Toàn bộ Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán

Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938

Nhằm mưu đồ lợi ích riêng, Kiều Công Tiễn đã sát hại chủ tướng của mình – người có công đánh đuổi quân Nam Hán khôi phục nền độc lập vừa bị mất sau hơn một năm, đã khiến cho làn sóng đấu tranh của các tầng lớp nhân dân càng dâng cao. Trong số đó, có nhiều hào trưởng, tướng lĩnh cũ của họ Dương tiêu biểu là Ngô Quyền – người vừa là nha tướng, vừa là con rể của Dương Đình Nghệ.

1. Thân thế Ngô Quyền

Ngô Quyền người làng Cam Lâm (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội), là một làng quê rất giàu truyền thống yêu nước và có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc trong cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ chống giặc phương Bắc. Tại vùng đất này đã sinh ra người mẹ của hai vị nữ anh hùng dân tộc hồi đầu Công nguyên Trưng Trắc và Trưng Nhị, đó là bà Man Thiện1Tại cánh đồng thôn Cam Lâm xã Đường Lâm, vẫn còn dấu tích về ngôi mộ của bà Man Thiện mà nhân dân địa phương quen gọi là Miếu Mèn. Cũng chính mảnh đất này, vào thế kỷ thứ VIII, còn chứng kiến sự ra đời và sau đó là cuộc khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị nhà Đường của người anh hùng dân tộc họ Phùng (Phùng Hưng). Đây cũng là nơi cất tiếng khóc chào đời của người con yêu dấu – người anh hùng dân tộc kiệt xuất Ngô Quyền vào năm 898.

Xuất thân trong một gia đình “đời đời là quí tộc”2Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197, cha là Ngô Mân từng giữ chức Châu mục bản châu (châu Đường Lâm). Từ thuở nhỏ, Ngô Quyền đã có “dáng vẻ khôi ngô, mắt sáng như chớp, có trí dũng và sức khoẻ phi thường’3Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197. Khi ông sinh “có ánh sáng lạ đầy nhà, trạng mạo khác thường, có ba nốt ruồi ở lưng, thầy tưởng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền’4Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197. Cương mục, Tiền biên, quyển 5, tệp I, sđd, tr. 221. Lớn lên, ông là người vừa dũng lược, vừa có sức khỏe “dáng đi thong thả như hổ”, “sức có thể nâng được vạc”5Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197 – 198. Cương mục, Tiền biên, quyển V, tập I, sđd, tr. 221.

Lúc thiếu thời, sống ở quê với cha mẹ, được thấm nhuần bời sự giáo dưỡng của người cha, ông đã sớm hiểu biết về võ nghệ và sử dụng gươm giáo cũng như những điều bí mật trong binh pháp. Trên quê hương Đường Lâm hiện nay, nhân dân địa phương vẫn còn gìn giữ và lưu truyền khá nhiều câu chuyện về những năm tháng tuổi thơ của ông.

Ngô Quyền (898 -944
Ngô Quyền (898 -944) (Ảnh Zing.com)

Lớn lên, trong lúc đất nước vừa giành được quyền tự chủ bắt đầu tù cha con họ Khúc, biết tiếp nối truyền thống cha ông, Ngô Quyền đã đứng ra tập hợp lực lượng và dần dần trở thành một hào trưởng có thế lực ở Đường Lâm.

Trường thành trong những năm tháng đất nước đang vươn mình mạnh mẽ để giành quyền tự chủ và giữ vững nền độc lập dân tộc, ông đã sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất của mình và trở thành một vị tướng giỏi nổi tiếng được nhân dân kính phục.

Với cương vị là một hào trưởng, Ngô Quyền đã cùng với họ Khúc tham gia xây dựng chính quyền trong những ngày đầu trứng nước. Nhưng nền độc lập dân tộc giành được lúc đó chưa được bao lâu thì năm 930, nhà Nam Hán đã mở cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất, đánh bại chính quyền họ Khúc, chiếm được phủ thành Đại La, đất nước lại rơi vào tay quân xâm lược. Rồi, chỉ một năm sau đó (931), Dương Đình Nghệ – vị tướng của họ Khúc, đã đem quân từ châu Ái ra, đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại chủ quyền dân tộc, dựng nên chính quyền mới của họ Dương.

Trong thời gian họ Dương phất cờ khởi nghĩa và xây dựng chính quyền, Ngô Quyền cũng là người tham gia tích cực. Ông được Dương Đình Nghệ tin tưởng cho làm nha tướng và gả con gái cho.

Tại đây, Ngô Quyền đã cùng với ba nghìn nghĩa sĩ của Dương Đình Nghệ ngày đêm luyện tập và xây dựng nên một lực lượng nghĩa binh hùng mạnh. Trong chiến thắng Đại La (931), ông đã từng là một tướng tiên phong dưới quyền của Dương Đình Nghệ, đánh bại mưu đồ thôn tính nước ta của nhà Nam Hán. Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ lên nắm quyền Tiết độ sứ, lo công việc đại sự của đất nước, đã trao cho ông quyền cai quản vùng đất châu Á6Việt sử lược, quyển 1, sđd, tr. 40. Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197 – 198. Cương mục, Tiền biên, quyển 5, tập I, sđd, tr. 221..

Trưởng thành và rèn luyện trong những năm tháng đất nước trải qua nhiều cam go và thử thách để vươn lên khẳng định quyền tự chủ, khiến tài năng xuất chúng của người tướng trẻ Ngô Quyền sớm có điều kiện bộc lộ. Đây là quãng thời gian mà tài năng và trí tuệ của ông được đưa ra cống hiến nhiều nhất và có ý nghĩa lớn nhất đối với đất nước.

2. Ngô Quyền dẹp nội phản

Trước hành động phản phúc của Kiều Công Tiễn và trước nguy cơ bị nhà Nam Hán xâm lược, Ngô Quyền đã trở thành niềm tin và hy vọng của toàn dân tộc, thành người thủ lĩnh có đù tài năng và uy tín để đàm đương sứ mạng của lịch sử lúc đó là huy động và lãnh đạo các lực lượng yêu nước trong toàn quốc đứng lên đánh đổ thù trong, dẹp giặc ngoài, giành độc lập dân tộc đem lại toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc.

Khi được tin tên việt gian Kiều Công Tiễn ám hại chủ tướng và cũng là bố vợ của mình, đoạt quyền Tiết độ sứ cùng với hành động phản trắc đê hèn cầu ngoại viện của hắn, Ngô Quyền đã nhanh chóng tập hợp lực lượng từ Ái Châu tiến ra Giao Châu diệt trừ nội phản, tiếp tục sự nghiệp giữ vững nền tự chủ còn đang dang dở của họ Dương.

Giữa lúc đất nước đang trong tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc, người đứng đầu bị sát hại, quân thù đang ngấp nghé bên ngoài bờ cõi, Ngô Quyền đã trở thành một nhân vật có sức mạnh diệu kỳ thu hút được rất nhiều lực lượng tham gia, tiến lên diệt trừ nội phản, đánh tan cuộc xâm lăng của kẻ thù, mở ra một kỳ nguyên mới độc lập và tự chủ dài lâu cho đất nước.

Quân đội của Ngô Quyền lúc này có bao nhiêu, không được sử cũ ghi chép cụ thể. Nhưng căn cứ vào ba nghìn nghĩa sĩ trước kia của Dương Đình Nghệ khi đem đi đánh trận Đại La năm 931, một số ở lại Đại La, thành quân thường trực, một số trở về khi Ngô Quyền được cử coi giữ châu Ái, đến đây được tôi luyện thêm, chắc chắn đã trở thành một lực lượng quân đội khá mạnh.

Thêm vào đó là lực lượng quân lính của các hào trường từ các địa phương theo về tập hợp dưới cờ đại nghĩa của Ngô Quyền, chắc chắn cũng phải là một lực lượng khá hùng hậu và được tôi luyện kỹ càng. Đó là đội quân của Lã Minh từ trang Liễu Chữ (nay thuộc thôn Liễu Lâm, xã Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), đem đến gặp Ngô Quyền ở địa điểm Bình Kiều (nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá). Đội quân do Lã Minh chỉ huy sau này đã tham gia đánh đuổi quân cùa Kiều Công Tiễn thuộc địa phận Siêu Loại (Bắc Ninh). Một lực lượng ở vùng Kim Động (Hưng Yên) là Phạm Bạch Hổ, người xứ Ngọc Đường cũng đã theo về với Ngô Quyền từ khá sớm, được Ngô Quyền phong là Đô chỉ huy sứ Tiền đạo tướng quân. Phạm Bạch Hổ còn có tên là Phạm Phòng Ất, sau được giao chi huy một đạo quân đánh vào sào huyệt của Kiều Công Tiễn ở Đại La. Tiếp theo là hàng loạt những thủ lĩnh khác, như: Đỗ Cảnh Thạc – hào trường vùng Đỗ Động (thuộc Thanh Oai, Quốc Oai, Hà Nội); Phạm Chiêm – đứng đầu dòng họ Phạm ở miền Nam Sách (Hải Dương); Đinh Công Trứ người ở Hoa Lư (Ninh Bình) từng là Thứ sử châu Hoan thời Dương Đình Nghệ; Dương Tam Kha người châu Ái – con Dương Đình Nghệ và là em vợ Ngô Quyền; ba anh em Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu ở Thuận Thành (Bắc Ninh) và Thanh Trì (Hà Nội), v.v…

Một lực lượng đáng kể tới góp sức vào lúc này là Kiều Công Hãn, ở châu Phong, tuy là cháu của Kiều Công Tiễn nhưng trước thảm hoạ ngoại xâm, cũng đã đứng về phía chính nghĩa theo Ngô Quyền, chiến đấu cho độc lập dân tộc.

Tất nhiên, ngoài những lực lượng quân sự quan trọng nói trên, quần chúng nhân dân lúc nào cũng là lực lượng đông đảo nhất và nhiệt thành nhất tham gia đánh giặc bảo vệ đất nước. Trong Thiên Nam ngữ lục cũng phản ánh rõ điều này:

“Bây chừ già trẻ gái trai,

Thương người Đình Nghệ, khen người Ngô Quyền

Bảo nhau dắt trẻ phù già,

Bỏ chướng Công Tiễn về nhà Ngô Vương.

Chúng tôi sức bé tài hèn,

Chồng nguyền quẩy vác, vợ nguyền đem cơm,

Giúp công quét sạch giang sơn…7Thiên Nam ngữ lục, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 160

Tượng Ngô Quyền
Tượng Ngô Quyền

Tất cả những lực lượng trên đã nhanh chóng tụ tập dưới trướng của Ngô Quyền và Ngô Quyền lúc này đã trở thành bậc chủ tướng tối cao với một lực lượng quân sĩ khá hùng mạnh, có mặt ở khắp các vùng, từ châu Ái vào châu Hoan ra tới tận châu Giao, khiến lực lượng của Kiều Công Tiễn ở Đại La càng trờ nên bị cô lập và hoàn toàn bất lợi. Trước sức mạnh cùa các lực lượng yêu nước và thế cô lập cao độ của hành động phản chù, tên Việt gian họ Kiều còn tiến thêm một bước nữa, phản bội lại lợi ích cùa dân tộc là cầu cứu nhà Nam Hán.

Khi đã tập hợp xong lực lượng và nhận thấy nguy cơ xâm lược của nhà Nam Hán đã đến gần, vào tháng 9, mùa thu, năm Mậu Tuất (10 – 938), Ngô Quyền cho quân tiến từ châu Ái ra Đại La, diệt trừ tên phản bội họ Kiều, cát đứt nội ứng, chuẩn bị chiến trường đợi giặc, tiến lên thực hiện nhiệm vụ vinh quang cùa dân tộc là đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập vẹn toàn cho Tổ quốc. Sách Việt sử lược ghi rằng: “Quyền đem binh từ châu Ái ra đánh Công Tiễn, Công Tiễn sai người cầu cứu Nam Hán”8Việt sử lược, sđđ, tr. 40 – 41. Hành động đê hèn này của Kiều Công Tiễn lại một lần nữa làm thúc đẩy thêm mưu đồ xâm lược và tái chiếm đất nước ta của nhà Nam Hán.

Được tin cầu cứu của Kiều Công Tiễn, triều đình nhà Nam Hán ngay lập tức đã họp bàn kế hoạch xuất quân. Tuy đã có nội ứng, nhưng trận thất bại cách đó 7 năm (931) vẫn còn là bài học nhớ đời, khiến Lưu Cung – người đứng đầu triều đình nhà Nam Hán không thể không đắn đo, phải hỏi ý kiến Sùng văn sứ là Tiêu ích, một viên quan có địa vị cao trong triều, là người am hiểu tường tận về tình hình Giao Châu lúc đó. Tiêu ích đã bày tỏ sự khó khăn và khuyên nhủ vua Nam Hán ràng: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt không thể khinh xuất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người huớng đạo rồi sau mới nên tiến”9Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 196. Nhưng vì cơ hội tái chiếm Giao Châu đã đến gần nên chúa Nam Hán đã không thèm đếm xỉa gì tới lời bàn lợi hại đó của Tiêu Ích mà vẫn chuẩn bị một kế hoạch xuất quân sang Giao Châu đề nhanh chóng thực hiện mưu đồ từng nung nấu từ lâu.

Lần xuất quân này, chúa Nam Hán đã có kinh nghiệm hơn. Nam Hán đã tận dụng thế mạnh của mình là binh thuyền và đi theo đường biển từ Quảng Đông sang. Người được chúa Nam Hán giao trọng trách dẫn đầu đội quân đánh chiếm Giao Châu lần này chính là con trai Vạn vương Hoằng Tháo10Nhiều sách chép không thống nhất về tên và đệm của Tháo, sách thì chép là Hồng Thao, sách thì chép là Hoành Thao, sách thì chép là Hoằng Thao. Ở đây chúng tôi theo tên chép của Toàn thư là Hoằng Tháo. Trước khi xuất quân, chúa Nam Hán đã đổi tước phong cho Hoàng Tháo từ Vạn vương11Hoằng Tháo được vua cha phong cho tước vương vào năm Đại Hữu thứ 5 (932) sang làm Nam Giao vương12Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđđ, tr. 196 với kỳ vọng rằng, nếu chiếm được Giao Châu sẽ lấy Giao Châu làm nơi phong thực ấp cho con. Không chỉ có thế, chính bản thân chúa Nam Hán còn đích thân dẫn đầu một đạo quân ra đóng ở Hải Môn trấn, làm vai trò hậu thuẫn khi cần thiết. Sách Toàn thư chép ràng: “Vua Hán tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện”13Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđđ, tr. 196.

Với kế hoạch chu đáo như vậy cộng với sự tin tưởng là đã có Kiều Công Tiễn làm nội ứng, khi quân chúng tới nơi thì hai bên hợp đồng tác chiến, thực hiện kế “nội công ngoại kích”, sẽ nhanh chóng chiếm lại đất nước ta. Nhưng chúng có ngờ đâu, Ngô Quyền lại “cao tay” hom chúng, đã đánh bẹp kẻ phản nghịch, rồi bài binh bố trận nhử chúng vào trận địa để tiêu diệt. Lúc này là vào cuối mùa đông, năm Mậu Tuất (938), gió mùa đông bắc đã về, binh thuyền đi xuống phía Nam vô cùng thuận lợi, càng làm tăng thêm sự phấn chấn và chủ quan của đội quân Nam Hán đang cố dấn thân vào cuộc viễn chinh xâm chiếm Giao Châu. Chúng cứ tưởng rằng làm như thế sẽ nhanh chóng thôn tính được đất nước ta, chứ có ngờ đâu chỗ dựa tinh thần của chúng đã bị đè bẹp ngay trước đó.

Giữa lúc thù trong giặc ngoài đang đe doạ, nền độc lập dân tộc đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc, Ngô Quyền là người con chân chính có đầy đủ uy tín và thế lực cũng như tài năng để đứng ra gánh vác và tập hợp mọi lực lượng, phát động toàn dân kháng chiến chống kẻ thù chung giành độc lập vẹn toàn cho Tổ quốc.

3. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938

Khi đã dẹp xong nội phản, N gô Quyền bắt đầu khẩn trương chuẩn bị cho cuộc quyết chiến chiến lược, tiêu diệt đội binh thuyền hùng hồ do tướng Hoằng Tháo dẫn đầu kéo vào nước ta theo đường cửa sông Bạch Đằng. Một khi kẻ thù nguy hiểm bên trong đã bị đè bẹp, sức mạnh của toàn dân tộc hơn lúc nào hết lại được cố kết thành một khối thống nhất, sẵn sàng chống lại kè thù xâm lược kéo vào dày xéo giang sơn đất nước. Toàn dân lúc này đều hướng về người anh hùng Ngô Quyền và coi ông là vị chỉ huy tối cao trong cuộc chiến chống lại quân xâm lược.

Sử sách không cho biết rõ về bộ chỉ huy lãnh đạo cuộc kháng chiến tài tình này. Nhưng qua các nguồn tư liệu địa phương (thần tích, gia phả, truyền thuyết dân gian…) chúng ta cũng có thể hình dung đôi nét về bộ tham mưu của cuộc kháng chiến. Đứng dưới cờ nghĩa của Ngô Quyền lúc ấy trước hết có con trai của ông là Ngô Xương Ngập. Một nhân vật nữa đã cùng với Ngô Quyền kinh qua nhiều năm chiến đấu và xây dựng chính quyền dưới thời họ Dương là Dương Tam Kha, cũng là người tham gia tích cực vào cuộc chiến lần này. Ngoài ra, còn có những hào trưởng, những thủ lĩnh đã từng theo về với Ngô Quyền trước đây, như Đỗ Cảnh Thạc – hào trưởng vùng Đỗ Động; Phạm Bạch Hổ – vị tướng ở đất Đằng Châu; Lã Minh ở Siêu Loại, Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận, v.v… cũng đã góp phần làm nên chiến công vẻ vang trong trận quyết chiến chiến lược này. Trong số đó, còn có cả người bạn đời yêu dấu của Ngô Quyền là Dương Phương Lan14Theo Thiên Nam ngữ lục, sđd, tr. 155 và Thần tích Dương Phương Lan ở đền Yên Nhân (huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội), từng theo Ngô Quyền từ khi mới tập hợp lực lượng trước khi vào Thanh Hoá phù giúp họ Dương.

Nhờ có óc sáng tạo, Ngô Quyền đã nhận định và phán đoán rất chính xác tình hình ta và địch trước khi bước vào trận đánh với kế hoạch tác chiến tài tình. Ông biết Hoàng Tháo tuy rất hung hăng nhưng lại là một tên tướng trẻ không có mấy kinh nghiệm khi bước vào cuộc đọ sức với ta. Ông nói với các tướng tá của mình rằng:

“Hoằng Tháo là một đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức khoẻ địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế thua được không biết sẽ ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu, bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát”15Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 196 – 197. Những lời phán đoán này vừa thể hiện ý chí quyết tâm kháng chiến vừa chứa đựng nhiều mưu cao mẹo giỏi của bậc tướng tài ba Ngô Quyền. Theo Ngô Quyền thì đây là kế đánh hay nhất, hiệu quả nhất không kế gì hay hơn kế ấy cả… Và chỉ có cách đánh phủ đầu như vậy thì mới tiêu diệt thật nhanh, thật gọn và thật triệt để đội quân Nam Hán khi chúng vừa chân ướt chân ráo tiến vào vùng lãnh thổ của ta.

Đội quân Nam Hán cử sang đánh nước ta lần này cũng được tuyển chọn khá chu đáo, bao gồm toàn những người giỏi về sông nước, thạo về thuỷ chiến, từng kinh qua nhiều chiến trận và cũng khá am hiểu về tình hình sông nước của ta. Thuyền chiến được nhà Nam Hán trưng dụng vào cuộc chiến lần này cũng đều là những loại to, khoẻ và chắc chắn.

Quân đội của Ngô Quyền lúc này, tuy không hùng hậu về số lượng nhưng lại là đội quân được trường thành trong cuộc chiến tranh vệ quốc, có lòng yêu nước cao độ, có kỷ luật nghiêm minh, có nhiều mưu trí, gan dạ và dũng cảm. Họ đã từng theo Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền chiến đấu trong trận vây đánh thành Đại La, đuổi Thứ sử Lý Tiến, giết Thừa chi Trần Bảo vào năm 931 và đặc biệt họ cũng vừa cùng chủ tướng của mình tham gia trừng trị tội nghịch thần, phản chủ, phản quốc của tên việt gian Kiều Công Tiễn, nên khí thế ra trận của họ vẫn còn rất mãnh liệt, hào hùng.

Biết tin quân Nam Hán tiến vào nước ta theo đường thủy nên trong quá trình chuẩn bị kháng chiến Ngô Quyền cũng đặc biệt chú trọng tới lực lượng thủy quân và các loại thuyền chiến. Sử cũ không ghi cụ thể các loại thuyền được dùng trong trận chiến Bạch Đằng năm 938, nhưng từ đầu thế kỷ IX, ở nước ta đã có loại thuyền “mông đồng”. Thuyền “mông đồng” theo Toàn thư ghi thì, “mỗi thuyền có 25 chiến thủ, 23 tay chèo, thuyền chèo ngược xuôi nhanh như gió”16Toàn thư, Ngoại kỳ, quyền V, tập I, sđd, tr. 183. Sách Cương mục cũng chua, đây là “thứ thuyền hẹp mà dài, dùng để xông đánh thuyền giặc”17Cương mục, Tiền biên, quyển IV, tập I, Bàn dịch Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 194. Có thể trong chiến dịch Bạch Đằng, Ngô Quyền vẫn dùng loại thuyền mông đồng này cho thuỷ quân chủ lực. Còn các lực lượng dân binh khác, có thể ông đã cho dùng các loại thuyền truyền thống của ta như độc mộc, thuyền mảng hay thuyền chài… Thuyền chài tuy đơn sơ nhưng khi “Nó ra biển, mỗi cái chở 3 người, một người cầm buồm vải, một người cầm chèo, một người cầm súng mỏ chim, buồm vải nhẹ nhàng không lo chìm đắm, dễ tiến, dễ thoái, theo làn sóng mà lên xuống, thuyền địch với không kịp, cho nên đi biển có lợi lắm, bắt được giặc phần nhiều ờ sức nó”18Binh thư yếu lược, Bàn dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr 221 -222.

Khi kế hoạch của cuộc chiến đã được chuẩn bị khá chu đáo, Ngô Quyền cho chọn vùng hạ lưu và cửa biển Bạch Đằng làm trận địa quyết chiến chiến lược. Các nguồn sử liệu trong và ngoài nước đều chép giống như Đại Việt sử ký toàn thư là Ngô Quyền “định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển”19Toàn thư, Ngoại kỳ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197.

Ngô quyền đại phá quân nam hán
Mô hình trận chiến bạch đằng

Cửa biển Bạch Đằng khi xưa còn nằm sâu trong đất liền và là cửa của hai con sông Bạch Đằng và sông cấm . Nỏ ở vào khoảng làng Vũ Yên và vùng đất đông nam huyện An Hài20Xem Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc:Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988, tr. 45 (nay là quận An Hải, thành phố Hải Phòng). Hồi thế kỷ X, nơi đây chắc chắn hãy còn là một vùng sông nước mênh mông và địa hình thì khá phức tạp, gồm nhiều đào và cồn cát đang trong quá trình kiến tạo cùng với nước triều lên xuống thành những bãi triều thấp còn ngập nước.

Nay là các đào Đình Vũ, Vũ Yên và bãi Nhà Mạc21Xem Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Chiến Thắng Bạch Đằng 938 và 1288, sđd, tr. 46. Đề bố trí trận địa tại vùng cửa biển với địa hình phức tạp sông nước mênh mông này, Ngô Quyền chắc chắn đã phải nghiên cứu khá kỹ lưỡng chế độ sông nước và thuỷ triều lên xuống tại đây.

Mọi tài liệu thư tịch cổ của ta và Trung Quốc đều ghi việc Ngô Quyền cho quân lấy cọc gỗ đẽo nhọn, rồi bịt sát đem đóng xuống cửa biển Bạch Đằng. Nhưng tài liệu không ghi cụ thể bãi cọc đó được ngầm đóng ở địa điểm nào trong toàn vùng sông biển mênh mông đó và chắc chắn cũng không có đù và không có cọc gỗ đù dài để cắm sâu xuống tận đáy biển được. Theo phân tích trong sách Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng thi, Ngô Quyền chỉ có thể cắm cọc trên các dải chắn22Đặng Xuân Bảng, Sử học bị khảo, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 286 tại những vị trí mà thuyền địch nhất thiết phải qua, khi mà “lúc triều lên thì chìm, lúc triều xuống thì hở”23Đặng Xuân Bảng, Sử học bị khảo, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 286 chứ không có đủ cọc dài để đóng tại cửa biển sâu khoảng 15 mét và rộng khoảng 1500 mét được.

Ngô Quyền cùng bộ chỉ huy của cuộc chiến, trong thời gian chuẩn bị lực lượng và bài binh bố trận chu đáo như vậy đã chọn địa điểm đặt làm chỉ huy sở tại thôn Lương Xâm, xã Nam Hải (huyện An Hải, Hải Phòng). Tại Lương Xâm hãy còn dấu tích của toà thành Vành Kiệu – một tòa thành bằng đất nằm ngay cạnh cửa biển Bạch Đằng xưa kia. Theo thần tích đền Gia Viên, soạn năm 1572 thì thành này do Ngô Quyền về đắp trong những ngày đầu xây dựng lực lượng24Xem Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288, sđd, tr. 42, về sau, đền Gia Viên ở Lương Xâm là đền chính thờ Ngô Quyền ờ vùng An Dương cũ. Nhân dân địa phương quen gọi là Từ Cả, nằm ở trung tâm trên gò đất cao, của thành Vành Kiệu. Trong đền còn lại khá nhiều câu đối ca ngợi chiến công vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng và ghi nhận thành Vành Kiệu là do Ngô Quyền dựng trong chiến trận Bạch Đằng năm 938, trong đó có câu:

Ngạn thượng trần binh, thiên tứ oai linh thiên cổ hách

Thành trung kiến miếu, phúc thần hưởng tự vạn niên xuân.

Dịch

(Trên bờ dàn quân, thiên tử oai linh lẫy lừng nghìn thuở

Trong thành dựng miếu, phúc thần hưởng thờ cúng mãi muôn năm)25Xem Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288, sđd, tr. 42.

Tại thành Vành Kiệu, Ngô Quyền đã cho đặt chi huy sở để chi đạo việc bố trí trận địa cọc, tổ chức các lực lượng mai phục trên cửa sông Bạch Đằng. Ông còn lợi dụng triệt để địa hình tự nhiên vốn có để bố trí một trận địa hết sức linh hoạt và vô cùng mưu trí nhằm phát huy mọi nguồn lực của toàn dân tộc để giành thắng lợi một cách nhanh nhất và tiêu diệt địch một cách dễ dàng nhất, giảm bớt sức lực và tốn ít xương máu nhất.

Về bố trí lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng năm 938, sử cũ không ghi chép cụ thể, nhưng qua nhiều lần điều tra nghiên cứu cũng như dựa vào một số thần tích còn lại trong các di tích thờ Ngô Quyền ở vùng cửa sông Bạch Đằng, như thần tích Ngô Quyền ở Gia Viên và thần tích Ngô Xương Ngập ở Quang Đàm (nay thuộc thành phố Hải Phòng), thì Ngô Quyền đã giao việc này cho những tướng lĩnh thân tín của mình là Ngô Xương Ngập, Dương Tam Kha và Đỗ Cảnh Thạc đảm nhiệm26Xem Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288, sđd, tr. 5 1.

Ở phía tả ngạn sông Bạch Đằng được bố trí lực lượng thuỷ binh thiện chiến, giàu kinh nghiệm sông nước do Dương Tam Kha chỉ huy phối hợp với đội binh thuyền địa phương do Đào Nhuận dẫn đầu. Vùng hữu ngạn sông Bạch Đằng là nơi bố trí lực lượng của cánh quân Đỗ Cảnh Thạc và cánh quân này được phân công cùng phối hợp chặt chẽ với dân binh địa phương. Như vậy, nhũng cánh quân tham dự trận đánh, gồm có quân thuỷ, quân bộ, vừa là quân chủ lực vừa là quân địa phương, được bố trí mai phục dọc theo hai bên tả ngạn và hữu ngạn sông Bạch Đằng, đến sông cấm chạy suốt từ khu vực nội thành Hải Phòng ngày nay xuống tận vùng Lương Xâm, Xâm Bồ. Nhiệm vụ của hai cánh quân này là hợp đồng tác chiến ngăn chặn đội binh thuyền của Vạn vương Hoằng Tháo khi vừa tiến vào cửa sông Bạch Đằng, một mắt xích lợi hại nhất trong toàn bộ kế hoạch tác chiến của Ngô Quyền. Ngoài ra cánh quân bên hữu ngạn của Đỗ Cảnh Thạc còn có nhiệm vụ phối hợp ngăn chặn đoàn thuyền chiến của Hoằng Tháo nếu chúng có ý định tiến vào đường sông cấm . Còn lực lượng bố trí dọc theo sông cấm là cánh quân của Ngô Xương Ngập. Nhiệm vụ của cánh quân này là triệt để lợi dụng địa hình cùng phối hợp tác chiến với cánh quân của Đỗ Cảnh Thạc ngăn chặn quân địch không cho chúng rút xuống theo đường cửa Nam Triệu vào sông cấm.

Ngô Quyền thì đóng vai trò chi huy tại vùng Đông Nam huyện An Hải (vùng nội thành Hải Phòng ngày nay). Tại đây ông chi đạo việc xây dựng lực lượng tác chiến và bổ trí lực lượng dự bị ứng chiến cho các nơi khi cần thiết.

Ngô Quyền đã chỉ huy cuộc chiến bằng một thế trận hết sức lợi hại là triệt để lợi dụng địa hình tự nhiên thuận lợi nhưng khá phức tạp của vùng cửa sông Bạch Đằng (sông nước, cồn gò, bãi bồi, rừng sú, đầm lầy, kênh rạch chi chít cùng với những làng xã ven sông…) kết hợp với bãi cọc nhân tạo được bố trí sẵn làm chướng ngại vật dồn quân giặc vào tình thế vô cùng bị động, không chi tiêu diệt quân địch mà còn chặn đường rút lui của chúng, đập tan vĩnh viễn mộng xâm lăng của chúng. Lúc này toàn thể dân tộc đang hướng về vùng sông nước Bạch Đằng, hướng về cuộc quyết chiến chiến lược đã được bài binh bố trận khá chu đáo của nhà thao lược kiệt xuất Ngô Quyền.

Vào cuối đông (tháng 12 năm 938), đoàn binh thuyền do tướng Hoằng Tháo chỉ huy, hung hãn từ Quảng Đông tiến thẳng vào nước ta theo đường biển vào cửa sông Bạch Đằng đúng như sự dự đoán. Trong khi đó, cánh quân yểm trợ của Lưu Cung cũng tiến sát vào biên giới nước ta, đóng tại Hải Môn trấn (Bác Bạch, Quảng Đông). Chờ cho những chiếc thuyền đầu tiên của đội binh thuyền Nam Hán xuất hiện ở cửa sông Bạch Đằng thì lập tức những chiếc thuyền nhỏ đóng vai trò khiêu chiến nhử địch vào trận địa chờ sẵn cũng bắt đầu làm nhiệm vụ. Quân cùa Ngô Quyền cố nhử địch vào đúng trận địa mai phục, chiến đấu rất quyết liệt vừa tạo thế giằng co đợi cho nước thuỷ triều lên thật cao, vừa tìm cách nguỵ binh che mất quân địch không để chúng hoài nghi về trận địa ngầm nơi sẽ sáp chôn vùi chúng, vừa chờ cho tới lúc nước thuỷ triều xuống, về việc này Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rằng: “Khi nước thuỷ triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào.

Khi binh thuyền đã vào trong vùng cấm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Hoằng Tháo không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền mắc phải cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa. Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi”27Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển 5, tập I, sđd, tr. 197.

Lúc này, quân Nam Hán mới được chứng kiến sự tiến thoái lưỡng nan một cách vô cùng quẫn bách không chiều xoay xở. Trước mặt, sau lưng, bên trái, bên phải, trên bờ, dưới nước, đều bị đánh tới tấp. Vô vàn thuyền lớn thuyền bé hầu hết bị cọc nhọn đâm thùng, va chạm vào nhau mà bị đắm chìm xuống. Viên chủ tuớng trẻ Hoằng Tháo lúc đầu hung hăng bao nhiêu thì đến đây càng bị mất tinh thần bấy nhiêu, cuối cùng bị quân của Ngô Quyền bắt sống và giết chết tại trận. Cuộc chiến cam go quyết liệt nhưng thành công rực rỡ của quân và dân ta đo nhà quân sự kiệt xuất Ngô Quyền lãnh đạo vào cuối đông năm 938 đã diễn ra và kết thúc thắng lợi chi trong vòng một ngày với một con nước thuỷ triều trên cửa sông Bạch Đằng lịch sử đúng như kế hoạch định sẵn của Ngô Quyền. Thế là toàn bộ đạo quân thiện chiến về sông nước của nhà Nam Hán vừa tiến vào địa đầu của Tổ quốc ta đã bị quân và dân ta đánh một trận phủ đầu hoàn toàn tháng lợi. Đây là trận đánh nhanh, thắng nhanh, đạt hiệu quả cao nhất và mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến thắng này đã khiến đội quân tiếp ứng đóng vai trò yểm trợ của vua Nam Hán vừa mới tới gần biên giới nước ta chưa kịp gây thanh thế cũng như chưa kịp tiếp ứng thì đã bị mất vía và tự tan vỡ. Sự thất bại thảm hại này khiến triều đình nhà Nam Hán không thể ngờ được và chính sử của Trung Quốc sau này cũng phải thừa nhận rằng: “Bấy giờ nước thuỷ triều xuống, những thuyền của Hồng Thao (Hoằng Tháo) vì nước cạn nên mắc vào cọc bịt sắt, vỡ đắm gần hết. Hồng Thao từ trận. Nghiễm nghe tin bại trận phải thu quân về”28Ngũ đại sử ký, quyển 65, Thế gia 5. Sử biên niên của ta cũng viết: “vua Nam Hán thấy con trai bị chết và thất bại thảm hại như vậy đã vô cùng tuyệt vọng, chỉ còn biết thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về”29Toàn thư, Ngoại kỹ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197.

Như vậy là, cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Nam Hán đến đây đã hoàn toàn bị thất bại, mộng xâm lăng đầy tham vọng của vua Nam Hán đến đây cũng tan thành mây khói. Cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta đầu thế kỷ X đã kết thúc thật là vẻ vang. Nền độc lập trọn vẹn của dân tộc đã lại trở về với chính nghĩa, với nhân dân yêu nước bị nô lệ suốt hàng nghìn năm.

Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 là một chiến thắng bất hủ, một võ công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, nó đánh dấu một mốc son lịch sử, một bước ngoặt vĩ đại, vĩnh viễn chấm dứt nền thống trị hàng nghìn năm của phong kiến thống trị phương Bắc, mở ra một kỳ nguyên mới – độc lập tự chủ thực sự và dài lâu cho toàn dân tộc.

Hơn ba thế kỷ sau, sử gia Lê Văn Hưu – nhà sử học Việt Nam đầu tiên là người đã hiểu rõ tầm cỡ và đánh giá rất chuẩn xác về những chiến công trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của Ngô Quyền, ông viết những dòng này trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần noi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được”30Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 198.

Sau Lê Văn Hưu, nhiều sử gia khác cũng hết lời ngợi ca chiến công hiển hách của Ngô Quyền trong đánh giặc giữ nước và sự nghiệp dựng xây đất nước, mở đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc ta. 

Nhà sử học Lê Tung từng viết: “Ngô Tiên chúa giết được nghịch thần Công Tiễn, phá được kẻ giặc mạnh Hoằng Tháo, đặt ra cấp bậc các quan văn võ, định chế độ luật lệnh y phục, thực là bậc tài giỏi cứu đời”31Lê Tung: Việt giám thông khảo tổng luận, dẫn trong Toàn thư, sđd, tập I, tr: 103.

Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng bàn rằng: “Lưu Cung tham đất cùa người muốn mở rộng bờ cõi, đất đai chưa lạy được mà đã hại mất đứa con của mình và hại cả nhân dân”32Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 197. Còn “Tiền Ngô (vương) nối lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của đế vương”33Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển V, tập I, sđd, tr. 198.

Nhà yêu nước Phan Bội Châu, vào đầu thế kỷ XX đã xếp Ngô Quyền là vị tổ trung hưng34Phan Bội Châu, Việt Nam quốc sử khảo, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr. 21-22 của nước ta, đứng sau vị thuỷ tổ dụng nước đầu tiên là Hùng Vương và đứng trước vị anh hùng trung hưng thứ hai là Lê Lợi với những lời lẽ như sau: “Tất phải giặc ngoài mà đuổi đi được, quyển thống của nước bị đứt mà biết nối lại được, thì không ai hơn được Ngô Quyển”.35Phan Bội Châu, Việt Nam quốc sử khảo, sđd, tr. 22 -23

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã thực sự đưa đất nước ta, nhân dân ta thoát khỏi hiểm hoạ bị diệt vong sau hàng nghìn năm bị dày xéo bởi ách đô hộ ngoại bang. Chiến công rực rỡ này đã gắn liền với tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, xứng đáng là một chiến công mở màn cho mọi chiến công trong lịch sử chống ngoại xâm, đánh giặc cứu nước của dân tộc ta ở thế kỷ X. Ý nghĩa lịch sử của nó đời đời bất diệt.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: