Thánh tướng – hung thần Tăng Quốc Phiên

by Lãnh Thành Kim

Gần đây, cuốn tiểu thuyết trường thiên Tăng Quốc Phiên bán rất chạy. Nguyên nhân ở đâu? Tất nhiên tiểu thuyết viết hay nhưng nguyên nhân chủ yếu không phải ở đó, mà do đề tài đã chọn tốt.

Tăng Quốc Phiên là người như thế nào? Ông là điển hình học giả kiêm “hiền tướng” cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc, vì sau ông loại nhân vật này, chỉ còn văn kỳ danh mà bất kiến kỳ nhân mà thôi.

Xem thêm: Ông vua không giỏi dùng binh chỉ giỏi dùng tướng

Tăng quốc Phiên

Tăng Quốc Phiên

Vậy người này sao tỏ nhiệt tình dữ vậy với Tăng Quốc Phiên? Mấy năm trước, “Tăng Quốc Phiên gia thư” được nhiệt liệt hoan nghênh, nay “Truyện Tăng Quốc Phiên” cũng vậy, chẳng lẽ người ta quên rằng ông là “hung thần” của cuộc khởi nghĩa nông dân Thái bình Thiên quốc hay sao?

Từ góc độ chính trị mà xem xét vấn đề thường nông cạn, từ góc độ văn hóa xem vấn đề thường sâu sắc hơn, muốn hiểu sự nhiệt tình của mọi người với Tăng Quốc Phiên, phải bắt đầu từ lý tưởng làm người của người Trung Hoa truyền thống mới được.

Nói chung, lý tưởng của người Trung Hoa truyền thống có hai điều, một là làm quan, hai là thành danh. Làm quan được lộc huệ, thành danh được bất hủ, cả hai đều đạt thì tuyệt điệu vậy!

Làm quan là ước mơ của người Trung Hoa, “Vinh hoa phú quý”, bốn chữ đó đã hình dung đủ những mặt tốt của quan tước đối với người Trung Hoa thực tế, quan cao lộc đầy, có thể coi là không uống một đời. Do vậy mà người Trung Hoa xưa nay vẫn kính nể, sùng bái các ông quan.

Chỉ làm quan vẫn chưa đủ cao nhã, nếu có thể thành hiền nhân, thậm chí, thành thánh nhân nữa thì mới thật là hoàn mỹ. Người Trung Hoa xưa nay rất kính nể các vị thánh hiền, cho họ là người phát ngôn của đạo trời, là tượng trưng của thần minh, vì thế người bình thường tôn trọng thánh hiền, kẻ đọc sách cũng vậy, nguyện vọng lớn nhất của họ không phải là làm vua mà làm bậc thầy của vua.

Thực ra, danh và lợi thường gắn liền với nhau, cho nên có được quan vị, danh dự thì cũng có lợi lộc, còn cuộc sống vất vưởng lao đao vô gia cư của thánh Khổng tử là cá biệt, vừa trúng trạng nguyên, làm quan to phát tài lớn mới là phổ biến. Vì vậy, người Trung Hoa coi hai chuyện danh và lợi là một.

Nhưng nói cho cùng, danh và lợi có khác nhau. Thương nhân kiếm tiền, quan niệm truyền thống vẫn coi thường, địa chủ có của, nhưng người thành phố xem khinh. Vì thế, Tăng Quốc Phiên, phe phải có thế lực lớn nhất tập đoàn thống trị cuối đời Thanh, một “thánh tướng” tên tuổi lẫy lừng còn là lãnh tụ của giới học thuật, là thầy của đế vương, con người đã kết hợp hoàn mĩ cả quan quyền, danh lợi, đã trở thành hình tượng lý tưởng của người Trung Hoa truyền thống.

Đúng vậy, hư danh và thực lợi đã thể hiện tập trung trong con người của Tăng Quốc Phiên, ông đã sống một cuộc đời không uổng, ăn uống chơi bời, dùng quyền cậy thế, lập công dựng nghiệp, văn võ đủ tài, hưởng thọ tuổi trời, nói tóm lại, “công danh lợi lộc” bốn chữ đều đủ, có thể nói là một thứ mà người Trung Hoa ngưỡng mộ theo đuổi, đều có ở trong tay ông ta.

Thế thì, việc Tăng Quốc Phiên đã yên lặng hơn một trăm năm, nay là khơi dậy được sự nhiệt tình của mọi người cũng không có gì là lạ. Chỉ có điều, người bình thường học được ông ta một mặt đã khó, còn muốn bắt chước ông ta toàn diện chắc chắn là không thể.

Tăng Quốc Phiên trong lịch sử là con người như thế nào? Ông ta là con người cực kỳ phức tạp gây nhiều tranh luận, trong con người ông ta, tập trung đủ các đặc điểm của quan liệu truyền thống Trung Quốc, cũng xen lẫn một chút phẩm cách văn nhân. Người xưa có câu: “Dự chi tắc vị thánh tướng, nghiệt chi tắc vi nguyên hung”, có nghĩa là nếu ca ngợi anh, anh sẽ là thánh tướng, nếu phán tội anh, anh sẽ là hung thần. Trường hợp Tăng Quốc Phiên phức tạp hơn định luận đó, nói ông ta hung thần thì đúng, còn nói ông ta là thánh tướng thì còn kém một chút. Chỉ vì muốn đơn giản hóa, người ta đánh giá ông như vậy, ở đây ta hãy tạm theo định luận đó để phân tích con người Tăng Quốc Phiên.

Tăng Quốc Phiên do đàn áp được Thái bình Thiên quốc mà nổi lên, rồi từ “hung thần” trở thành “thánh tướng”. Chúng ta sẽ bắt đầu nói về mặt “hung thần” của ông.

Tăng Quốc Phiên sinh năm 1811 (Gia Khánh thứ 16 đời Thanh) mất năm 1892, (Đồng Tri thứ 11 đời Thanh). Người Tương hương Hồ Nam. Tăng Quốc Phiên từng nhiều lần tự hào là “canh độc truyền gia”, đủ biết gia đình ông không phải địa chủ, cũng chẳng phải thư hương môn đệ gì, là loại gia đình lý tưởng truyền thống của Trung Quốc: có ruộng đất đủ ăn đủ mặc, có đọc sách viết văn, làm phủ ngâm thơ. Chưa vội nói lý tưởng của loại hình gia đình này thể hiện tinh thần gì của văn hóa Trung Quốc, nhưng nó kết hợp được cái thực của việc cày ruộng với cái hư của việc đọc sách là không có gì nghi ngờ, cái kết cấu gia đình kết hợp thực hư đó, có ảnh hưởng lớn đến việc bồi dưỡng phẩm cách sống kết hợp thực hư của Tăng Quốc Phiên.

Ông nội của Tăng Quốc Phiên không phải là người học rộng, nhưng ông giỏi thực hành, cai quản gia đình được hưng thịnh, cha của Tăng Quốc Phiên mới có điều kiện đèn sách, nhưng trải bao vất vả, mới đỗ được tú tài, làm nghề gõ đầu trẻ. Đến đời Tăng Quốc Phiên, mả tổ phát thế nào mà khoa cử rất thuận lợi.

Tăng Quốc Phiên sáu tuổi đến trường học, tám tuổi học “ngũ kinh”, đọc “bát cổ”, mười bốn tuổi lên Trường Sa thi đỗ hạng nhất, hai mươi tuổi đỗ tú tài, hai năm sau vào học ở phủ Nhạc Lệ thư viện nổi tiếng của Trung Quốc, cũng năm đó vào kinh thi hội, nhưng không đỗ, về lại dùi mài kinh sử, năm hai tám tuổi mới lại lên kinh thi hội, đỗ tiến sĩ. Từ đó rộng đường thăng tiến.

Tăng Quốc Thiên chăm chỉ, được triều đình nhà Thanh tín nhiệm, liên tiếp thăng quan. Năm ba mươi bảy tuổi làm quan nhị phẩm, ông vẫn thường tự hào: “Hồ Nam người ba mươi bảy tuổi làm quan nhị phẩm, triều đình chưa có ai”. Đủ thấy Tăng Quốc Phiên coi việc làm quan có ý nghĩa quan trọng trong đời như thế nào! Thời gian này, ông từng làm thị lang bộ Công, bộ Hình, bộ Lại, có thể nói là gió xuân đắc ý.

Nếu như lịch sử không cho ông cơ hội đặc biệt thì ông không trở thành Tăng Quốc Phiên ngày nay, mà chỉ âm thầm sống cuộc đời như bao quan liêu phong kiến khác. Sự xuất hiện của nghĩa quân nông dân Thái bình Thiên quốc, đã mở cho ông một vũ đài lịch sử rộng lớn.

Năm 1851, cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn cuối cùng của lịch sử Trung Quốc đã bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Hồng Tú Toàn, nghĩa quân từ vùng núi huyện Quế Bình tỉnh Quảng Tây đã đột phá vòng vây, tiến lên phía bắc như dòng thác cuồn cuộn không gì ngăn nổi, chỉ sau hai năm, đã đánh chiếm được Giang Ninh (Nam Kinh), nơi then chốt của phương nam, lấy làm quốc đô đổi tên là Thiên Kinh. Quân triều Thanh nghe tiếng đã chạy, chưa đánh đã tan. Trước tình hình như vậy, chính phủ triều Thanh không còn cách nào tổ chức được quân đội, điều quân chống lại nghĩa quân, nên phải làm như triều đình Đông Hán đàn áp Hoàng Cân, các địa phương tự lập lực lượng vũ trang gọi là “Đoàn luyện”. Các . tổ chức vũ trang này do các quan địa phương và địa chủ cùng nhau tổ chức. .

Năm 1853 Hàm Phong hoàng đế ra lệnh các quan quê ở nam và bắc Trường Giang phải đứng ra tổ chức đoàn luyện, Tăng Quốc Phiên quê Hồ Nam, bèn tích cực hưởng ứng lệnh của Hàm Phong, ông trở về quê, cùng với tuần phủ Hồ Nam Trương Lượng Cơ lập đoàn luyện. Từ đó, Tăng Quốc Phiên bắt đầu cuộc sống của một nguyên hung”

Được sự giúp đỡ của nho sinh đồng hương là La Trạch Nam, Tăng Quốc Phiên lập được đội quân mấy ngàn người, sau đó phát triển dần. Tăng Quốc Phiên hiểu rõ sự thối nát của Bát kỳ binh và Lục doanh binh của triều Thanh, nên khi tổ chức quân đội, ông chú ý tuyển mộ con em bình dân, không lấy con em quan lại, ông cũng chú ý quan hệ họ hàng để quân đội mang tính chất gia đình, thêm gắn bó, thêm sức chiến đấu.

Quân của Tăng Quốc Phiên so với quân nhà Thanh và các đoàn luyện khác có những đặc điểm sau đây:

  1. Binh sĩ đều là dân quê Hồ Nam, mạnh khỏe chất phác, dễ huấn luyện, dũng cảm thiện chiến, kiên quyết không nhận những thị dân lưu manh, những lính của triều đình cũ chỉ làm hư đội ngũ. Sĩ quan thì ông chọn những người có học thức quen biết của ông, yêu cầu sẵn sàng dâng mình để trung Với vua, bảo vệ đạo, không được mê mải công danh lợi ích trước mắt, kiên quyết chối từ khuynh hướng tranh giành quyền lợi của quan quân Bát kỳ binh triều Thanh.
  2. Biên chế những binh sĩ có quan hệ cha con, anh em hoặc họ hàng vào chung tổ chức, lợi dụng quan hệ ruột thịt thân thích để họ gắn bó nhau, khi ra trận có thể cứu trợ nhau, và chỉ có thắng không thể thua, nếu thua trận thì cả họ sẽ bị hủy diệt. Cách này của Tăng Quốc Phiên rất hữu hiệu, biến quân đội quốc gia thành quân đội của tộc họ “khi đánh trận là anh em khi ra chiến trường là cha con” quả có nâng cao được sức chiến đấu. Sự sáng tạo này của Tăng Quốc Phiên có lẽ cũng là tiên phong trong nền quân sự hiện tại Trung Quốc.
  3. Về mặt tổ chức, Tăng Quốc Phiên quy định, binh sĩ mỗi. doanh chỉ phục tùng có doanh trưởng, toàn quân phục tùng Tăng Quốc Phiên. Như vậy vừa nâng cao được sức chiến đấu của chỉ huy tổ chức, vừa xây dựng được quân đội riêng của Tăng.

Tăng Quốc Phiên tuy kiên quyết phản đối việc dùng người dân tộc Mãn làm chỉ huy để ảnh hưởng sức chiến đấu, nhưng để tranh thủ sự tín nhiệm của người Mãn Thanh, ông tiến cử, Tháp Kỳ Bố người Mãn làm Tương quân đại tướng, tiến cử Đa Long A làm Hồ bắc tướng quân, mọi việc chuẩn bị xong, quân Tăng Quốc Phiên bắt đầu ra khỏi Hồ Nam chuẩn bị giao chiến với quân Thái bình.

Tháng 5 năm 1854 (Hàm Phong năm thứ Tư) Tăng Quốc Phiên soái lĩnh tướng quân xuất chiến, đánh nhau với quân Thái bình ở Nhạc Châu, không ngờ vừa đánh đã tan. Khi Tăng Quốc Phiên xuất quân. Quân Tương có một vạn, thủy lục có thêm năm ngàn, cộng lại là vạn rưỡi quân. Sau trận Nhạc Châu, quân đội tan tác, bị tiêu diệt sạch.Tăng Quốc Phiên có thể chưa từng nếm mùi thất bại, chịu đựng không nổi đau thương này, bèn nhảy xuống sông tự tử. Bộ hạ của ông tất nhiên không để vị thống soái tướng quân chết, vội cứu ông lên. Tăng Quốc Phiên xấu hổ, quyết tâm chỉnh đốn lại quân đội, sau ba tháng lại đánh Nhạc Châu, đánh từ tháng 6, tới tháng 10 cùng năm, Tăng Quốc Phiên đốc chiến, qua tranh giành quyết liệt đã hạ được Vũ Hán. Tăng Quốc Phiên coi như đã trả được cái thù thua ở Nhạc Châu, tinh thần bốc cao ông hét lên: “Quét sạch mặt sông, đánh thẳng Kim Lăng”.

Năm 1855 (Hàm Phong năm thứ năm) Tăng Quốc Phiên tiến vào Cửu Giang. Lúc này quân của Thái bình Thiên quốc không dám coi thường quân của Tăng nữa, bèn cử Thạch Đại Khai làm thống soái, đem quân tăng viện về phía Tây. Thạch Đại Khai là viên tướng trí dũng song toàn nổi tiếng, ông bày mưu cho thủy quân của Tăng Quốc Phiên vào hồ Phiên Dương rồi chặn hồ đánh bại địch quân, đốt cháy chiến thuyền. Tăng Quốc Phiên thấy thủy quân khổ tâm xây dựng bao năm của mình phút chốc thành mây khói, ngay cả thuyền của mình cũng bị đốt mất, bản thân lại phải chạy trốn, hổ thẹn vô cùng, lại lần nữa nhảy xuống sông tự tử, lần này lại mong được bộ hạ vớt lên. Hai lần Tăng Quốc Phiên nhảy sông mà không chết, hay ông chỉ làm bộ như vậy, mà thật là chưa muốn chết chỉ làm vậy để lôi kéo nhân tâm mà thôi?

Thạch Đại Khai đánh bại được đội quân khí thế mạnh nhất bấy giờ của Tăng Quốc Phiên, lại đánh được đại doanh Giang Nam và đại doanh Giang Bắc của quân Thanh, danh tiếng quân sự lẫy lừng khắp nơi, đủ khí thể để giành cả nước, nhưng chính lúc ấy, nội bộ quân Thái bình nảy sinh chia rẽ, tàn sát nhau để giành quyền lợi, các tướng nổi tiếng như Dương Tú Thanh, Vi Xương Huy, Tiền Nhật Lương lần lượt bị chết, hơn hai vạn quân tinh nhuệ đã chết vì nội loạn. Thạch Đại Khai lại dẫn mười vạn quân ra đi, thời kì toàn thịnh về quân sự của quân Thái bình Thiên quốc đã xuống dốc.

Lúc này, Tăng Quốc Phiên thừa cơ giành lại Vũ Hán, và sau trận kịch chiến với Trần Tú Thành, đã giành được An Khánh. Tháng 8 năm 1860 (Hàm Phong năm thứ mười một) Tăng Quốc Phiên được bổ nhiệm là Lưỡng Giang đô đốc, đốc biên Giang Nam quân vụ, có quyền chỉ huy lớn hơn, phải quân mã làm ba lộ tiến công: Lý Hồng Chương dẫn Hoài quan tấn công Tộ Nam, Tăng Quốc Phiên dẫn quân chủ lực tiến công Thiên Kinh. Tả Tông Đường tấn công Triết Giang. Do quân Thái bình đã giảm sút khí thế, sức chiến đấu thấp kém nên bị thất bại liên tiếp. Lại thêm có “Trường thắng quân” của Anh quốc chi viện, Vô Tích, Thường Châu, Tô Châu liên tiếp thất thủ. Ngày 3 tháng 6 năm 1864 (Đồng Trị năm thứ ba) Hồng Tú Toàn chết trong tuyệt vọng.

Quân Tương của Tăng Quốc Phiên vào Thiên Kinh, thấy người là giết, thấy nhà là đốt, đến mức “sông Tần Hoài thi thể chất đầy, Tướng quân thấy của là cướp. Bao nhiêu vàng ngọc của đàn bà con gái đều vào túi quân Tương”.

Tăng Quốc Phiên đã hoàn thành được sứ mệnh “Nguyên hung thần” dẫn quân Tương công phá quân khởi nghĩa Thái bình thiên quốc, lại biết dùng “quyền thuật” để từng bước trở thành “thánh tướng”.

Suốt 12 năm đánh quân Thái bình, Tăng Quốc Phiên không phải thuận buồn xuôi gió, ông đã nhiều lần thất bại, hai lần phải nhảy sông tự tử, chưa kể một lần sợ Lý Tú Thành tập kích tới, tay luôn cầm dao, chuẩn bị nhỡ thua thì tự sát. Ông tuy trung thành nhưng nhiều lần bị nghi kỵ.

Lần thứ nhất đánh được Vũ Hán, tin về Bắc Kinh, vua Hàm Phong rất mừng, khen Tăng Quốc Phiên mấy lời, nhưng cận thần cạnh vua nói: “Một bạch diện thư sinh như vậy, mà nay thu phục được muôn người, đánh được Vũ Hán, chưa tất đã là phúc của nước nhà”. Hàm phong nghe không nói gì.

Tăng Quốc Phiên cũng biết bị người nghi kỵ, bèn mượn cớ về nhà chịu tang cha, dẫn hai người em (cũng là tướng lĩnh quan trọng của quân Tương), bỏ lại mọi chức vụ quân sự. Gần một năm sau, quân Thái Bình đánh Triết Giang đất quê thóc gạo và bông vải, triều đình Thanh lo sợ lại phải mời ông ra, và phong ông làm đến Binh bộ thượng thư, nắm thực quyền quân chinh. Chẳng bao lâu. Từ Hy Thái hậu chuyên quyền, cho rằng người Mãn bất tài, trọng dụng người Hán, tạo cơ hội lịch sử quan trọng cho Tăng Quốc Phiên nắm chính quyền.

Năm 1862 (Hàm phong năm thứ mười hai) Tăng Quốc Phiên được giao quyền Lưỡng Giang tổng đốc, Tiết chế tứ tỉnh quân chính, cấp tuần phủ trở xuống đều phải nghe lệnh, ít lâu sau lại phong thái tử Thái bảo đầu hàm, kiếm hiệp biện đại học sĩ. Kể từ đó, quyền lực của Tăng Quốc Phiên đã có vị trí chủ yếu trong triều.

Phương thức rút lui khi đạt đỉnh cao của Tăng Quốc Phiên càng làm cho triều Thanh tín nhiệm, nắm được đại quyền. Sau thắng lợi tấn công Thái bình Thiên quốc. Ông vẫn giữ thái độ dè dặt. Vì quân Tương của Tăng Quốc Phiên cướp bóc nhiều của cải của Thái Bình, làm cho Thiên Kinh “bạc vàng như biển, trăm vật chất đầy” bỗng chốc sạch không, các quan trong triều bàn tán xôn xao, bọn Tả Tông Đường còn dâng thơ tố cáo, Tăng Quốc Phiên không muốn nhả của, và cũng không thể nhả của, vào kinh ông vội làm bốn việc: một, sợ quyền thế quá lớn át cả chủ, nên xin trao trả bớt quyền lực, hai, sợ quân Tương quá lớn sẽ sinh nghi kỵ, bèn giảm đi bốn vạn, ba, sợ triều đình nghi ngờ việc phòng vệ Nam kinh mà bắt xây dựng trại cho kỳ binh, ông thường cho Kỳ binh đóng tại Nam Kinh, chu cấp lương thực cho họ. Bốn lập cống viện (nơi tổ chức thi cử), đề bạt các nhân sĩ Giang Nam.

Làm bốn việc đó, triều đình quả nhiên khen ngợi, lại thêm ông có công lớn, nên triều Thanh chẳng thể truy cứu gì hơn, ngược lại do ông tỏ thái độ cung kính, triều Thanh càng thêm tín nhiệm. Triều đình gia ấn phong hàm thái tử Thái Bảo, tước nhất đẳng hầu, con cháu được thế tập đời đời. Tới đây, Tăng Quốc Phiên được vinh hiển một thời.

Tăng Quốc Phiên còn từng đánh Niệm Quân, Niệm Quân lúc đầu dấy binh ở Hoài bắc, phát triển dần, lại được quân, Thái Bình giúp đỡ, lớn thế dần lên. Triều Thanh mới điều định cho quy tộc Mông cổ Tăng – Cách – Lâm – Tâm đi dẹp, để tỏ ý không phải chỉ có Tăng Quốc Phiên người Hán mới dẹp nổi. Nhưng Tăng – Cách – Lâm – Tâm bị Niệm quân giết chết, không cách nào lại phải phái Tăng Quốc Phiên ra trận. Tăng Quốc Phiên không vội đuổi đánh Niệm Quân như Tăng Cách – Lâm – Tâm, mà dùng cách siết chặt vòng vây, nhưng sau bị Niệm Quân phá vây nên không thành. Sau nhờ có học trò của Tăng Quốc Phiên Lý Hồng Chương xuất hiện mới coi như dẹp được Niệm Quân.

Tăng Quốc Phiên là một trong những yếu nhân của phong trào hướng ngoại, ông tiến hành mua tàu, súng pháo của nước ngoài, lại cho bọn Lý Hồng Chương học tập kỹ thuật nước ngoài, tập trung có nhân tài khoa học kỹ thuật, xây dựng công nghiệp cơ giới, còn đề xuất các vấn đề về khai khoáng. Ông còn tuyển chọn nhân tài ra nước ngoài học, thành lập các học quán trong nước để đào tạo nhân tài.

Tăng Quốc Phiên sở dĩ trở thành “thánh tướng”, là “thánh” ở chỗ ông là nhà lý luận và nhà thực tiễn của đạo học phong kiến.

Tăng Quốc Phiên rất đề cao lý học Trình Chu, ông nghiên cứu sâu và vừa ra nhiều lý thuyết mới, cho rằng học vấn giúp phục hồi nhân tính, phục hồi “lý” và “khí” giữa trời đất, để chính khí đó của con người kết tụ lại mang linh hồn của đạo đức phong kiến. Điều này hoàn toàn nhất trí với tư tưởng của lý học Trình Chu, đều là bảo vệ đạo đức phong kiến.

Ông còn suy tôn lý luận “nội thánh ngoại vương” thời Tiên Tần, tức là về tư tưởng phẩm đức phải được như thánh, về năng lực hành động phải như vương giả, có thể giúp ích cho đời. Đúng thế, bản thân Tăng Quốc Phiên làm được điều đó, có thể nói rằng ông bà người “ngôn hành nhất trí” (nói và làm như một).

Về mặt học thuật, ông cũng có nhiều thành công. Ông vừa đạt đỉnh cao về học thuật vừa có quyền lực, do vậy ảnh hưởng của ông rất lớn, lại thêm ông bồi dưỡng được nhiều học trò, cho nên ông có ảnh hưởng nhất định trong giới học thuật, nên đương thời được nhiều người đề cao là “thánh tưởng”.

Tăng Quốc Phiên còn tự thực hiện những lý luận của mình, trước khi về quê tổ chức đoàn luyện, khi làm quan ở kinh sư, ông đã chú ý tu thần dưỡng tính, nhất là mất nhiều công phu để luyện chữ “tĩnh”. Ông sinh hoạt có nền nếp, dạy sớm, tĩnh tọa, dưỡng khí, bảo thân, đọc sách, viết văn, ngày nào cũng viết nhật ký. Ông kiên trì như vậy khiến thầy dạy ông cũng phải kính nể, nhà vua phải khen. Có lẽ do “làm được bộ dạng một vị chính nhân quân tử” như vậy mà ông được rộng đường thăng tiến.

Cuối đời, Tăng Quốc Phiên thậm chí cả khi hành quân, ông không lúc nào quên tu thân, lập chí, trung thực, cẩn trọng, cần kiệm, liêm chính. Mục đích của việc rèn luyện đó như lý luận “nội thánh ngoại vương” của ông đã nêu, cốt để “trước tu thân, sau cứu đời”.

Tăng Quốc Phiên không lúc nào quên cuộc đời “cày ruộng đọc sách” của ông, đó là cuộc sống vừa hư vừa thực, tiến có thể công, lui có thể thủ”, ông cho rằng đó là phương thức sống lý tưởng nhất. Trong các sách viết cho con cháu trong nhà, ông luôn khuyên dạy phải lấy nông làm gốc, lấy học làm đầu, làm được hai điều đó, gia tộc đời đời phú quý, không thể lụn bại. Nhiều điều ông răn dạy con cháu được người nhà bảo tồn, coi như “gia huấn”.

Tháng 3 năm 1872 (Đồng Trị năm thứ mười một) Tăng Quốc Phiên đang dạo chơi ngoài vườn bỗng thấy tê chân, được con cũng vào nhà, ngồi nghỉ, rồi không ốm mà qua đời.

Có lẽ Tăng Quốc Phiên không ngờ rằng, một trăm năm sau khi ông qua đời, người ta lại nhiệt tình với ông như vậy, vì ông không để lại được bao của cải tinh thần như Trình Chu, cũng không phải là mẫu mực giữ nước yên dân được người kính mộ như Gia Cát Lượng, nhưng ông để lại cho người đời một sự suy tư sâu sắc. Ở cuối kỳ xã hội phong kiến Trung Quốc, sao lại xuất hiện một nhân vật như vậy, đó là con người như thế nào?

Trinh Chu có thể coi như bậc thánh đề thờ phụng, đáng kinh mà khó theo kịp tức không ai dám theo được họ, ví như hoàng đế chẳng bao giờ so cao thấp với Khổng tử vậy; hiền tưởng như Gia Cát Lượng cũng chỉ có thể thờ phụng ở miếu đền, thụ hưởng khói hương tế lễ, coi như bậc thần. Nhưng Tăng Quốc Phiện khác, thì lại ông không được kính như thánh hiền, cũng không thể cúng bái như thần phật, ông là một con người, một con người thực trong đời.

Quay đầu nhìn lại từ những nẻo đường khác nhau, người ta bỗng nhận ra con người đó, và thế là một cao trào đã nổi lên. Điều đó hay hay dở, nhận xét ngay, e quá sớm!

Xem thêm:

You may also like