sinh, Đông mặt trời mọc, Tây sao náu minh, Khoảng sáu bảy năm, Thiên hạ thái bình). Những câu sẩm này ý nói là: Vua thì non yếu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, Thiên tử ờ phương Đông mọc ra thì thư nhân ờ phương Tây lặn mất, trải qua sáu, bảy năm thì thiên hạ thái bình.. Nhân đọc bài sấm, sư Vạn Hạnh bảo Lý Công Uẩn rằng: “Mới rồi tôi thấy lời sấm kỳ lạ biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ (Công uẩn – TG) là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm giữ binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân phải là thân vệ, còn ai đương nổi nữa”21Toàn thư, Bản kỷ, quyển I, tập I, sđd, tr. 237. Thấy sư Vạn Hạnh nói vậy, Lý Công Uẩn sợ bị tiết lộ đã cho người đưa sư Vạn Hạnh giấu ở chùa Tiêu Sơn.

Về phía nhà Tiền Lê, Lê Ngoạ Triều có lần ăn quả khế lại thấy hạt mận (chữ Lý nghĩa là cây mận) mới tin lời sấm ngữ, đã cho ngầm tìm người họ Lý giết đi. Nhưng còn một người họ Lý là Lý Công Uẩn ở ngay bên, mà nhà vua không hề biết. Đến khi Lê Ngoạ Triều băng hà, con nối dõi còn nhỏ, Lý Công Uẩn cùng với Hữu điện tiền Chỉ huy sứ là Nguyễn Đê, mỗi người còn được đem 500 quân Tuỳ long (đội quân hầu của vua) vào làm Túc vệ22Toàn thư, Bản kỷ, quyển I, tập I, sđd, tr. 237.

Trong lúc lòng dân đang chán ghét chính thể cũ bởi ông vua tàn ngược cuối triều Tiền Lê, thì các quần thần trong triều đã hướng về người con của dòng họ Lý là Lý Công Uẩn. Đào Cam Mộc, một Chi hậu vệ trong triều đình nhà Tiền Lê thấy tình hình đang có lợi cho họ Lý đã nói với Lý Công Uẩn rằng: “Gần đây chúa thượng ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời đã chán ghét nên không cho hết thọ, con nối thơ ấu, không kham nổi nhiều khó khăn.

Mọi việc phiền nhiễu thần linh không ưa, dân chúng nhao nhác, mong tìm chân chúa. Sao Thân vệ không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa xem dấu cũ của Thang Vũ, gần xem việc làm của Đinh Lê, trên thuận lòng người, dưới theo ý dân, mà cứ muốn khư khư giữ tiểu tiết làm gì”. Rồi Cam Mộc lại nói tiếp:

“Người trong nước ai cũng bảo họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi… Thân vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được…”23Toàn thư, Bản kỷ, quyển I, tập I, sđd, tr. 238

Liền sau đó, các quan trong triều đều suy tôn và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô “vạn tuế”2 – mở đầu vương triều Lý.

Lý Công Uẩn lên ngôi, đã đại xá cho toàn thiên hạ, cho đốt giềng lưới, bãi ngục tụng và lấy năm sau (1010) làm niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: