Thành cổ Loa – Kinh đô nước Âu Lạc

Thành cổ Loa – Kinh đô nước Âu Lạc

Sự liên kết hòa bình giữa hai tộc Lạc Việt và một phần Tây Âu đã hình thành quốc gia Âu Lạc vào khoảng cuối thế kỷ III TCN. Trong quá trình hòa hợp giữa hai tộc, từng diễn ra sự chuyển giao quyền lực và Thục (Tục) Phán – vị thủ lĩnh của tộc Tây Âu – dần dần giành được sự tín nhiệm tuyệt đối của quân dân hai tộc, nắm giữ ngôi vị tối cao của Âu Lạc. Sự chuyển giao này được thực hiện theo phương thức hòa bình trong nội bộ cộng đồng Đông Sơn, chứ không phải thông qua một cuộc chiến tranh mang tính chất chiếm đoạt. Chính do đặc thù của việc thành lập quốc gia như vậy, cho nên sự hòa hợp này không gây ra những tổn thất vốn có khi xảy ra chiến tranh, mà ngược lại, tạo được sự đoàn kết lực lượng, càng thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong nước.

Về kinh tế: Địa vực canh tác được mở rộng không ngừng, xuất hiện những vùng trồng lúa tại lưu vực các sông Nhuệ – Đáy, đồng bằng hữu ngạn sông Hồng, diện tích khai hoang lấn biển ngày một lớn, các loại giống lúa mới năng suất cao được đưa vào gieo trồng, sản lượng lương thực được tăng nhanh, trồng dâu nuôi tằm được đẩy mạnh, một số nghề thủ công phát triển tới trình độ cao, đáp ứng được nhu cầu của xã hội và quân sự.

Về an ninh quốc phòng, bảo vệ đất nước. Nhiều loại hình vũ khí mới được xuất hiện và cải tiến phù hợp với thực tế như mũi tên đồng ba cạnh, rìu, dao găm, giáo, qua đồng… số lượng vũ khí Đông Sơn được gia tăng mạnh trong thời gian Âu Lạc tồn tại. Trong các khu mộ táng Đông Sơn đã được phát hiện tại Việt Nam, nhất là tại khu vực châu thổ sông Hồng và phụ cận như: Vinh Quang, Làng Cả, Châu Can, Việt Khê…, số lượng vũ khí (dao găm, riu, giáo, mũi tên…) đều chiếm khoảng 64% hiện vật tùy táng… Bộ vũ khí Đông Sơn thời Âu Lạc chủ yếu tăng mạnh về số lượng với hai loại hình chính vẫn là rìu và giáo1Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd, tr. 429

Ngoài ra, đã xuất hiện dao găm đúc cán hình người trong các di vật được phát hiện và trên những hình trang trí của đồ đồng Đông Sơn. Xuất phát từ nhu cầu của việc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, nên việc cải tiến vũ khí đuợc tăng cường hơn, đã xuất hiện loại nỏ (cung) bắn một lần được nhiều mũi tên, thư tịch ghi lại là nỏ liên châu, hay nỏ móng rùa, dân gian truyền tụng đó là loại “nỏ Thần” do thần nhân giúp sức. Thư tịch cổ còn mệnh danh bằng chữ Hán cho loại nỏ này là Linh quang kim trảo thần nỗ (nghĩa là: Nỏ thần làm bằng móng rùa linh thiêng).

Điều này tuy có mang tính huyền thoại, song đã được thực tế khảo cổ học minh chứng cho cốt lõi lịch sử được phản ánh trong truyền thuyết với hàng vạn mũi tên đồng đào được tại cầu Vực, phía nam Kinh thành cổ Loa.

Về chính trị: Bước đầu đã củng cố hệ thống quản lý chính quyền với các chức quan như: Lạc hầu, Lạc tướng… Đặc biệt, xây dựng  một trung tâm chính trị, quân sự tại vùng kinh tế phát triển nhất, có vị trí thuận tiện là thành cổ Loa, để triều đình Âu Lạc dễ dàng lãnh đạo đất nước trong điều kiện chiến tranh cũng như hòa bình.

Về thành Cổ Loa hay là Loa Thành thời An Dương Vương, được nhiều thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc ghi lại2Như các sách: [ĐạiỊ Việt sử lược, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Hậu Hán thư, Giao Châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký, Thái bình hoàn vũ ký, Nam Việt chí, Thủy kinh chú, Tùy thư, An Nam chí lược, An Nam chí... [Đại] Việt sứ lược là bộ sách sớm nhất của Việt Nam chép về An Dương Vương cùng việc đắp thành như sau: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ờ Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương…”3Việt sử lược, Sđd, tr. 14.

Có thể thấy, việc xây dựng một kinh thành (đô) sau khi đã hòa hợp được hai tộc người thành một quốc gia Âu Lạc là một yêu cầu bức thiết mà Thục (Tục) Pắn phải gấp rút hoàn thành. Vùng cổ Loa là nơi phù hợp nhất cho ý tưởng tạo dựng kiến trúc kinh thành đương thời. Nơi đây có vị trí địa lý thuận tiện, là trung tâm của vùng châu thổ sông Hồng, đầu mối giao thông cả đường bộ và đường thủy, cổ Loa lại là một vùng tiêu biểu cho trung tâm kinh tế, dân số phát đạt đương thời.

Theo chi dẫn của sách Hán thư, cổ Loa thuộc huyện Tây Vu, có khoảng 32.000 hộ, chiếm gần 1/3 dân số của Giao Chỉ. Đen đời Đông Hán (năm 22 – 220), cổ Loa thuộc huyện Phong Khê, vào đời Tùy – Đường (thế kỷ VI – X) lại thuộc huyện Bình Đạo. Vì thế, thư tịch của Trung Quốc ả mỗi thời kỳ khi chép về An Dương Vương và kinh thành được xây dựng có khác nhau đôi chút về tên gọi cũng như địa điểm.

Sách Quàng Châu ký ghi: An Dương Vương đóng đô ở huyện Phong Khê, sách Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn chép: Thành cũ của An Dương Vương ở phía đông huyện Bình Đạo. Sách Giao Châu ngoại vực ký cũng cho biết: Nay huyện Bình Đạo còn dấu cũ của thành vua An Dương Vương.

Mô hình thành cổ loa
Mô hình thành cổ loa

Trong sách An Nam chí lược của Lê Tắc chép: “Việt Vương thành tục gọi là thành Khả Lũ, có một cái ao cổ”4Lê Tắc, An Nam chí lược, Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr. 64. An Nam chí của Cao Hùng Trưng ghi lại: Loa Thành ở huyện Đông Ngàn, xoáy tròn chín vòng như hình trôn ốc, kiểu làm do An Dương Vương sáng tạo, lại gọi là thành Khả Lũ. Sách này còn chép thêm: “Chỗ đóng đô của An Dương Vương vốn là đất Việt, nên người sau gọi là Việt Vương thành”5Cao Hùng Trưng, An Nam chí, Bản dịch lưu tại Viện Sử học, tr. 135. Phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng Khả Lũ chính là Chạ Chủ – tên nôm của cổ Loa, xưa kia được đọc thành K’Lủ, hay Kh’Lủ rồi được phiên âm chữ Hán thành Khả Lũ và Cổ Loa, vì có thời kỳ vùng đất này còn được đổi thành Kim Lũ trang6Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 182-183. Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 118.

Theo các nhà nghiên cứu tự nhiên về địa hình, địa mạo thì “khu vực Cổ Loa – Đông Anh luôn nằm ở cạnh phía đông bắc, song lệch hơn về phía đỉnh của tam giác châu sông Hồng ở cả hai thế hệ, trong đó khu vực Phù Lỗ, Sóc Sơn nằm trong phạm vi rìa phía bắc của tam giác châu thế hệ thứ nhất, còn cổ Loa lại nằm ở rìa phía bắc của cạnh tam giác châu thế hệ thứ hai. Đặc điểm đó, tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc định đô và xây thành”7Địa chí Cổ Loa, Sđd, tr. 30-31.

Tuy vậy, việc xây dựng một tòa thành quân sự vào những năm đầu Công nguyên không được dễ dàng và suôn sẻ. Theo các thư tịch và truyền thuyết lưu truyền, khi bắt đầu đắp thành gặp nhiều sự cố, cứ đắp lên thì hôm sau thành lại bị sụt lở. Sau nhiều lần kiên trì và rút kinh nghiệm, thậm chí nhà vua còn tự thân cầu khấn trời đất và thần linh sông núi, cuối cùng một tòa thành bề thế, uy nghi đã được hình thành với tên gọi là Thành cổ Loa.

Đại Việt sử ký toàn thư chép về ngôi thành này như sau: “Bấy giờ, Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao”)8Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 136. Nam Việt chí miêu tả thành của An Dương Vương có chín vòng chu vi chín dặm. Dân gian đã huyền thoại hóa công việc gian khổ, tốn công tốn sức này thành những câu chuyện mang tính thần thánh, tiên nữ…9Địa chí Cổ Loa, Các truyền thuyết về thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc, Sđd, tr. 674-687 được người đời sau chép lại, trong đó đặc sắc nhất là Truyện Rùa vàng (Kim Quy truyện) được ghi vào quốc sử.

Chúng ta vẫn có thể quan sát được vị trí địa lý cùng bối cảnh tự nhiên được lựa chọn từ xa xưa của tòa thành cổ Loa, còn được bảo tồn đến ngày nay. Thành được xây dựng giữa vùng châu thổ sông Hồng, ngay sát bên bờ Bắc của sông Hoàng Giang, trên một khu đất cao với nhiều ao, đầm. Hiện tại, con sông Hoàng Giang đã bị thu hẹp nhiều, và chỉ còn đóng vai trò của một con mương dẫn nước tưới tiêu cho một số khu ruộng của xã cổ Loa.

Sông Hoàng Giang xưa vốn là sông Thiên Đức chảy nối sông Hồng và sông cầu ở vùng Quả Cảm – Thổ Hà, tỉnh Bắc Ninh. Sông này còn có tên gọi là sông Thiếp chảy qua 5 huyện Yên Lãng, Kim Anh, Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du nên cũng có tên là Ngũ Huyện Khê10Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 182. Sách Thúy kinh chú sớ của Lịch Đạo Nguyên có chép về sông Diệp Du (tức sông Hồng) như sau: “Sông Diệp Du qua phía bắc huyện Mi Linh, quận Giao Chỉ, chia làm 5 con sông, đến địa giới phía đông thì hợp trở lại làm 3 con sông”. Không rõ 5 con sông mà Lịch Đạo Nguyên ghi lại có liên quan với Ngũ Huyện Khê không?. Sông Hoàng Giang chảy dọc trong cổ Loa, vì thế xưa kia từ Cổ Loa có thể rất dễ dàng thông ra biển và ngược lên núi.

Dòng sông Hoàng Giang kết hợp với đầm Cả, nhánh sông và ba vòng hào thành tạo thành một hệ thống đường thủy. Thường nhật, đó là một mạng lưới giao thông chuyên chở rất thuận tiện. Theo truyền thuyết dân gian, ngày xưa vua Thục thường đi thuyền dạo khắp kinh kỳ. Khi có chiến sự nổ ra, quân thủy có thể đi từ thành Nội men theo dòng Hoàng Giang sang sông cầu hoặc ngược lên sông Hồng tiến vào vùng châu thổ và ra biển lớn11Địa chí Cổ Loa, Sđd, tr. 216.

Di tích thành cổ Loa hiện còn ba tường vòng (hay ba vòng thành) khép kín. Dân gian quen gọi theo thứ tự ba vòng thành từ trong ra ngoài là Thành Nội, Thành Trung và Thành Ngoại. Chu vi khép kín của ba vòng thành lên tới hơn 16km. Cả ba vòng thành đều có ngoại hào, nối liền nhau và thông với sông Hoàng Giang. Ngoài ba vòng thành và hào khép kín tạo thành một hệ thống hào – sông, thuận tiện giao thông đường thủy, còn có nhiều đoạn lũy cùng các ụ đất được sắp xếp và có chức năng như những “hỏa hồi” hay “công sự chiến đấu”. Hệ thống hào – sông và hệ thống lũy, công sự tại ba vòng thành cổ Loa kết hợp chặt chẽ trở thành một phòng tuyến bảo vệ “vừa có thể tiến công, đồng thời vừa có thể cố thủ và rút lui”.

Thành cổ Loa không phải được xây dựng chi một lần, mà đã trải qua không ít đợt trùng tu, sửa chữa và cả đắp thêm mới nữa.

Giới nghiên cứu Việt Nam như Đào Duy Anh12Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, vấn để An Dương Vương và nước Âu Lạc, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, tr. 353-448, Phạm Văn Kỉnh13Phạm Văn Kỉnh, “Ve thời kỳ An Dương Vương và thành cổ Loa”, Tạp chí Khảo cổ học, 12/1969, tr. 128-134, Đỗ Văn Ninh14Đỗ Văn Ninh, Thành cổ và sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam, Luận án Phó Tiến sỹ Lịch sử, Hà Nội, 1981, Lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học, Trần Quốc Vượng15Trần Quốc Vượng, “Trên mảnh đất cổ Loa lịch sử”, Tạp chí Khảo cổ học, tháng 12/1969, tr. 100-127, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này. Gần đây nhất là các công trình: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X16Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 104, Địa chí cổ Loa17Địa chí Cổ Loa, Sđd, tr. 213-214, Hà Nội thời tiền Thăng Long18Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd….

Thành cổ loa - kinh đô âu lạc
Thành cổ loa- Kinh đô Âu Lạc

Có tác giả đưa ra nhận định: “Đã có đù cơ sở để khẳng định vị trí cùa trị sở huyện Phong Khê đời Đông Hán là cổ Loa, tòa huyện thành Phong Khê, tức Kiển Thành, là tòa thành Trong của di tích Loa Thành. Phải nói di tích tổng thể cổ Loa ngày nay bao chứa hai tòa thành cổ: Loa Thành và Kiền Thành”19Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỳ X, Sđd, tr. 194. Lại có ý kiến: “Thành Cổ Loa được sử dụng và bồi trúc qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng quy mô và cấu trúc của toàn bộ tòa thành cũng như những di vật còn lại đến nay về cơ bản đã được xây dựng từ thời An Dương Vương và là kinh thành nước Âu Lạc có niên đại trước Bắc thuộc (về sau chi sửa chữa và đắp thêm ít nhiều)”20Trên mảnh đất cổ Loa lịch sử, Sđd, tr. 100-127. Tuy vậy, muốn làm rõ hơn về thành cổ Loa và những vấn đề liên quan, có tác giả kiến nghị: “cần phải có những công trình khai quật trên diện lớn khu di tích cổ Loa”21Địa chí Cổ Loa, Sđd, tr. 213.

Mặc dầu, còn những vấn đề mang tính tiểu tiết chưa được nhất trí, còn đang tiếp tục thảo luận và nghiên cứu, nhưng các học giả đều khá thống nhất về vai trò, tác dụng và giá trị của tòa Kinh thành (đô) của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương. 

Trước hết, thành cổ Loa là một công trình được tạo nên bởi tinh thần cộng đồng đoàn kết vượt bao nguy nan, hiểm trở của các tộc người trong nước Âu Lạc do thủ lĩnh An Dương Vương chi huy. Thành cổ Loa là một sản phẩm thể hiện sự nhất trí cao, sự sáng tạo vượt bậc của cư dân Việt cổ trong công cuộc dựng nước và giữ nước thuở đầu tiên.

Thành cổ Loa là một công trình quân sự vượt tầm thời đại về quy mô to lớn cũng như về kỹ thuật tinh xảo. Thành cổ Loa là sự kết hợp nhuần nhuyễn của việc lợi dụng địa hình tự nhiên sông nước cùng với địa vật vốn có tại địa phương để tạo nên một quân thành với thế công thủ toàn diện.

Tóm lại: “Thành cổ Loa là một chỉ tiêu phản ánh tập trung sự phát triển nhiều mặt của nước Âu Lạc đời An Dương Vương. Nó không những chứng tỏ tài năng lao động sáng tạo, những tiến bộ về kỹ thuật xây dựng, về kỹ thuật và nghệ thuật của người Việt cổ, mà còn biểu thị một bước phát triển mới của Nhà nước Âu Lạc, của quyền lực xã hội, của sự phân hóa xã hội”22Địa chí Cố Loa, Sđd, tr. 217 .

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: