Thư tịch cổ về thục phán An Dương Vương

Thư tịch cổ về thục phán An Dương Vương

Các thư tịch cổ Việt Nam kết hợp với truyền thuyết nhiều địa phương lại chép khá đầy đủ và chi tiết về Thục Phán – An Dương Vương. Việt sử lược (Đại Việt sử lược), bộ sách Việt Nam đầu tiên ghi về An Dương Vương như sau: “Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu”1Việt sử lược, Sđd, tr. 14.. Các tác giả của bộ Đại Việt sử ký toàn thư trong Kỳ nhà Thục, An Dương Vương chép: “Họ Thục, tên húy là Phán, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành  Cổ Loa)”2Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, IV, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. Ngoại kỷ toàn thư, quyển I, tờ 5b. Như vậy, căn cứ vào nguyên văn chữ Hán, các dịch già bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã đưa đoạn “ờ ngôi 50 năm” xuống sau đoạn “Họ Thục, tên húy là Phán” là sai vị trí, mà cần theo đúng thứ tự phải là: Kỳ nhà Thục, An Dương Vương, ở ngôi 50 năm, họ Thục, tên húy là Phán…. Từ đó trở đi, các nhà sử học của Việt Nam luôn theo quan điểm của Việt sử lược.

Vào thế kỷ XIX, các sử gia triều Nguyễn đã bắt đầu đưa ra sự hoài nghi và có phê phán các ghi chép của sử cũ. Khâm định Việt sử thông giám cương mục là bộ quốc sử lớn nhất triều Nguyễn, được chính vua Tự Đức chi đạo biên soạn, khâm duyệt. Các sử thần trong Quốc sử quán khi chép về Kỳ nhà Thục đã nêu lên sự bất hợp lý về thời gian và đưa ra việc phản vấn như sau: “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Chu Thận Tĩnh vương [năm 316 TCN] đã bị Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiển Vi, đất Dạ Lang, đất Củng, đất Táo và đất Nhiễm cách nhau hàng hai, ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang3Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập I, Sđd, tr. 79. sử gia Nguyễn Văn Siêu trong bộ Đại Việt địa dư toàn biên lên án gay gắt sự nhầm lẫn của sử cũ đối với ghi chép về An Dương Vương và nước Âu Lạc, đồng thời yêu cầu cần phải đính chính lại:

“Phong Khê đến đời Đông Hán, Mã Viện mới tâu xin đặt ra, mà nói rằng: An Dương Vương đóng kinh đô ở Phong Khê”, “Đông Mân là Phúc Kiến, Tây Âu là Quý Châu ngày nay, có chứng cớ rõ ràng. Ngô Sĩ Liên làm Ngoại kỳ đã theo lời sai lầm của Quàng Châu ký lại lấy chuyện chích quái, truyền kỳ chép khác đi rằng: An Dương Vương đổi nước Văn Lang là nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê, sử sách như thế cần phải sửa chữa lại”4Phương Đinh Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên, Viện sử học – Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 186-187.. Bước sang thế kỷ XX, xu hướng hoài nghi thuyết An Dương Vương là người nhà Thục, Trung Quốc ngày càng rõ hơn, ngay từ năm 1914, Hoàng Cao Khải trong sách Việt sử yếu cũng nêu lên sự bất hợp lý về thuyết quê hương của An Dương Vương và việc Thục Vương tiến đánh Văn Lang: “Nói về An Dương Vương thì không ai biết được Vương là người như thế nào? Và cũng không ai biết rõ quê quán của Vương ở đâu? Căn cứ vào cựu sử ghi chép thì Vương tên là Phán, người ở đất Ba Thục. Nhưng Ba Thục cách nước ta đến hai, ba ngàn dặm, rừng sâu, núi thẳm, điệp điệp trùng trùng, tuyệt vời cách trở, đường sá lại chưa được khai thông, có lý nào Vương lại đến thẳng nước ta một cách mau chóng như vậy?”5Hoàng Cao Khải, Việt sử yếu, Nxb. Nghệ An – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2007, tr. 46-47.

thục phán An Dương Vương
Thục phán An Dương Vương

Tiếp theo, sử gia Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược, bộ thông sử Việt Nam đầu tiên bằng chữ quốc ngữ xuất bản lần đầu vào năm 1921, cũng nhận định Thục An Dương Vương “là một họ Thục gần nước Văn Lang, không phải là Thục bên Tàu”6Việt Nam sử lược, Sđd, tr. 26. Học giả

Ngô Tất Tố khẳng định dứt khoát bằng một bài viết với tiêu đề Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục7Ngô Tất Tố, “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục”, Tao Đàn số 3, ngày 1-4-1939. Các nhà nghiên cứu Đông phương học của nước Pháp giai đoạn này cũng tham gia vào xu hướng hoài nghi và đưa ra những nhận định riêng, H.Maspéro cho rằng sử cũ chỉ chép theo truyền thuyết mà thôi và “chưa chắc

đã có trong lịch sử”8H. Maspéro, “Bulletin critique, trong T’oung Pao”, Vol.23, tr. 373-379. Đặc biệt, L.Aurousseau vẫn công nhận sự hiện diện của nhân vật An Dương Vương, nhưng đưa ra nhận định nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong 3 năm từ 210 – 208 TCN, chứ không phải 50 năm như cũ ghi chép9L Aurousseau, “La première conquête chinoise des pays annamites”, B.E.F.E.O.

Từ thập kỷ 50 và nhất là từ những năm 60 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu về lịch sử cổ đại Việt Nam càng được giới nghiên cứu đầu tư nhiều công sức. Trong dó, thời kỳ nước Âu Lạc – giai đoạn lịch sử hình thành đầu tiên của dân tộc Việt Nam được sử quan tâm đặc biệt của nhiều người và bước đầu đã thu được thành quả nhất định. Xung quanh nhân vật An Dương Vương, Nhà nước Âu Lạc cũng đã xuất hiện một số giả thuyết dựa trên những phát hiện tư liệu, chứng cứ mới.

Tuy vậy, cho đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuyết An Dương Vương là người Ba Thục, Trung Quốc vẫn được một số học giả bảo lưu dưới các cách giải thích khác nhau. Trần Văn Giáp cho rằng: Sau khi nước Thục bị diệt, con cháu vua Thục từ Ba Thục lẩn trốn xuống phía nam ẩn náu, rồi dần di cư vào đất Việt, lập nên nước Âu Lạc với triều Thục An Dương Vương, tồn tại khoảng 5 năm từ 210 đến 206 TCN10Trần Văn Giáp, “Một vài ý kiến về An Dương ngọc giản và vấn đề Thục An Dương Vương”, Tạp chí Văn sử Địa, số 28, tháng 5 năm 1957. Đào Duy Anh giải thích rằng: Thục Phán có thể là con hay cháu xa của vua Thục ở Ba Thục, sau khi nhà Thục bị diệt, đã cùng với tộc thuộc chạy xuống vùng Điền Trì, rồi xuôi theo sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm cứ vùng Tây Vu ở phía tây bắc trung du Bắc Bộ ngày nay. Sau khi tổ chức và lãnh đạo người Lạc Việt và Tây Âu kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán đã chiếm lấy nước Văn Lang và lập nên nước Âu Lạc vào khoảng năm 207 TCN11Đào Duy Anh, vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội, 1957, tr. 27.

Trong thời gian này, xuất hiện thêm một giả thuyết mới của Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn cho rằng: Thục Vương được nhắc đến trong các thư tịch cổ không phải vua Thục ở nước Ba Thục mà là Tù trường của bộ lạc Khương di cư từ đất Thục xuống phía nam và tự xưng là Thục Vương. Họ đi xuống Quảng Tây và đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam sống chung với người Tây Âu ở vùng này. Nước Âu Lạc được lập ra gồm hai thành phần cư dân Tây Âu và Lạc Việt12Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, tr. 51 -56.

Vào năm 1963, Lã Văn Lô dịch và công bố truyền thuyết cấu chùa cheng vùa (Chúi chúa tranh vua) của dân tộc Tày ở Cao Bằng13Lã Văn Lô. “Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chùa cheng vùa” của đồng bào Tày”. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 50-51, tháng 6/1963. Đây là một truyền thuyết dân gian ở vùng Cao Bằng được Lê Sơn viết thành trường ca hom nghìn câu tiếng Tày, Lã Văn Lô dịch ra tiếng Việt và công bố. Trước đây, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX, một số tác giả người Pháp khi viết lịch sử người Tày, có nhắc đến truyền thuyết này, nhưng không công bố tư liệu.

Truyền thuyết cho biết về một người tên là Thục Chế, làm vua nước Nam Cương ở Cao Bằng, Quảng Tây mà vùng trung tâm hiện thuộc về Hòa An, Cao Bằng. Cuối đời Hùng Vương, Thục Chế chết, con trai là Thục Phán còn ít tuổi, khi đó chín chúa Mường trong nước Nam Cương, nhân cơ hội đã đem quân về đòi Thục Phán phải chia đất và nhường lại ngôi vua. Thục Phán tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đã xử lý rất thông minh, đưa ra một kế sách đua tài, quy ước ai chiến thắng được giành ngôi vua. Trong khi thi, Thục Phán đã dùng mưu khiến cho các chúa Mường đều không thể giành được chiến thắng. Cuối cùng, chi duy nhất Thục Phán được mọi người mến mộ, ủng hộ, quy phục14“Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chùa cheng vùa” của đồng bào Tày”, Tcđd.

Hiện tại, còn lại dấu vết của một tòa thành ở Cao Bằng, dân gian gọi là thành Bản Phủ. Tương truyền, đây là thành của Tục Pắn (Thục Phán), người đã giành chiến thắng, được tôn làm vua nước Nam Cương sau cuộc đua tài “Cẩu chùa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua). Thành này có hai lớp tường thành đất bao bọc gợi ra truyền thống đắp thành cổ Loa sau khi An Dương Vương rời Cao Bằng xuống đóng đô ở đồng bằng. Vị trí của thành Bản Phủ, Cao Bằng khá phù hợp với vị trí của Tây Âu ở thế kỷ III TCN, hoặc vị trí của huyện Tây Vu sau khi bi nhập vào Nam Việt rồi Tây Hán15Đinh Ngọc Viện, “Qua thành Bản Phủ trở lại vấn đề Thục Phán – An Dương Vương Dương lịch sử Việt Nam” – Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ III: Việt Nam hội nhập và phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010; Nguyễn Việt, Hà Nội thời tiền Thăng Long, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 615.

Dần dần, trải qua một quá trình xây dựng, phát triển, nước Nam Cương đã trở nên cường thịnh và tiến hành cuộc đánh chiếm nước của Hùng Vương. Sau khi giành được thắng lợi, Thục Phán lập ra nước Âu Lạc.

Đặng Nghiêm Vạn và Trần Quốc Vượng căn cứ vào truyền thuyết trên, đã đưa ra một nhận định mới: Thục Phán là Tù trường một liên minh bộ lạc người Tây Âu hay người Tày cổ ờ vùng rừng núi Nam Quảng Tây và Bắc Bắc Bộ mà trung tâm hoạt động ở vùng Cao Bằng16Đặng Nghiêm Vạn – Trần Quốc Vượng, “Vấn đề An Dương Vương và lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam”, Thông báo khoa học, Tập II – sử học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội, 1966, tr. 74-82. Cũng chính nhờ việc phát hiện truyền thuyết cấu chùa cheng vùa mà Đào Duy Anh cũng thay đổi quan điểm trước kia của mình, cho rằng: “Con cháu vua nước Thục mà Thục Phán là đại biểu cuối cùng đã từ miền Tứ Xuyên và Vân Nam vào nước Nam Cương của truyền thuyết theo đường sông Lô, sông Gâm, rồi tràn sang miền thượng lưu sông cầu và sông Hữu Giang”,…”Cái tên Âu Lạc là phản ánh sự hợp nhất của hai thành phần Tây Âu và Lạc Việt”,… “Người Tày ở Tây Bắc nước ta ngày nay cũng cùng một tổ tiên với người Choang. Như vậy, người Tày chính là hậu duệ của người Tây Âu xưa”17Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1994, tr. 27-28.

Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, một số giả thuyết khác về nguồn gốc của An Dương Vương dựa trên các bản Thần phả, Thần tích, ngọc phả được giới nghiên cứu đưa ra. Trong đó, Nguyễn Linh căn cứ vào ghi chép của Hùng vương ngọc phả, ngọc phả Thánh Tản Viên và các tướng của Tản Viên cho biết: Thục Phán là “Phụ đạo xứ Ai Lao”, là “Bộ chúa Ai Lao”, đồng thời kết hợp với thư tịch cổ Trung Quốc viết về vùng Tây Nam Di, đưa ra kết luận: Thục Phán không phải là vua nước Thục ở Tứ Xuyên, mà là vua nước Tây Thục của người Ai Lao di ở vùng Vân Nam, tiếp giáp nước Văn Lang phía tây bắc. Cuối đời Hùng Vương, Thục Phán đã xâm lược Văn Lang mà dựng nên nước Âu Lạc”18Nguyễn Linh, “Bàn về nước Thục của Thục Phán”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 124, tháng 7/1969, tr. 33-51.

Thục phán An Dương Vương 1
Thục phán An Dương Vương

Năm 1969, Nguyễn Duy Hinh viết bài Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương cũng dựa trên những ghi chép trong các bộ sách cổ Trung Quốc, đã đưa ra một nhận định cho rằng: Người Lạc Việt cư trú trên một địa bàn rộng lớn từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Tây Giang. Thục Phán đứng đầu một nhóm Lạc Việt, Âu Lạc, Tây Âu hay Tây Âu Lạc cũng là một nước của người Lạc Việt do Thục Phán thành lập. Như vậy, Thục Phán tiến hành việc chiếm Văn Lang lập ra nước Âu Lạc, cũng chỉ là một cuộc đấu tranh nội bộ của người Lạc Việt19Nguyễn Duy Hinh, “Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương”, Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12 /1969, tr. 144-154. Cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, Nguyễn Duy Hinh vẫn đặt vấn đề nghi ngờ về cuộc tấn công của Ba Thục vào vùng đất Giao Chi: “Liệu rằng có một cuộc tấn công từ Ba Thục đến Giao Chi đi qua nước Điền đương thời (tỉnh Vân Nam ngày nay) hay không là một nghi vấn”20Văn minh Lạc Việt, Sđd, tr. 58. Từ đó, Nguyễn Duy Hinh cho rằng, xuất phát từ việc còn đang tồn nghi trên, nên “khi Nguyễn Bính soạn các Thần tích đã giải thích Thục Vương Tử là một chi của Hùng Vương họ Thục, chứ không phải nước Thục xa xôi21Văn minh Lạc Việt, Sđd, tr. 58. Những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, xu hướng đi tìm nguồn gốc của Thục Phán được chuyển sang địa bàn các tỉnh phía Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lào Cai dọc theo sông Hồng. Năm 1976, Đinh Văn Nhật cho rằng vùng Yên Bái nơi phát hiện những chiếc thạp đồng nổi tiếng có thể là quê hương của Thục Phán22Đinh Văn Nhật, “Đi tìm quê hương cũ của An Dương Vương Thục Phán”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 166, năm 1976, tr. 65-83. Những phát hiện khảo cổ học về thời kỳ Văn hóa Đông Sơn khá phong phú trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI của các tỉnh trên, đặc biệt bộ di vật rực rỡ của Văn hóa Đông Sơn, trong đó tiêu biểu là trống đồng loại H l, có niên đại phổ biến ở thế kỷ IV – III TCN, được phát hiện tập trung trong cương vực của Tây Âu (huyện Văn Sơn, thuộc Vân Nam và toàn bộ Quảng Tây, một phần Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai) và Lạc Việt (trung, hạ lưu sông Hồng, lưu vực sông Mã)23Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd, tr. 698, cảng làm cho việc truy tìm nguồn gốc của Thục Phán có thêm cơ sở khoa học chắc chắn.

Các tác giả bộ sách Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỳ X của Viện sử học đưa ra nhận định: “Địa bàn của Thục Phán, trước khi có nước Âu Lạc, là một vùng rộng lớn ở miền núi Lào Cai – Yên Bái, là vùng có sự lưu thông tự nhiên, nối liền với Vân Nam là quê hương của Văn hóa Điền, có giai đoạn văn hóa đồ đồng rất phát triển”. Đồng thời, các tác giả cho rằng, hai nền văn hóa đồ đồng Điền và Đông Sơn rất gần gũi với nhau. Mặt khác, do những dư chúng con cháu của nhà Thục đã sống tại vùng Vân Nam hàng trăm năm, nên chịu ảnh hưởng sâu sắc Văn hóa Điền, trở thành người Điền. Do đó, khi tiếp xúc với Văn hóa đồ đồng Đông Sơn, họ nhanh chóng trở thành chủ nhân của Văn hóa Đông Sơn. Đến khi nước Văn Lang suy yếu, họ dễ dàng kiêm tính, thay thế mà không nảy sinh mâu thuẫn đối kháng sâu sắc”24Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỳ X, Sđd, tr. 162.

Trong một tác phẩm mới được công bố năm 2010, Nguyễn Việt cũng đưa ra ý kiến tương tự về mối liên hệ giữa Văn hóa Đông Sơn và Văn hóa Điền: “Nhưng có lẽ nhờ những mỏ kim loại phù hợp như đồng, chì, thiếc ở vùng thượng lưu mà vùng lưu vực sông Hồng có điều kiện vượt lên trở thành một trung tâm trọng yếu của

Đông Nam Á thời kỳ Văn hóa Điền – Đông Sơn. Theo dòng chảy lan tỏa của đồ đồng Đông Sơn (trong đó có cả bộ phận Đông Sơn – Điền với đặc trưng nổi nhất là dao găm chắn tay hình chữ T, lưỡi cày (vũ khí hình cánh sen hay hình tim, thạp đồng dạng cao có tượng thú… và một số loại rìu xéo miền núi) đến các vùng xa hơn ở Đông Nam Á…”25Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd, tr. 221-222. Tác giả định nghĩa về Văn hóa Đông Sơn: “là một khái niệm rộng hơn bao hàm nhiều loại hình văn hóa mang tính vùng. Một trong những vùng tiêu biểu thuộc trung lưu sông Hồng (từ Cổ Loa hắt lên đến Lào Cai, Yên Bái). Loại hình này đặc trưng bởi mối giao lưu đậm nét với Văn hóa Điền ở Vân Nam – Trung Quốc”26Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd, tr. 221-222.

Nguyễn Việt dựa trên đặc điểm của một hệ thống kiếm thời Đông Sơn, đưa ra một gợi ý mới về nguồn gốc của An Dương Vương, Thục Phán. Theo tác giả: “Có một bộ phận quý tộc thuộc Văn hóa Ba Thục đã tham gia vào thành phần thủ lĩnh Tây Âu trước khi sáp nhập với Lạc Việt. Họ đã tạo ra lợi thế của Tây Âu trong cuộc sáp nhập đó và giúp “Tục Pắn” – một thủ lĩnh Tây Âu lên làm vua. Sự tham dự của các thành viên Ba Thục vào Tây Âu khá lớn, khiến người đời làm tưởng Tục Pắn nhu con cháu của triều đình nhà Thục đã bị nước Tần diệt cuối thế kỷ IV TCN”27Hà Nội thời tiền Thăng Long, Sđd, tr. 616-627. Có thể nhận thấy, giả thiết mới của Nguyễn Việt, thực ra cũng là tiếp nối xu hướng cho rằng Thục Phán – An Dương Vương có nguồn gốc ở Ba Thục, Trung Quốc nhưng cách giải thích có khác hơn và xuất phát từ góc độ văn hóa khảo cổ học. Cùng quan điểm cho rằng Thục Phán có thể có mối quan hệ với nước Thục và sau đó tỵ nạn ở Tây Âu, Lê Mạnh Hùng trong tác phẩm Nhìn lại sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ lại đưa ra cách giải thích khác: “Thục Phán có lẽ là lãnh tụ của một trong những đám đó (chỉ đội binh của các bộ tộc nông dân như của nước Văn Lang, mà tác giả nhắc ở phần trên). Tên của ông có thể có một quan hệ nào đó với nước Thục… Có thể rằng ông đã tị nạn tại Tây Âu… Có thể rằng ông cùng những người Tây Âu khác đã chạy trốn trước sức tiến công của quân Tần và tới nước Văn Lang của Hùng Vương, rồi nhân thể tiến công chiếm đoạt nước này. Điều chắc chắn ông không phải là người Lạc mà là một người Việt thuộc giòng giống Bách Việt”28Lê Mạnh Hùng, Nhìn lại sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ, Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2007, tr. 78.

Các tác giả sách Địa chí cổ Loa, trong phần Tư liệu lịch sử và các giả thuyết khoa học, đã tạm xác nhận một giả thuyết, trong đó cho rằng: “Thục Phán là một thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở phía Bắc nước Văn Lang, theo truyền thuyết của đồng bào Tày thì liên minh bộ lạc đó là nước Nam Cương gồm 10 xứ Mường (9 Mường của 9 chúa và 1 Mường trung tâm của Thục Phán) tức 10 bộ lạc hình thành, với địa bàn cư trú gồm vùng Nam Quảng Tây, Cao Bằng và có thể rộng hơn, cả vùng núi phía bắc Bắc Bộ, mà trung tâm là Cao Bằng. Nhân dân cổ Loa (Hà Nội) cũng tương truyền rằng, An Dương Vương Thục Phán vốn là “một tù trưởng miền núi”, là người quê quán gốc tích ở miền rừng núi phía Bắc”29Nguyễn Quang Ngọc – Vũ Văn Quân (đồng chủ biên), Địa chí cổ Loa, Nxb. Hà Nội, 2010.tr. 198-199

Như vậy, cả thư tịch Việt Nam và thư tịch nước ngoài, cùng các truyền thuyết dân gian ghi chép thành văn hay truyền khẩu, nhất là việc phát hiện khảo cổ học ngày càng dày đặc tại khu di tích cổ Loa – Đông Anh. Hà Nội đều khẳng định: có một nhân vật lịch sử thực sự hiện hữu là An Dương Vương, từng giữ cương vị đứng đầu Nhà nước Âu Lạc. Nhưng mặt khác, các nguồn sử liệu, truyền thuyết cũng chưa có sự thống nhất về thân thế, nguồn gốc của Thục Phán – An Dương Vương.

Cho đến nay, bước vào thập kỷ thứ 2 của thế kỷ XXI vẫn tồn tại xu hướng nhận định: “Tục Pắn” – An Dương Vương có nguồn gốc Ba Thục. Tuy nhiên, xu hướng phủ nhận những ghi chép không phù hợp với thực tế không gian, thời gian và sự thực lịch sử của một số thư tịch cổ Trung Quốc viết về Thục Phán là người Ba Thục, ngày càng được tiến triển và được sự đồng thuận cao của giới nghiên cứu.

Đồng thời, việc đi tìm những dấu vết, truyền thuyết ghi chép và chứng cứ lịch sử ở vùng phía bắc Việt Nam, phía tây nam Trung Quốc dọc theo đôi bờ sông Hồng, càng có nhiều triển vọng và kết quả. Trong những năm tiếp theo, chắc sẽ có thêm nhiều sử liệu, di vật khảo cổ học minh chứng cho nguồn gốc của Thục Phán – An Dương Vương tại vùng phía bắc Việt Nam, phù hợp với một số “giả thuyết gần đây là coi Thục Phán như người cầm đầu một bộ lạc, một liên minh bộ lạc, một “nước” nào đó gần nước Văn Lang và có quan hệ mật thiết với cư dân Văn Lang, mà theo một số nhà sử học là Thủ lĩnh của người Âu Lạc ở miền núi phía Bắc”30Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, Sđd, tr. 97.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: