Toàn bộ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ, mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt tại đây.

Dưới đây là toàn bộ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, trích cuốn Lịch sử Việt Nam – chủ biên Vũ Duy Mền

1. Tình hình Giao Chi những năm đầu Công nguyên

Nhà Tây Hán (còn gọi là Tiền Hán) bị Vương Mãng cướp ngôi vào năm 8. Từ năm 25 đến năm 220 ở Trung Quốc, nhà Đông Hán(hay còn gọi là Hậu Hán) đã thay thế triều đại Tân do Vương Mãng lập nên. Người lập nên nhà Đông Hán là Lưu Tú, vốn thuộc dòng dõi Hán, được sự ủng hộ của tầng lớp đại địa chủ và thương nhân ở Trung nguyên, trước hết là đại địa chủ vùng Hà Nam. Lưu Tú đã trấn áp được các phong trào nông dân khởi nghĩa như Lục Lâm, Xích Mi, dẹp yên được các cuộc nội loạn trong cung đình để khôi phục nhà Hán. Kinh đô của nhà Hán chuyển dịch từ Trường An (Thiểm Tây) về Lạc Dương (Hà Nam).

Trong khoảng 50 năm đầu ở thời Đông Hán, tình hình chính trị ở Trung Quốc khá ổn định. Bên ngoài, phía bắc, Hung Nô đã suy yếu, không còn khả năng đe dọa. Sau nhiều cuộc viễn chinh xâm lược của quan tướng nhà Hán, ở Trung Á đã có trên 50 nước chịu nộp cống cho Lạc Dương. Chính vì vậy, phía nam là hướng Đô quốc Hán muốn bành trướng thế lực.

Cuộc chinh phục bằng kinh tế được tiến hành ngay với chính sách “di dân khẩn thực” của chính quyền Đông Hán ở Giao Chi. Hàng nghìn tội nhân, tù binh chiến tranh và dân nghèo người Hán đã được đưa đến đây cho ở lẫn với người Việt để khai canh lập ấp. Như vậy, nhà Hán đã đạt được mục đích khai thác đất đai phương Nam và phần nào đồng hoá cư dân Việt. Nhiều địa chủ người Hán cũng di cư xuống phía nam, dựa vào chính quyền đô hộ để lấn cướp ruộng đất lập trang trại và khai thác sản vật của người dân bản địa. Và những người dân Lạc Việt, Âu Việt đã trở thành các gia nô, nô tỳ trong các trang trại của địa chủ Hán. Mô hình trang trại (bằng đất nung) đã được các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều ở các mộ Hán trên đất Việt Nam. Sách sử Việt Nam đã chứng minh nguồn gốc của Lý Bí, người lập nên nước Vạn Xuân độc lập trên đất Việt vào thế kỉ VI, mà tổ 9 đời1Minh Tú, ” về : Lý Nam Đế”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 1991, tr62-68 cũng nằm trong dòng người Hán di cư đến đất Giao Chi ở thời điểm đó.

Vào thời điểm Trung Quốc xảy ra biến loạn đo Vương Mãng diệt nhà Tây Hán rồi lập nên triều Tân, sau đó lại tiến hành một loạt cải cách về kinh tế và chính trị, các quan lại ở Giao Chỉ do nhà Tây Hán bổ nhiệm đều tỏ ra bất phục tùng chính quyền trung ương. Điển hình là Châu mục Giao Chi, Đặng Nhượng cùng Thái thú Tích Quang và nhiều Thái thú khác đều có ý đồ chống đối Vương Mãng.

Một số quan lại nhà Hán cũng tỏ sự bất bình với những chính sách của Vương Mãng nên chọn con đường di cư xuống phương Nam. Vào thời kỳ này, tổ của Sĩ Nhiếp – Thái thú Giao Chi cuối thời Hậu Hán – vốn người nước Lỗ (Sơn Đông) cũng lánh nạn đến Giao Chi, đến Sĩ Nhiếp đã được 6 đời. Thái phó Hồ Quảng đời Đông Hán cũng có ông tổ 4 đời là Hồ Cương đã trốn sang Giao Chi vào thời Vương Mãng.

Chính quyền Vương Mãng đã thi hành một số cải cách về hành chính ở châu Giao như: rời quận trị Nam Hải từ Phiên Ngung đến Yết Dương , đổi tên quận Uất Lâm thành quận Uất Binh , đổi tên quận Thương Ngô thành quận Tân Quảng, đổi tên quận Hợp Phố thành quận Hoàn Hợp, quận trị Cửu Chân từ Tư Phố đổi ra Hoan Thành, rời quận trị đến Vô Biên (Cửu Chân đình), rời quận trị Nhật Nam từ Chu Ngô đến Tây Quyển (Nhật Nam đình). Chức Thái thú cũng đổi sang Đại doãn. Đến cuối thời Tần, chính quyền trung ương của Vương Mãng suy yếu vì vấp phải sự chống đối của giai cấp địa chủ đã bị những cải cách kinh tế xâm hại về quyền lợi, cùng làn sóng khởi nghĩa nông dân ở Trung Quốc. Nhân lúc này, các Thái thú ở Giao Chi đã đóng cửa biên giới và ra mặt chống lại Vuơng Mãng. Việc cát cử, tổ chúc các hình thức trang trại và khai thác về chăn nuôi, trồng trọt được sử nhà Hán cho rằng các Thái thú như Tích Quang đã “dạy dỗ” người dân Giao Chỉ, “giáo hóa theo lễ nghĩa”, thực chất là việc thi hành các chính sách bóc lột về kinh tế và đồng hóa về văn hóa của chính quyền đô hộ phương Bắc.

khởi nghĩa hai bà trưng
Trưng Trắc – Trưng Nhị

Khi nhà Đông Hán lật đổ nhà Tân, các quan lại Giao Chi như Châu mục Đặng Nhượng, Thái thú Tích Quang… theo lời dụ của Chinh Nam Đại tướng quân sầm Bành đã quy phục và nhận chức tước của triều đình Lạc Dương.

Năm 29, Quang Vũ đế của nhà Đông Hán tiếp tục cử Tích Quang làm Thái thú ờ Giao Chi và bổ nhiệm Nhâm Diên – một viên quan trẻ – làm Thái thú ở Cửu Chân. Các quan Thái thú làm việc xa chính quyền trung ương vẫn kiêm quản việc quân sự và dân sự. Triều đình Đông Hán tiếp tục thi hành chính sách bóc lột về kinh tế đi đôi với việc đồng hoá dân Việt về lối sống, văn hóa và phong tục. Từ việc canh tác đất đai cho đến việc cưới hỏi, ăn mặc… đều phải theo “lễ nghĩa” của người Hán. Cũng có những viên Thái thú gần dân, thậm chí lấy vợ người Việt rồi sinh con cháu ở đất này.

Hậu Hán thư chép về việc Tích Quang, Nhâm Diên: “dạy cho dân cày cấy, chế tạo mũ giày, bắt đầu đặt mối lái, dân mới biết đến hôn nhân. Dựng học hiệu, dạy dân lê nghĩa…”2Nam man truyện, Q 1 16, 5b, Dần theo Lịch sứ chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 37. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép về việc Nhâm Diên khi làm Thái thú ở Cửu Chân: “Tục người Cửu Chân chi làm nghề đánh cá, đi sàn, không biết cày cấy, Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng”… lại tổ chức cưới hỏi cho người dân đến tuổi, một lúc đến 2.000 người3Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Hà Nội, 1972, tr. 89.. Thực tế, người dân Giao Chi trước thời Bắc thuộc đã biết trồng lúa nước. Chính thư tịch của Trung Quốc cũng đã phản ánh điều này. Hình ảnh bông lúa, cảnh người giã gạo bằng chày tay được khắc trên một số đồ đồng có niên đại thuộc Văn hóa Đông Sơn cũng chứng minh rằng người Lạc Việt chính là những cư dân nông nghiệp. Dĩ nhiên, nông nghiệp ờ thời kỳ này chỉ phát triển ở vùng đồng bằng lưu vực sông Hồng, còn khu vực miền núi chủ yếu vẫn là săn bắn, hái lượm, hoặc mới biết đến nông nghiệp làm nương rẫy – trồng lúa nương hay trồng rau, củ. Ngay chính ở vùng trung tâm của đất Cửu Chân xưa (tức thuộc Thanh Hóa ngày nay) các nhà khảo cổ học đã tìm được rất nhiều công cụ bằng đồng thau như xẻng và lưỡi cày đồng có niên đại xác định vào cuối thời Tây Hán và đầu thời Đông Hán (thế kỷ I TCN đến thế kỷ I SCN).

Như vậy, không thể nói như sử nhà Hán rằng “người Cửu Chân chưa biết cày bằng trâu bò”4Trần Quốc Vượng, Mấy nét sơ lược về tình hình sản xuất nông nghiệp Việt Nam dưới thời Bắc thuộc. Thông báo khoa học, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1963, tr 98. Nhưng trình độ phát triển của vùng núi có sự chênh lệch với đồng bằng nên dân ở Cửu Chân thường thiếu ăn và phải nhờ nhiều vào thóc lúa mang từ Giao Chi tới. Với những thủ thuật trị dân khéo léo, có thể những viên Thái thú của nhà Hán như Tích Quang, Nhâm Diên… đã đem những kinh nghiệm sản xuất của người Trung nguyên, bổ sung vào kho tàng kinh nghiệm sản xuất sẵn có của người dân Việt. Dòng người Hán di cư theo chính sách đồng hóa của chính quyền đô hộ cũng là một kênh chuyển tải kinh nghiệm sản xuất và văn hóa Hán đến đất Việt. Kết quả là, diện tích sẽ được mở mang và sản xuất phát triển sẽ đem lại nguồn lợi về phú thuế cho chính quyền đô hộ và đời sống của người dân Giao Chi cũng sẽ được cải thiện phần nào.

về văn hóa, trải qua gần hai thế kỷ thống trị của họ Triệu và nhà Tây Hán, cùng với sự nhập cư của những người Hán thuộc nhiều tầng lớp ở những thời điểm khác nhau, dẫn đến sự xâm nhập của văn hóa Trung Hoa vào xã hội Lạc Việt. Bên cạnh việc chính quyền đô hộ thi hành chính sách đồng hóa thông qua những hành động cưỡng bức người dân bản địa phải học tập và làm theo những phong tục lễ nghi Trung Hoa như tang ma, cưới hỏi, phục trang…, chính cơ sở kinh tế phong kiến nảy sinh và dần hoàn thiện cũng tạo điều kiện cho sự tiếp thu những yếu tố văn hóa mới. Bản lĩnh văn hóa cổ truyền của người dân bản địa qua đó cũng được va chạm, thử thách để chứng minh sức mạnh trường tồn. Những trường học phong kiến được các đại biểu của chính quyền đô hộ như Tích Quang, Nhâm Diên… lập ra nhằm vào con cháu các quan lại ở Giao Chi để đào tạo nên những thuộc viên phục vụ cho chính quyền đô hộ. Nho giáo theo đó được truyền bá vào xã hội Lạc Việt, thành cơ sở cho chính quyền phong kiến nhà Hán trên đất Giao Chỉ.

2. Nguyên nhân cuộc khởi nghĩa

Năm 34, Thái thú Tô Định được cử đến Giao Chi thay Tích Quang. Đây là một tên quan nổi tiếng gian tham và tàn bạo. Sách Lĩnh nam chích quái viết: “Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là Tô Định tham lam tàn bạo, người trong châu quận khổ vì hắn”5Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái. Truyện Hai Bà Trình Linh phu nhân họ Trưng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Các sách sử Trung Quốc cũng khẳng định đây là một viên quan tàn ác và bạo ngược. Việt kiệu thư viết: “Thái thú Tô Định tham lam độc ác, dùng pháp luật trói buộc”6Lý Văn Phượng, Việt kiệu thư, Q 3. Dần theo: Nguyễn Vinh Phúc, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 1983, tr. 79. Chính sách áp bức bóc lột của nhà Đông Hán đối với người dân Giao Chi ngày càng tàn tệ. Người dân không những bị cướp ruộng đất, còn phải nộp các loại thuế muối, thuế sắt, thuế sản vật… dưới hình thức nộp cong. Các quan lại cấp huyện dòng dõi các Lạc hầu, Lạc tướng bị thu hẹp về quyền lực chính trị và kinh tế, bị thúc ép, đè nén nên rất bất bình. Bất chấp sự khác biệt trong phong tục tập quán và truyền thống của người Việt, Tô Định đã sử dụng luật nhà Hán làm công cụ trấn áp, khủng bố sự phản kháng của các quan lại địa phương và người dân Giao Chỉ.

Vào năm Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40, một cuộc khởi nghĩa lớn của người dân Giao Chỉ do hai người phụ nữ họ Trưng khởi xướng đã được sự ủng hộ nhiệt thành của nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, lật đổ chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán, giành được nền độc lập. Theo ghi chép của các sách sử Việt Nam và Trung Quốc, Hai Bà Trưng tên thật là Trưng Trắc và Trưng Nhị, vốn là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, về thân thế và nguồn gốc của Hai Bà, sách Lĩnh Nam chích quái cho rằng hai Bà mang họ Hùng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư thì ghi rõ hai Bà: “tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh Phong châu”7Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Hà Nội, 1972, tr. 91. Theo truyền thuyết dân gian và thần tích ở miếu Mèn, thần tích đền Nam Nguyễn, Hai Bà Trưng là con của bà Man Thiện, người làng Nam Nguyễn. Ở đây tương truyền có mộ của bà mà người dân quen gọi là gò Mả Dạ (Dạ là tiếng Việt cổ chi người đàn bà đáng kính trọng). Như vậy, dù cho rằng Hai Bà mang họ nào đi nữa, có một điều tất cả các loại thư tịch đều khẳng định, Hai Bà là dòng dõi quý tộc Lạc Việt.

Bà Trưng lấy chồng là Thi Sách, cũng là con trai một Lạc tướng đất Chu Diên. Đây là cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” giữa hai dòng họ quý tộc trên đất Giao Chỉ. Sử cũ đều ghi quê hương của Hai Bà là huyện Mê Linh, thuộc đất Phong Châu. Đây là vùng đất cổ của của các vua Hùng. Thời Hán. Mê Linh là lỵ sở của huyện này, đồng thời là quận tri quận Giao Chỉ và trị sở của bộ Giao Chỉ. Theo chi dẫn của sách Đại Việt sử ký toàn thư. “Thời Tây Hán, trị sờ của Thái thú (Giao Châu) tại Long Uyên (tức Long Biên). Thời Đông Hán tại Mê Linh tức Yên Lãng”8Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Hà Nội, 1972, tr. 89. Các học giả sau này như Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ hay Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhắc đến địa danh Mê Linh với chú dẫn như vậy. Các nhà sử học ngày nay đã căn cứ vào đó để xác định quê hương Hai Bà nằm ở tả ngạn sông Hồng – vùng đất có tên Hạ Lôi thuộc huyện Yên Lãng cũ, nay là huyện Mê Linh, Hà Nội. Tại khu vực này có đền thờ Hai Bà, các mộ Hán cổ và khá nhiều di tích, truyền thuyết liên quan đến thời kỳ Hai Bà Trưng. Nhưng những năm gần đây, một số nhà khoa học lại đưa ra ý kiến xác định vị trí của huyện Mê Linh thời Hai Bà Trưng nằm ở hữu ngạn sông Hồng mà trung tâm là khu vực giáp ranh các huyện Thạch Thất, Quốc Oai (Hà Nội). Tại đây cũng có làng mang tên Hạ Lôi (còn có tên Nôm là Kẻ Lói) cùng hàng loạt các di tích, đền thờ của Hai Bà Trưng9Tham khảo các bài của Đinh Văn Nhật. “Huyện Mê Linh thời Hán”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sứ, số 172, 1977; “Đất Mê Linh trung tâm chính trị, quân sự và kinh tế của huyện Mê Linh”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 190-191,1980.

Tuy nhiên, giả thuyết này cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu để có thêm sức thuyết phục. về nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới thời thuộc Hán, các sách sử Việt Nam và Trung Quốc đều cho rằng vì Tô Định bạo ngược đã giết Thi Sách nên Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy. Sự thật dưới ách thống trị của quan quân nhà Hán mà đại biểu chính thức lúc bấy giờ là tên Thái thú tham lam tàn bạo Tô Định, người dân Giao Chỉ phải chịu sự bóc lột nặng nề về kinh tế, áp bức về chính trị và đồng hóa về văn hóa. Từ người dân thường cho đến các Lạc hầu, Lạc tướng ở địa phương đều hết sức phẫn nộ, bất bình. Việc Tô Định giết hại Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc, một người thuộc hàng ngũ quan nhỏ ở địa phương, chính là hành động trấn áp thẳng tay sự phản kháng các tầng lớp quý tộc bản xứ. Qua các tài liệu ở dạng thần tích, thần phả ở vùng Hà Tây cũ (nay là Hà Nội) và Vĩnh Yên có thể thấy khá nhiều Lạc tướng, Huyện lệnh bị hại bởi tên Thái thú cường bạo này. Thần tích làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức kể về việc Tô Định đã giết Nguyễn Viên là Trưởng doanh Cổ Châu (Thanh Oai) vì ông này không chịu phục tùng. Thần tích làng Cổ Ngõa (xã Phương Đình huyện Đan Phượng) cũng cho biết Tô Định đã giết Nguyễn Anh là quan Doãn ở Đan Phượng vì tội ông không chịu nộp thuế cho Thái thú. Thần tích làng Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh cũng kể Trưởng bộ hộ Vũ Ninh là Đinh Đạm cũng bị

Tô Định giết hại. Danh sách các nạn nhân của Tô Định còn có các Lạc tướng vùng Hạ Trì là Hùng Linh, Lại viên ở Thiên Trường là Cao Cự v.v…10Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 82-83 Những hành động vô đạo của Thái thú Tô Định đã thổi bùng lên ngọn lửa âm ỉ cháy trên đất Giao Chi bấy lâu.

3. Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị vốn là con gái Lạc tướng, từ nhỏ đã tinh thông võ nghệ. Theo thần tích ờ vùng Quốc Oai, thầy dạy võ cho Hai Bà là Đỗ Năng Tế, sau trở thành một chủ tướng trong đoàn quân khởi nghĩa. Một số quyển sử Trung Quốc như Hậu Hán thư, Thủy kinh chú đều công nhận Tnmg Trắc là người “rất hùng dũng”, “có can đảm, dũng lược”…

Theo ghi chép của hầu hết các sách sử Việt Nam và Trung Quốc, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổ ra vào mùa Xuân năm Canh Tý (khoảng tháng 3 năm 40). Diễn biến của cuộc khởi nghĩa đã được sử sách của nước ta ghi lại nhưng chỉ bằng vài dòng sơ sài. Sách Việt sử lược ghi: “Tô Định dùng pháp luật trói buộc. Trắc giận bèn cùng em gái là Nhị đem binh Phong Châu đánh hãm các quận huyện. Cửu Chân, Nhật Nam đều hưởng ứng. Bà lược định 65 thành, tự lập làm Vua”11Việt sử lược, Sđd, tr. 24. Các sách sử đời sau như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục… cũng đều chép lại với nội dung tương tự. Bằng những nguồn sử liệu khác như thần tích, thần phả, truyền thuyết… với sự phân tích, giám định, các nhà nghiên cứu có thể bổ sung thêm những chi tiết về diễn biến của cuộc khởi nghĩa này.

Hầu hết các tư liệu đều cho rằng Hai Bà Trưng khởi binh sau khi Tô Định sát hại Thi Sách12Riêng Thủy kinh chú lại cho rằng T’rưng Trắc cùng Thi Sách khởi binh. Nợ nước, thù chồng đã khiến người phụ nữ can đảm cùng em gái dấy binh. Các nguồn thần phả và truyền thuyết cũng cho biết cuộc khởi nghĩa được mở đầu bằng cuộc tụ nghĩa tế cờ, hội thề đã diễn ra ở cửa sông Hát thuộc khu vực Mê Linh lúc đó (nay là Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Lời thề sau này đã được diễn lại bằng lời thơ trong sách Thiên Nam ngữ lục13Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng…, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 264

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin lập lại nghiệp xưa Vua Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.

Thần tích ở Hạ Lôi và Yên Lãng cũng ghi về sự kiện này của nghĩa quân: “tổ chức đại hội ở bãi Trường Sa”. Truyền thuyết ở khu vực Mê Linh còn cho biết đại hội được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng 9. Trong ngày này, quân sĩ tập trung bạt ngàn ở bãi sông. Có cả thuyền chiến đậu ở cửa sông Hát14Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 91.

hai bà trưng
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Cũng theo ghi chép của các thần tích, người ta đoán định số quân tham gia khởi nghĩa có thể lên đến 3 vạn người. Thần tích hai làng Hạ Lôi (Yên Lâng) và Hát Môn chép: “Trưng Vương khởi binh được 1 năm, tướng sĩ nam nữ có tới 3 vạn người”. Con số có thể chưa chuẩn xác nhưng theo các nhà nghiên cứu, chi căn cứ vào số nhân khẩu của quận Giao Chỉ vào khoảng 74 vạn người thì số lượng nghĩa quân như vậy cũng không phải là quá mức15Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 96. Họ là những người dân của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đã tập hợp dưới cờ của hai nữ tướng họ Trưng vùng lên đánh đổ ách đô hộ của nhà Đông Hán.

Về đội ngũ tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, các sách sử không thấy ghi chép, nhưng, hệ thống thần tích, thần phả trên khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ cung cấp cho chúng ta rất nhiều tài liệu bổ sung (dĩ nhiên những nguồn tư liệu này vẫn cần thiết phải thẩm định thêm bằng những phương pháp nghiên cứu khoa học). Đó là các vị tướng nổi tiếng đã và đang được thờ phụng trong hàng trăm đình, đền trên một địa bàn rộng lớn bao gồm Hà Nội, các tinh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng… như các Bà, các Cô: Diệu Tiên, Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Thị Hoa, Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, Xuân Nương, Liễu Giáp, Ả Tắc, Ả Di, Ả Lã, Nàng Đê…

Ngoài ra, còn có rất nhiều vị tướng nam cũng được truyền tụng là các vị có nhiều công tích trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng như Đỗ Năng Te, ông Đống, ông Nà, ông Cai, Hoàng Đạo, Đông Bảng, Đô Chinh, Đô Dương, v.v… Chắc chắn trong hàng ngũ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng có nhiều người là thủ lĩnh những đội quân ở địa phương và cũng có nhiều người là con cháu các dòng họ quý tộc Lạc Việt; bời ở các địa phương, họ chính là những người có uy tín, có quyền lực chính trị và kinh tế. Thần tích ở các địa phương cũng nhắc đến những vị tướng của Hai Bà đem quân sĩ từ nhiều vùng miền khác nhau đến tập trung dưới cờ khởi nghĩa. Ở phía bắc có bà Nguyệt Đạo ở Tây Cốc, hai ông Trần Tuấn và Vương Đạo ở Phương Trung (Phú Thọ). Phía tây có Ả Nàng ở Kim Phượng (Thanh Sơn, Phú Thọ). Phía đông có bà Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng), bà Thánh Thiên ở Ngọc Lâm (Yên Dũng, Bắc Giang), bà Thánh Hậu ở Hạ Phán (nay thuộc huyện Quỳnh Côi, Thái Bình).

Phía Nam có bà Chu Tước ở Miếu Môn (Chương Mỹ, Hà Nội), bà Trinh Thục ở Ngọ Xá (Mỹ Đức, Hà Nội), ba chị em Chiêu Nương ở Xà Cầu, ứng Hòa (Hà Nội)16Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 97… Qua thần tích ở đền Càn, xã Kê Sơn, Lạng Giang, người’ ta còn thấy có cả quan chức người Hán tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà. Đó là hai ông Đô Thiên và Minh Giang, vì căm giận triều đình nên chạy sang Giao Chi đầu quân chống lại nhà Hán17Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 109.

Việc người khởi xướng cuộc nổi dậy đầu tiên chống lại chính quyền đô hộ thời Hán là hai người phụ nữ và những tướng lĩnh tham gia phong trào phần lớn là phụ nữ chứng tỏ có thể tàn dư của chế độ mẫu quyền vẫn còn khá sâu sắc trong xã hội của người Lạc Việt lúc bấy giờ .

Mùa Xuân năm Canh Tý (năm 40), Hai Bà Trưng từ đất Phong Châu đưa quân đi đánh các quận huyện. Có lẽ trước tiên quân khởi nghĩa tiến công các đồn trại và trị sở của quận Giao Chỉ ở Mê Linh. Tiếp theo đó là tiêu diệt các đồn sờ ở huyện Tây Vu, chiếm thành Cổ Loa. Thần tích đền Mỵ Châu ở Cổ Loa nói đến việc Hai Bà Trưng đã kéo quân qua đây. Từ Cổ Loa, nghĩa quân dùng thuyền vượt sông Hoàng, sông Đuống rồi xuôi sông Dâu đánh chiếm thành Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), đây chính là châu trị và quận trị của quận Giao Chỉ. Bằng cuộc tấn công chiến lược, nghĩa quân Hai Bà Trưng đã tiến thẳng đến thủ phủ của chính quyền Đô hộ nhà Hán. Sách sử của ta đã ca ngợi khí thế của quân sĩ: “Trưng Trắc thực là hùng dũng, đi đến đâu như có gió cuốn”18Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Q3, Bản dịch của nhóm Dương Thị The, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 73. Hai Bà còn liên lạc, phối hợp với các lực lượng nổi dậy ở các địa phương. Truyền thuyết về Bà Man Thiện cũng kể về việc bà đã đi khắp vùng núi, vùng biển để liên kết với các Lạc hầu, Lạc tướng, Huyện lệnh, Hào trướng ở các địa phương. Thần tích làng cổ Ngõa, xã Liên Minh (Đan Phượng, Hà Nội) chép việc bà Hải Diệu – một tướng của Hai Bà người làng này – đã lên đường vào Cửu Chân ngay sau hội thề ở Hát Môn19Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Tnmg ở Hà Nội, Sđd, tr. 105

Bất ngờ và hoảng sợ trước sức tấn công mãnh liệt của quân khởi nghĩa, Thái thú Tô Định cùng lũ quan quân nhà Hán không chống đỡ nổi. Tô Định phải cải trang “cắt tóc, cạo râu”, bỏ chạy một mạch về Nam Hải. Sử Trung Quốc sau này còn ghi lại lời Mã Viện tố cáo sự hèn yếu của Tô Định: “Thấy tiền thì giương mắt lên, thấy địch thì cụp mắt xuống”. Có lẽ, sau trận tấn công chiến lược phá tan được thủ phủ của chính quyền đô hộ nhà Hán ờ quận Giao Chi, tin tức chiến thắng truyền đi và các quận khác như Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nhân đó mà nổi dậy. Điều này đã được chính sử của ta xác nhận: “Người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng”20Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập I, Sđd, tr. 114.

Tô Định đã xuống tay giết Thi Sách vào thời điểm trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra21Có thể Tô Định đã phát hiện ra điều gì đó trong sự chuẩn bị của nghĩa quân nên đã giết Thi Sách (TG). Điều này đã khiến vị nữ tướng họ Trưng ra trận trong tâm thế phải “trả thù chồng, đền nợ nước”. Sách Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ còn dẫn theo dã sử và cho biết thêm một chi tiết: “Lúc Vua (túc Bà Trưng) xuất quân, tang chồng chưa hết, bà trang điểm rất đẹp, các tướng hỏi, bà nói: Việc binh không để ảnh hưởng. Nếu giữ lễ mà làm xấu dung nhan thì nhuệ khí tự nhiên suy kém. Cho nên ta mặc đẹp để mạnh thêm màu sắc của quân, và khiến cho bọn giặc trông thấy động lòng, lợi là chỉ tranh đấu, thì dễ giành phần thắng. “Các tướng nghe bà nói vậy bèn tạ từ và tự thấy “mình không theo kịp” chí lự đàn bà”22Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr. 73.

Cuộc nổi dậy đồng loạt với khí thế ngút trời vào năm Canh Tý trên đất Giao Chỉ dẫn đến kết quả quân khởi nghĩa đã thu phục

được 65 thành. Hầu hết các sách sử của ta đều ghi nhận Hai Bà đã “lược định được 65 thành” nhưng riêng Ngô Thì Sĩ lại cho rằng con số thực chỉ là 56 thành. Ông đã viết: Hai Bà “chiếm được đất đai 56 thành dễ như người phủi bụi trên rương hòm, khiến cho các quan thú, quan úy cai trị đã 150 năm nay cũng bó tay chẳng làm gì được”23Ngô Thì Sĩ cho rằng các sách sử trước kia của ta theo sử nhà Hán đã chép lại sai, bởi từ thời Đông Hán đã chia đất Nam Việt thành 7 quận, có tổng số 56 huyện, mỗi huyện là 1 thành.- Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr. 73.

Còn Lê Văn Hưu đã từng viết những dòng đầy tự hào về chiến công của Hai Bà: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước và xưng Vương dễ như trở bàn tay”24Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr. 74. Như vậy, sau khi đã đánh đổ được chính quyền đô hộ nhà Hán, Bà Trưng đã xưng Vương, sách sử nước ta đều ghi ràng Hai Bà “tự lập làm Vua, đóng đô ở Mê Linh”. Đây chính là sự khẳng định quyền độc lập tự chủ của quốc gia25Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể thời đó Hai Bà chưa đặt quốc hiệu. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca đã ghi lại một cách tự hào về sự kiện này:

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Trưng Vương lên ngôi được 3 năm. Chúng ta chưa tìm được tư liệu nào cho biết Hai Bà đã điều hành, xây dựng đất nước ra sao ? Duy nhất Thủy kinh chú cho biết Hai Bà đã xá thuế 2 năm cho dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Có tư liệu cho biết thời kỳ này đã có luật lệ. Sách Hậu Hán thư có ghi khi Mã Viện sang đàn áp cuộc khời nghĩa của Hai Bà Trưng đã có bản tâu về cho vua Hán nói rằng: “luật Việt khác luật Hán hơn 10 điều”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây có thể là thứ luật tập quán (tập quán pháp) chứ không phải thứ luật mang tính pháp chế, loại luật này có thế đã được lưu hành từ trước thời Hai Bà Trưng26Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Tnmg ở Hà Nội, Sđd, tr. 117. Có thể Trưng Vương vẫn duy trì hệ thống quản lý của nhà Hán lập nên, nhưng dùng người Việt để quản lý điều hành.

4. Cuộc chiến chống mã viện

Nghe tin Trưng Trắc khởi nghĩa và xưng vương, vua Quang Vũ nhà Hán đã lệnh cho Mã Viện chuẩn bị tấn công xâm lược nước ta. Mã Viện là một lão tướng nhiều kinh nghiệm chinh chiến, được vua Hán phong chức Phục Ba Tướng quân, gấp rút tiến hành chuẩn bị quân lương, vũ khí và hậu cần. Đi theo Mã Viện còn có các tướng  như Trung lang tướng Lưu Long, Lâu thuyền Tướng quân Đoàn Chí, Bình Lạc hầu Hoàn Vũ… Các quận Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chi được lệnh sắm sửa xe cộ thuyền bè, mở mang cầu đường, khơi thông sông núi chuẩn bị cho cuộc tấn công này.

Quân số của Mã Viện được tuyển ở các quận Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô khoảng 2 vạn người, trong đó có 1.200 quân tinh nhuệ, cùng 2.000 cỗ xe ngựa, các loại thuyền lớn nhỏ.

Đội quân của Mã Viện chia theo 2 cánh thủy và bộ xuất phát từ Hồ Nam xuống Quảng Tây, Quảng Đông, tới Hợp Phố là nơi hai cánh quân hợp với nhau để cùng tiến vào Giao Chỉ. Tại đây, Lâu thuyền Tướng quân Đoàn Chí bị chết nên Mã Viện được giao thống suất cả quân thủy và bộ. Từ đây chiến thuyền của quân Hán men theo ven biển Hạ Long, qua miền Hồng Quảng rồi theo đường sông Bạch Đằng mà tiến đến Lục Đầu. Cánh quân bộ hành quân men theo ven biển, tức con đường Móng Cái – Tiên Yên – Uông Bí – Đông Triều – Phả Lại ngày nay. Hai cánh quân thủy bộ đều do Mã Viện chỉ huy nên không thể đi cách nhau quá xa. Ở tuyến đường này, quân Hán phải bạt rừng phá núi đến hơn nghìn dặm. Mục tiêu của hai cánh quân là hội quân ở Lục Dầu trước khi tiến sâu vào vùng Tây Vu, Lãng Bạc.

Trước những động thái của triều đình nhà Hán, chắc chắn chính quyền của Trưng Vương cũng phải có sự chuẩn bị đối phó. Không có tư liệu từ chính sử nhưng qua các nguồn truyền thuyết và thần tích thần phả, có thể thấy Trưng Vương đã bố trí các bộ tướng chi huy quân địa phương đóng ở những vị trí quan trọng. Ở vùng biên giới phía bắc có bà Thánh Thiên trấn giữ đồn trại Ngọc Lâm (Bắc Giang), vùng biển có các bà Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng ngày nay), bà Bát Nàn quản vùng Tiên La (Duyên Hà, Thái Bình), bà Phạm Thị Hồng ở vùng Tức Mặc (Nam Định)…27Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr. 239-240

khoi-nghia-hai-ba-trung
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Ở vùng sông Hồng, sông Lô, sông Tích, sông Đáy có thể thấy hệ thống các di tích về Hai Bà Trưng dày đặc. Dường như quân đội cùa Hai Bà đã lợi dụng những con sông này để lập nên phòng tuyến bào vệ kinh đô Mê Linh28Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỳ X, Sđd, tr. 240

Ven sông Lô (vùng đất Đoan Hùng, Phú Thọ ngày nay) có Trần Tuấn đóng ở Phương Trung, Hùng Dũng ở Quế Lâm, hai tướng là Mạnh Đạo, Nguyệt Diện đóng ở Tây Cốc.

Ven sông Hồng có Ả Lan đóng ở Văn Lang (Hạ Hòa, Phú Thọ ngày nay); Xuân Nương đóng ở Hương Nha, Hương Nộn; Thiều Hoa ở Hiền Quan (Tam Nông); Ngọc Trinh ở Đồng Hòa, Đồng Vịnh ở Thượng Lập (Vĩnh Phúc). Vùng đất Mê Linh cũ có Hồ Đề ở Tráng Việt, Vĩnh Gia ở Chu Phan… Đặc biệt có nhân vật bà Phật Nguyệt được cử giữ chức “quản lĩnh Thượng Thao giang”…

Ven sông Đáy là vùng tập trung khá nhiều di tích cho thấy các tướng lĩnh của Hai Bà đã có mặt ở đây. Bên tả ngạn có Hải Diệu ở Ngõa Thượng, Lôi Chấn ở Tháp Miếu (Đan Phượng), Ả Lã, Nàng Đê ở Yên Lộ, Nghĩa Lộ (Hoài Đức), Vương Cai ở Thượng Thanh (Thanh Oai), Chiêu Trung ở Yên Trường (ửng Hòa). Bên hữu ngạn có Hoàng Đạo ở Hạ Hiệp (Phúc Thọ). Ngọc Ba ờ Kim Cốc (Chương Mỹ), Nguyễn Lai ở Tuy Lai (Mỹ Đức), Cao Thị Lỗ ở Thạch Tổ (Thanh Liêm). (Toàn bộ các địa điểm ven sông Đáy kể trên này đều thuộc về Hà Nội).

Ven sông Đuống có lẽ cũng có một số đồn trại của quân đội Hai Bà với các tướng lĩnh chỉ huy là ông Đống, ông Hựu ở Kim Hồ (Gia Lâm, Hà Nội), Ả Tắc, Ả Di ở Văn Quan (Thuận Thành, Bắc Ninh), Ả Lã, Rồng Nhị, Tĩnh Trai (Gia Lương, Bắc Ninh)…

Theo truyền thuyết, những người thân trong gia đình Hai Bà Trưng như bà Man Thiện (mẹ đẻ của Hai Bà) cũng lập một đồn riêng ở Nam Nguyễn. Bà Trung Nhị cùng chồng là Hùng Nguyên có đồn trại  ở An Duyên (Thường Tín), ông thầy dạy võ của Hai Bà là Đỗ Năng Tế thì đem quân vào đóng tận Cư Phong (Cừu Chân)…29Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 120

Thư tịch Trung Quốc chi ghi vắn tắt là đầu năm 42, quân Mã Viện đã tới vùng Lãng Bạc. Nhưng qua một vài tư liệu cho biết: quân Mã Viện vừa qua biên giới đã đụng độ với một toán quân của Hai Bà Trưng do bà Thánh Thiên chi huy và chính trận chiến này đã làm chậm tốc độ bước tiến của quân Mã Viện. Trước khi đến được vùng Lãng Bạc, đại quân của Mã Viện đã phải dừng lại ở đất Tây Vu, đó là điều các sách sử của nhà Hán đều công nhận. Huyện Tây Vu vốn có trung tâm là thành Cổ Loa, kinh  đô cũ của nước Âu Lạc. Thần tích làng Gia Lộc ở đông bắc thành Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội) cũng ghi về vị tướng

Đông Bảng đã hy sinh khi chặn đoàn quân Mã Viện30Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 129. Có nhiều giả thiết cho rằng tại đây đã diễn ra một trận kịch chiến giữa quân Mã Viện và quân của Hai Bà. Học giả Đào Duy Anh cho rằng quân nhà Hán nhằm thẳng tới Mê Linh nhưng vì vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân Hai Bà tại Tây Vu, nên cuối cùng phải rút về Lãng Bạc31Cùng quan điểm với Đào Duy Anh, Nguyễn Vinh Phúc khẳng định đã có một trận Tây Vu xảy ra và quân Hán bị thua nghĩa quân Hai Bà Trưng.

Lãng Bạc, nơi Mã Viện đóng đại quân, là vùng đồi núi phía Nam thị trấn Từ Sơn ngày nay32Về vị trí của địa danh Lãng Bạc có rất nhiều giả thuyết. – Các sử gia đời xưa cho rằng đó là vùng Hồ Tây, nội thành Hà Nội bây giờ. – Từ ý kiến của các học giả người Pháp như H. Maspéro, ngày nay giới nghiên cứu đã khẳng định Lâng Bạc ở vùng đồi núi huyện Tiên Du. – Xem thêm Đinh Văn Nhật, “Vùng Lâng Bạc về thời Hai Bà Trưng”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 155-156, 1974. Có lẽ vào những năm đầu Công nguyên đây là nơi có vị trí chiến lược vì chính Triệu Đà cũng đã từng lập đại bản doanh ở vùng núi Vũ Ninh, sau lần bại trận ở Cổ Loa. Triệu Đà cũng đóng ở vùng Tiên Du, điều này đã được các sách sử của ta xác nhận. Từ vị trí này, quân Hán có thể khống chế được một vùng rộng lớn trong đó có Long Biên, nằm trên trục đường giao thông bộ quan trọng nối liền trung tâm Giao Chỉ thông sang Trung Hoa theo hành lang Móng Cái, Tiên Yên, Uông Bí, Đông Triều, Phả Lại, Luy Lâu. Trục đường này lại gần như song song với hai con sông là sông Thiếp ở phía bắc và sông Đuống ở phía nam, rất tiện lợi cho việc phối hợp tác chiến giữa hai đoàn quân thủy và bộ.

Đây là lúc thời tiết đang chuyển từ Xuân sang Hạ, trời đang nóng dần lên và mưa ẩm ướt. Đại quân vừa di chuyển một chặng đường dài mỏi mệt, lại gặp thời tiết nóng ẩm, nên bệnh dịch phát sinh. Viên tướng Hàn Vũ đã bị chết vì bệnh. Tình cảnh khốn đốn khiến Mã Viện cũng tỏ ra chán nản. Hậu Hán thư có ghi lại câu nói của Mã Viện với thuộc hạ: “Lúc ta đang ờ giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Vu), quân giặc chưa dẹp được, dưới thì nước lụt, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thấy diều hâu đang bay bỗng sa xuống nước chết”. Mã Viện còn tự trách mình: “Ham giàu sang, thích công nghiệp là tự làm khổ mình”.

Sau khi đã quan sát huớng tấn công của quân địch, từ Kinh đô Mê Linh, Hai Bà Trưng đã kéo quân qua Cổ Loa, tấn công quân Mã Viện ở Lãng Bạc.

Đây là một trận đánh lớn của nghĩa quân, quân ta đã tiến công với khí thế quyết liệt trong vài ngày, nhưng về lực lượng cũng như vũ khí, quân Hai Bà đều không thể địch lại quân Hán, kết quả là nghĩa quân bị chết hơn 1.000 người và bị bắt hơn 1 vạn (theo Hậu Hán thư).

Bàn về trận Lãng Bạc, các nhà nghiên cứu về lịch sử và quân sự đều cho rằng, quân ta đã vấp phải sai lầm về chiến thuật trong trận đánh này.

Về phía quân địch, mặc dù lúc này quân tướng Mã Viện đã có dấu hiệu mỏi mệt do đường xa và không quen thủy thổ, lam chướng nhưng đây vẫn là một đội quân chinh chiến có kinh nghiệm với lực lượng đông đảo và vũ khí hoàn bị. Bản thân Mã Viện đã khá dày dạn trong các cuộc chinh phạt. Hai Bà Trưng và đội quân chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, lại chọn cách đối đầu trực tiếp cùng mũi chủ công của quân địch sẽ không tránh khỏi sự thất bại nặng nề. Có lẽ trong hoàn cảnh như thế, việc trường kỳ kháng chiến, lợi dụng địa hình địa vật, lấy nhỏ đánh lớn, tiêu hao dần quân địch, đợi khi chúng suy yếu mới làm trận tổng phản công… sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn.

Sau thất bại ở Lãng Bạc, Hai Bà Trưng phải lui binh. Có lẽ sau một thời gian ngắn cầm chân quân địch ở Cổ Loa và thành Mê Linh, lực lượng còn lại phải lui hẳn về Cấm Khê. Vùng Cấm Khê trước đây được xác định thuộc huyện Yên Lãng (Mê Linh, Hà Nội), nay có nhiều căn cứ để cho rằng cấm Khê (tức thung lũng Suối Vàng), ở chân núi Ba Vì33Đinh Văn Nhật, “Đất cấm Khê, căn cứ cuối cùng của Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa Mê Linh năm 40-43”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 148-149,1973, tiếp liền với miền núi hiểm trở chạy dài cho tới Tam Điệp (Ninh Bình), ngăn cách vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ. Đây là một căn cứ phòng ngự thích hợp.

Theo Hậu Hán thư, mục Mã Viện truyện chép: “Viện đuổi bọn Trưng Trắc đen Cấm Khê, đánh bại họ mấy lẩn”. Điều này chứng tỏ trận chiến diễn ra ở đây rất ác liệt. Quân Hán giao tranh với quân Hai Bà nhiều lần. Trận Lãng Bạc diễn ra vào mùa Xuân năm 42 và phải đến đầu Hè năm 43, quân Hán mới đánh bật được quân Hai Bà ra khỏi căn cứ cấm Khê. Trận cấm Khê là cuộc đọ sức cuối cùng của đội quân chủ lực do Hai Bà lãnh đạo. Nghĩa quân đã chiến đấu kiên cường, nhưng do sự chênh lệch về quân số, cũng như trình độ tác chiến, quân Hai Bà bị tổn thất lớn34Theo sử nhà Hán, chi riêng cánh quân của Lưu Long đã tiêu diệt hơn 1.000 nghĩa quân và bắt sống 2 vạn người, Hai Bà đã anh dũng hy sinh tại trận tiền. Hậu Hán thư chép rằng, Mã Viện giết được Hai Bà và đem đầu về tận kinh đô Lạc Dương. Đại Việt sử ký toàn thư của ta ghi: “Trưng nữ vương cùng em gái là Nhị chống cự với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết”35Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Hà Nội, 1972, tr. 93. Các sách sử của ta đều chép như vậy. Nhưng theo truyền thuyết thì Hai Bà đã chạy đến cửa sông Hát và cùng tuẫn tiết ở đó:

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,

Chị em thất thế phải liều với sông.

Theo Hậu Hán thư, sự kiện này diễn ra vào tháng 4 năm Kiến Vũ thứ 19 tức khoảng tháng 5 năm 43. Các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng hy sinh trong trận cấm Khê rất nhiều. Chi riêng trong vùng Hà Nội, có thể thống kê được như sau36Khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 143:

Địa phương Tên các tướng lĩnh
Đan Phượng Ả Tú, Ả Huyền, À Cát, Hải Diệu
Hoài Đức Ả Lã, Nàng Đê, Nguyễn An 
Từ Liêm (Thượng Cát) Quách Lãng 
Gia Lâm Thành Công
Đông Anh Vợ chồng Đào Kỳ, Phương Dung
Phúc Thọ Tạ Cẩn Nương
Yên Lãng Chàng Hối
Sóc Sơn Đồng Nghị

Sau khi Hai Bà hy sinh, các tướng lĩnh của Hai Bà vẫn không chịu khuất phục, họ tản ra khắp các vùng rừng núi để tiếp tục cuộc kháng chiến. Theo sách Thủy kinh chú, lúc này nhà Hán vẫn tiếp tục cho một số quân Tây Thục sang tiếp viện cho quân Mã Viện ở Giao Chi. Một bộ phận của nghĩa quân Hai Bà do hai vị tướng Đô Dương và Chu Bá đã dẫn quân chạy vào vùng Cửu Chân tiếp tục cuộc chiến đấu. Tháng 11 năm 43, Mã Viện đã tổ chức một cuộc hành quân lớn vào đất Cửu Chân, quyết tiêu diệt quân khởi nghĩa. Đại quân của Mã Viện gồm 20.000 lính bộ cùng 2.000 lâu thuyền lớn nhỏ theo hai đường thủy và bộ tiến vào phía nam. Theo sông Đáy và vùng lưu vực sông Đáy, quân Mã Viện đến cửa Thần Phù. Để tránh sóng to gió lớn, quân Hán đã phải tiến hành đào sông thông qua dải núi Cửu Chân và xếp đá làm đê ngăn sóng biển để đi từ Giao Chỉ vào Cửu Chân. Chỗ núi đào đó gọi là Tạc Sơn, chỗ cửa biển ngăn sông gọi là Tạc Khẩu37Maspéro, “L’expédition de Ma Yuan”, BEFEO XVIII, dẫn theo Khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Sđd, tr. 45.

Tại huyện Vô Công (vùng Ninh Bình), thủ lĩnh nghĩa quân đầu hàng. Đến huyện Dư Phát, quân Mã Viện tấn công thành lũy ở đây. Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân địch, quân của thủ lĩnh Chu Bá phải rút vào rừng sâu. Đến Cư Phong (Thiệu Hóa, Triệu Sơn) bây giờ, quân Mã Viện đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nghĩa quân Hai Bà. Tại vùng núi Trịnh, các nhà khảo cổ đã phát hiện một di chi trên triền núi, tại đây có rất nhiều mũi tên đồng và các di cốt, tàn tích của một trận giao tranh ác liệt38Lê Văn Lan. “Khảo cổ học và nghiên cứu thời kỳ Hai Bà Trưng”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 148, 1973. Trận chiến này có thể Mã Viện đã phải đối đầu với đội quân Hai Bà do tướng Đô Dương chi huy.

Các tài liệu ở dạng thần tích, thần phả cho thấy có khá nhiều các tướng lĩnh từ phía bắc tham gia cuộc chiến đấu ở vùng Cửu Chân như Nàng Tía ở làng Vĩnh Ninh (Thanh Trì, Hà Nội) hy sinh ở trận chiến bên cửa Thần Phù; Chàng Hối người ở Thịnh Kỳ (Mê Linh, Hà Nội) đã chiến đấu dũng cảm bên cạnh tướng Đô Dương không tiếc thân mình; Tướng Thành Công ở Gia Lâm từ Cấm Khê rút lui về Cửu Chân và hy sinh ở trang Tâm Quy (Tống Sơn)…39Khởi nghĩa Hai Bà Trưng ờ Hà Nội, Sđd, tr. 45

Sử nhà Hán ghi rằng trong cuộc chinh phạt các dư đảng của khởi nghĩa Hai Bà ở Cu Phong chúng đã “giết và bắt bớ hơn 5.000 người”. Thủy kinh chú còn cho biết riêng “tướng giặc không hàng đều bị chém tới hàng trăm người”. Hơn 300 (Cừ súy) thủ lĩnh khác bị bắt đưa đi đày ở vùng Linh Lăng (Hồ Nam). Đây là cuộc tàn sát đẫm máu của chính quyền Hán tộc, thực hiện quyết tâm tiêu diệt đến cùng sự phản kháng của người dân Giao Chi.

Cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng đã bị thất bại, đất nước ta lại rơi vào vòng thống trị của chính quyền phong kiến Hán tộc. Đầu năm 44, Mã Viện rút quân về nước. Sau 2 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo, đàn áp dã man sự phản kháng của người dân Giao Chi, hơn một nửa số quân đã phải bỏ mạng trên mảnh đất này. Sử nhà Hán đã xác nhận: quân đi 10 phần chỉ còn lại 4, 5 phần.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới thời thuộc Hán. Nổ ra trên đất Mê Linh, làn sóng khởi nghĩa đã nhanh chóng lan rộng nhằm lật đổ ách thống trị của triều đình phương Bắc. Sau khi đánh đuổi được quân Đông Hán, Trưng Trắc đã xưng vương và đóng đô ở Mê Linh, đây chính là hành động khẳng định quyền độc lập tự chủ của người dân Giao Chi. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà đã chứng minh vai trò, khả năng to lớn của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, là một dấu son đầu tiên và sáng chói trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: