Truyền thuyết và thư tịch về thời đại Hùng Vương

Thời đại Hùng Vương tồn tại hàng ngàn năm. Cho đến bây giờ, dù đà rất cố gắng song các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy chữ viết của thời đại đó.

Con hồng cháu lạc
Thời đại Hùng Vương – Con hồng cháu lạc

1. Thư tịch về thời Hùng Vương

Thời đại Hùng Vương tồn tại hàng ngàn năm. Cho đến bây giờ, dù đà rất cố gắng song các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy chữ viết của thời đại đó. Thời đại quá xa xưa chỉ còn tìm thấy trong ký ức của nhân dân được phản ánh qua truyền thuyết, từ đời này sang đời khác. Truyền thuyết thuộc loại hình văn hóa dân gian, tuy cũng phản ánh lịch sử nhưng tính chất ước lệ khá cao. Tác giả của những truyền thuyết thường là nhân dân. Ở mỗi thời đại khác nhau, với cách cảm nhận khác nhau đối với mỗi nhân vật trong truyền thuyết, người kể hay người viết có thê sáng tác, thêm vào những tình tiết mới cho phù hợp và hấp dẫn hơn; khiến kết cấu của truyện luôn mở. Niên đại của truyền thuyết rất khó xác định. Truyền thuyết luôn gắn bó và là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân. Mặc dù còn những hạn chế song truyền thuyết chính là một nguồn tư liệu phong phú, quan trọng khi tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương khi mà có sự thiếu váng thư tịch và truyền thuyết là phương tiện hữu hiệu nhất phản ánh lịch sử. Truyền thuyết vừa là ảnh xạ của lịch sử, vừa hàm chứa cái cốt của lịch sử. Việc sử dụng và khai thác truyền thuyết luôn luôn là cơ sờ đầu tiên, cần thiết trong công việc nghiên cứu thời đại Hùng Vương.

Nhưng khi khai thác truyền thuyết cần hết sức chú ý, vì bản thân truyền thuyết phức tạp. Truyền thuyết có loại hình đa dạng: truyền khẩu (bất thành văn), truyền thuyết được cố định thành văn bản (thành văn); truyền thuyết được hiện thực hóa thông qua việc thờ thần và phong tục tập quán, lễ hội ờ làng xã.

Cho đến ngày nay, truyền thuyết truyền khẩu về thời đại Hùng Vương vẫn tiếp tục sống “trôi nổi” trong các làng xã. Trong đó, truyền thuyết tập trung đậm đặc nhất ờ vùng quanh đền Hùng, huyện Lâm Thao và quanh chân núi Ba Vì thuộc ngoại thành Hà Nội. Truyền thuyết dân gian vùng đất Tổ (Phú Thọ) rất phong phú, song nhiều dị bản. Nội dung của những truyền thuyết không vượt qua được tài liệu thư tịch. Đến nay, chúng vẫn không ngừng biến đổi.

Tính chất hoang đường thể hiện khá rõ trong các bản thần tích, ngọc phả được biên soạn sớm nhất vào thời kỷ Lê sơ thế kỷ thứ XV; đại đa số ở thế kỷ XVI, được sao lại vào các thế kỷ XVIII, XIX. Những loại tài liệu đó rất có giá trị đối với tín ngưỡng dân gian hơn là đối với lịch sử.

Hiện tại, chúng ta vẫn chưa nắm được có bao nhiêu truyền thuyết về thời đại Hùng Vương. Trong những truyền thuyết ấy hàm chứa nội dung cụ thể ra sao? Chúng được phân bố trên thực địa như thế nào? Mỏ quặng truyền thuyết giàu có đó nhưng khai thác chưa được là bao.

Bên cạnh loại hình truyền thuyết truyền khẩu, ở nhiều địa phương còn lưu truyền loại hình truyền thuyết đã được hiện thực hóa thông qua việc thờ thần thành hoàng làng, như thần Cao Sơn, Quý Minh, Cao Lỗ, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Tiên Dung, v.v… hay thần của một vùng – thần Tản Viên, thần của cả nước/ Hùng Vương. Tín ngưỡng thờ thần được biểu hiện rất sinh động thông qua các lễ hội dân gian thường niên. Ngày hội văn hóa tâm linh là nơi phô diễn nghi lễ cùng những tập quán hay, phong tục đẹp. Ngày hội đua tài văn nghệ, thể thao dưới hình thức trò chơi dân gian của cả dân làng và dân trong vùng. Không khí tưng bừng của ngày hội xuân làm tan đi những vất vả lo toan của mùa vụ trong năm, người nông dân thư giãn bước sang năm mới, vụ mới; vừa tri ân thần linh và mong ước được thần linh phù giúp dân khang vật thịnh, mùa màng bội thu.

Việc thờ các thần ý nghĩa linh thiêng là thế, từng được các làng xã ở Bắc Bộ khai báo gửi cho chính quyền bảo hộ năm 1938 nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thống kê được trong số đó, có bao nhiêu làng xã thờ các thần thuộc thời Hùng Vương. “Lý lịch” hay hành trạng của các vị thần ra sao; lễ hội tái diễn lại các sự kiện lịch sử và những phong tục cổ xưa như thế nào? Khai thác chúng chắc chắn sẽ hữu ích cho tìm hiểu lịch sử, không chì đối với thời đại Hùng Vương.

Trong các loại hình truyền thuyết nêu trên, loại hình truyền thuyết được văn bản hóa, cố định lại trong thư tịch dưới dạng những truyện kể truyền kỳ, cổ tích, thần thoại, in thành sách được giới nghiên cứu tập trung khai thác nhiều hơn.

Ở nước ta tài liệu thư tịch chữ Hán đầu tiên chép về thời đại Hùng Vương là sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, viết lời tựa vào năm 1329. Lý Tế Xuyên đã dựa vào sách của một số tác giả Trung Quốc từng sống ở Việt Nam, nhưng nay đã mất, như: Giao Chi ký, Báo cực truyện (không rõ tác giả), Giao Châu ký của Triệu Công và Tăng Con đời Đường thế kỷ thứ IX; Ngoại sử ký của Đỗ Thiện đời Lý thế kỷ XII; và dựa vào những truyện trong dân gian ở nước ta để biên soạn Việt điện u linh, gồm 28 truyện 1Việt điện u linh, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2008.. Trong bộ sách này, có truyện – Tản Viên hựu thánh khuông quốc hiển ứng vương2Đền thờ chính Đức Thánh Tán ở núi Tàn Viên, huyện Ba Vì, Hà Nội. có nội dung chép về câu chuyện cầu hôn của Sơn Tinh và Thủy Tinh thời Hùng Vương.

Năm 1978, khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam, học giả o. w. Wolters đã phân tích một trong những bài thơ (dịch) của Phạm Sư Mạnh3Theo o. w. VVolters: “Tên của Phạm Sư Mạnh lần đầu tiên xuất hiện trong sách sừ vào những năm 1340. Đen năm 1358, ông giữ chức Hành khiển. Một số bài thơ của ông còn được lưu lại, ông viết khi đi công cán ờ phía Tây Bắc Việt Nam, có thể vào những năm 1360. Trong nhũng năm 1364 và 1365 có việc điều quân lẻn biên giới phía Bắc để ngăn ngừa hậu quà của cuộc nội chiến ờ miền Nam Trung Quốc, cũng đúng vào thời kỳ nhà Minh lên cầm quyền năm 1368”.:

“Ngược làn sóng trong, đậu thuyền ở bến đá. 

Kế lại coi sông tranh nhau ra đón cờ sứ thần của nhà vua đi qua.

Chốn phên dậu là sông Lô, nơi tụ hội là sông Thao

Đã tải qua ngày tháng nước Văn Lang, đã từng là núi sông vua Thục.

Xe thư đã thống nhất vạn dặm, ở biên giới lắng bụi chiến tranh,

Vũ trụ trải qua ngàn năm cuộc đời đã xảy ra nhiều việc

Ta nay đội ơn vua được trao quyền mở mang cõi ngoài

Xua đuổi trộm cướp, dập tắt nạn binh đao

(Hành quận – Đi kinh lý trong quận)4O.W.Wolters, “Sự thịnh trị về văn hóa của Việt Nam thế kỷ XIV”; trong Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nguyệt san Xưa & Nay – Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 132.

Cũng theo O.W.Wolters: “Phạm Sư Mạnh nói đến đất Thục, gắn với miền Văn Lang, chứng tỏ rằng ông cũng biết những truyền thuyết anh hùng đó. Có thể ông không biết đầy đủ truyền thuyết và đã nói đến “Văn Lang”. Theo tôi thì đó là một tư liệu Việt Nam có sớm nhất đã nói đến Vương quốc Văn Lang”5“Sự thịnh trị về văn hóa của Việt Nam thế kỳ XIV”, Sđd, tr. 133.

Để giải thích rõ hơn chữ “Văn Lang” và bác bỏ ý kiến của Maspéro cho rằng “đất Văn Lang là tên viết chệch đi của Yên Lăng ở miền Nam Trung Hoa thời nhà Hán. Văn Lang có thể chỉ một tiếng Việt Nam cổ “Vlang”, tên của một loài chim săn lớn và có thể là một tô tem mà các vua Hùng lấy tên để đặt cho vương quốc của họ”6“Sự thịnh trị về văn hóa của Việt Nam thế kỳ XIV”, Sđd, tr. 155..

Trong bài khảo cứu của mình, O.W.Wolters rất tâm đắc và hơn 20 lần nhắc đến tên nước Văn Lang với hàm ý tán đồng với Phạm Sư Mạnh, từng coi Vương quốc Văn Lang là thời thịnh trị của các vua Hùng. Điều đó cũng được chép trong Việt sử lược và Lĩnh Nam chích quái.

Sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp được viết vào khoảng đầu thế kỳ thứ XIV. Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại khoảng năm 1492 – 1493. Sau đó Lĩnh Nam chích quái được nhiều học giả soạn lại và bổ sung thêm truyện mới.

Hiện nay còn lại 9 bản Lĩnh Nam chích quái khác nhau7Vũ Ọuỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hóa – Viện Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 7.. Những truyện trong các bàn đó không hoàn toàn giống nhau; có bản nhiều hoặc ít truyện hơn. Các tác giả trước hết đều dựa vào những truyện trong dân gian, tuy có một số truyện được lấy trong nhũng sách xưa – Tái quỳ ký của Trương Quân Phòng đời Tống, Nam hải cổ tích ký của Ngô Lai đời Nguyên…8Hùng Vương dụng nước, Sđd, Tập I, tr. 82. để soạn Lĩnh Nam chích quái. Song có một điểm chung giữa các bản là đều ghi chép về truyện Hồng Bàng thị đời Hùng Vương.

Nhìn chung, Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái ghi chép về thời đại Hùng Vương còn mang nhiều tính chất hoang đường, nhưng ít nhiều cũng đã phản ánh được tình hình lịch sử, xã hội của tổ tiên chúng ta lúc bấy giờ. Vì vậy, các nhà sử học không thể không dựa vào đó, để tìm hiểu thực trạng lịch sử, xã hội thời Hùng Vương.

Năm 1272, Lê Văn Hưu soạn xong bộ Đại Việt sử ký – gồm 30 quyển, chép sự kiện từ Triệu Vũ đế (Triệu Đà) đến Lý Chiêu Hoàng, nhưng sách nay đã mất. Sử thần Phan Phu Tiên viết Sử kỷ tục biên – chép từ Trần Thái Tông (1225 – 1258) cho đến khi quân Minh rút về nước năm 1427.

Ngô Sĩ Liên được giao biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Năm 1479, sách được làm xong và dâng lên vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Trong phàm lệ về việc biên soạn sách cho biết: “Sách này (ĐVSKTT) làm ra, gốc ở hai bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên, tham khảo với Bắc sử, dã sử các bản truyện chí và những việc nghe thấy truyền lại, rồi khảo đính biên chép mà thành”9Ngô Sĩ Liên và các sừ thần đời Lê, Đại Việt sừ ký loàn thư, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, tr. 82..

Trong Đại Việt sừ ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên thêm vào kỷ họ Hồng Bàng và kỷ nhà Thục ở phần ngoại kỷ. Đây là bộ Quốc sứ đầu tiên chính thức đưa Hùng Vương mở đầu cho lịch sử dân tộc. Lời tựa có ghi: “Nước Đại Việt ta ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã chia vạch Nam Bắc; thủy to ta tự con cháu Thần Nông thị, thế là trời đã sinh ra chân chúa. Vì thế mới cùng với Bắc triều đều làm chủ một phương”10Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 17.. Các tác giả bộ Quốc sử hạ bút viết như vậy, thể hiện lòng tự tôn dân tộc của sử gia.

Năm 1511, Vũ Quỳnh soạn xong bộ Đại Việt thông giám, có ghi về họ Hồng Bàng, nhưng đến nay bộ sử đó không còn thấy hiện diện nữa.

Năm 1697, Lê Hy và nhóm sử thần đời Lê trung hưng dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Đại Việt thông giám và các tài liệu khác tục biên, soạn xong bộ Đại Việt sử ký toàn thư; cho khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697) và lưu hành cho đến ngày nay. Tài liệu ở phần Ngoại kỳ cũng là cơ sở để nghiên cứu thời đại Hùng Vương.

Sang thời Nguyễn, từ nửa sau thế kỳ XIX, Quốc sử quán dựa vào Toàn thư và các tài liệu khác đã biên soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Đây là một bộ sử lớn gồm 52 quyển. Trong đó Tiền hiên gồm 5 quyển, Chính hiên gồm 47 quyển. Phần Tiền biên chép kỹ hơn (có phê phán ghi chép của sử cũ) về thời đại Hùng Vương.

Ngoài những bộ chính sử còn một số bộ sử khuyết danh hoặc của một số tác giả khác cũng viết về thời đại Hùng Vương. Trong đó [Đại] Việt sử lược là một bộ sử khuyết danh, có thể được viết vào cuối đời Trần, khoảng nửa sau thế kỷ XIV. Sách này đã bị thất lạc, sau được đưa vào Tứ khố toàn thư\ được Tiền Hy Tộ đời Thanh hiệu đính, công bố… Từ năm 1960, sách đã được dịch ra tiếng Việt11Việt sử lược, Trần Quốc Vượng, dịch và chú giải, Nxb. Sừ học, Hà Nội, 1960. – Việt sứ lược, Tái bản, Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005.. Sách gồm 3 quyển. Quyển Một chép sơ lược về thời Hùng Vương. Một số tác phẩm khác như Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi; Việt giám thông khảo tong luận (1514) của Lê Tung; Vãn Đài loại ngữ của Lè Quý Đôn; Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, v.v… đều ghi chép ít nhiều về thời đại Hùng Vương. Ngoài những thư tịch ờ trong nước nêu trên, các nhà nghiên cứu cũng đã khai thác từ thư tịch cổ của Trung Quốc để tìm hiểu thời đại Hùng Vương.

Nhị thập tứ sử, Nhị thập ngũ sừ của Trung Quốc – gồm nhiều bộ sách từng được khai thác, nhưng ghi chép về thời Hùng Vương rất sơ sài, tản mạn, phiến diện. Trong đó điển hình là bộ Sử ký của Tư Mã Thiên (năm 67 TCN), có chép về Lạc Việt, Âu Việt. Tiếp đến là bộ Tiền Hán thư do Ban cố soạn, Ban Chiêu tập hiệu (thời Đông Hán thế kỳ thứ II SCN); Hậu Hán thư do Phạm Việp đời Tống, Lưu Chiếu đời Luơng soạn; Cựu Đường thư do Lưu Húc đời Hậu Tấn soạn… Các tài liệu đó phản ánh rất sơ lược lịch sử, xã hội nước ta thời cổ đại.

Ngoài những bộ sách trên còn những bộ chuyên sử khác của các học giả Trung Quốc không thể bỏ qua khi nghiên cứu lịch sử cổ đại nước ta. Tiêu biểu như bộ Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy. Khi chú giải Lịch Đạo Nguyên đã tham khảo, dẫn sách Thượng thư đại truyện của Phục Thắng đời Hán và Lâm Ấp ký, Giao Châu ngoại vực ký (thế kỷ thứ IV), các sách đó nay đều đã mất. Bộ Thông điển của Đỗ Hựu đời Đường (thế kỷ thứ VIII); Thúi Bình quàng ký của Lý Phỏng; Địa lý chí của Lưu Húc (thế kỷ X);

An Nam chí của Cao Hùng Trưng đời Thanh; Lĩnh Nam cố phương chí tập lục do Lâm Sàn Lộc biên soạn12Lĩnh Nam cổ phương chí tập lục (bản tiếng Trung), Lâm Sàn Lộc sưu tập và biên soạn, Lĩnh Nam mỹ thuật xã xuất bàn, 2007, Tập Thuợng và Hạ.. Nhìn chung, tài liệu trong Bắc sử không giúp được gì nhiều khi nghiên cứu thời Hùng Vương, tuy nhiên, các tài liệu trên khi đề cập đến thời kỳ Bắc thuộc nội dung ghi chép có khá hơn.

2. Truyền thuyết về thời Hùng Vương

Trong các sách sử trên thì Đại Việt sử ký toàn thư đã chép sừ nước ta từ Kinh Dương Vương làm vua đầu tiên, là con của Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông. Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Sau Đế Minh đi tuần phương Nam, lấy con gái của Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương. Đế Nghi được trị vì ở phương Bắc, Kinh Dương trị vì ở phương Nam. Nước của Kinh Dương gọi là Xích Quỷ. Kinh Dương đã lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long rồi sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai là Tổ của Bách Việt. Có lẽ vì thế mà người Việt coi nhau như cùng một bọc đồng bào.

Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền Nam.

Người con trưởng được nối ngôi vua cha, được gọi là Hùng Vương. Từ truyền văn này mà người Việt thường tự hào mình thuộc dòng giống Tiên, Rồng cao quý.

Hùng Vương lên ngôi vua lập nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Cương vực của nước Văn Lang phía bắc giáp hồ Động Đỉnh, phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông đến Nam hải, phía tây đến nước Ba Thục. Nước Văn Lang được chia làm 15 bộ: Giao Chi, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải,

Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hùng, Cửu Đức13Tên 15 bộ của nước Văn Lang, một số sách chép có sụ khác nhau: – Đại Việt sừ ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 61. – Quốc sứ quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sứ thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, Tập I, tr. 73 (Tiền biên Quyển thứ 1): “Bắt đầu chia trong nước làm 15 bộ là: bộ Giao Chi, bộ Chu Diên, bộ Vũ Ninh, bộ Phúc Lộc, bộ Việt Thương, bộ Ninh Hải, bộ Dương Tuyền, bộ Lục Hài, bộ Vũ Định, bộ Hoài Hoan, bộ Cửu Chân, bộ Bình Văn, bộ Tân Hưng, bộ Cừu Đức, còn bộ Văn Lang là nơi vua đóng đô.” – Lĩnh Nam chích quái, Sđd, tr. 23: “Việt Thường, Giao Chi, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hài, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng quận”. – Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 212 : chia trong nước làm 15 bộ: Giao Chi, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hài, Vũ Định, Hoài Hoan, Cừu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cừu Đức” (14 bộ, thiếu 1 bộ). – Ngô Thời Sĩ, Việt sử tiêu án, Nxb. Thanh niên, tr. 13: “15 bộ là: Giao Chi, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Toàn, Lục Hải, Vũ Dinh, Hoài Hoan, Cừu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cừu Đức”. – Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960, Tập I, tr. 25: “…chia nước ra làm 15 bộ: Giao Chi, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cừu Đức. Chỗ nhà vua ở gọi là nước Văn Lang”.(Z .77/C ). – Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, tr. 24: “Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: (1) Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên). 9. Dương Tuyền (Hải Dương). (2) Châu Diên (Sơm Tây). 10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định…). (3) Phúc Lộc (Sơn Tây). 11. Cửu Chân (Thanh Hóa). (4) Tân Hưng (Hưng Hóa – Tuyên Quang). 12. Hoài Hoan (Nghệ An). (5) Vũ Định (Thái Nguyên -Cao Bằng). 13. Cửu Đức (Hà Tình). (6) Vũ Ninh  (Bắc Ninh). 14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị). (7) Lục Hải (Lạng Sơn). 15. Bình Văn (?)” (8) Ninh Hải (Quảng Yên). – Ngọc phả cổ truyền về mười tám chi đời thánh vương triều Hùng. Hàn Lâm viện Trực học sĩ Nguyễn c ố phụng mệnh soạn. Ngày tốt, tháng 3, năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên (1470). Ngày tốt tháng 10, mùa Đông, năm Canh Tý, niên hiệu Hoàng Định nguyên niên (1600), Hàn lâm Thị độc Nguyễn Trọng hiệu đính, Lễ phiên Lê Đình Hoan sao. Bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Hồ sơ khoa học đền Hùng và các di tích thời đại Hùng Vương vùng phụ cận, năm 2003. Sách Khu di tích lịch sử và rừng Quốc gia đền Hùng do Phạm Bá Khiêm biên soạn và giới thiệu. Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ xuất bản. năm 2008. tr. 176 ghi: “…Vua (Hùng) mới phong hầu, lập phên dậu, chia trong nước làm mười lăm bộ: Bộ thứ nhất là Sơn Tây, bộ thứ hai là Sơn Nam, bộ thứ ba là Hải Dương, bộ thứ tư là Kinh Bắc, bộ thứ năm là Ái Châu, bộ thứ sáu là Hoan Châu, bộ thứ bảy là Bố Chính, bộ thứ tám là Ô Châu, bộ thứ chín là Ai Lao, bộ thứ mười là Hưng Hóa, bộ thứ mười một là Tuyên Quang, bộ thứ mười hai là Cao Bằng, bộ thứ mười ba là Lạng Sơn, bộ thứ mười bốn là Quảng Tây, bộ thứ mười lăm là Quảng Đông”.. Bộ Văn Lang là nơi vua đóng đô.

Bộ máy cai trị gồm: tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng, con trai của vua gọi là Quan lang, con gái gọi là Mỵ nương. Quan coi việc gọi là Bồ chính; đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo. Các vua truyền nối 18 đời14Các vua Hùng truyền nối 18 đời. Con số 18 đời vua Hùng có ý nghĩa tương đối; có thể hiểu các vua Hùng truyền nối nhiều đời. Hiện nay trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ còn di tích đền thờ các vua Hùng. Cả nước coi vua Hùng là Quốc tổ. Hàng năm vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân từ mọi miền đến đây chiêm bái, cùng làm lễ Quốc tế. đều gọi là Hùng Vương.

Sử thần Ngô Sĩ Liên khi viết phàm lệ cho rằng: “Từ Hùng Vương trở về trước không có niên biểu, là vì thứ tự các đời vua truyền nhau không thể biết được, hoặc có nói là 18 đời, e rằng chưa chắc đã đúng.” Quả thực, thời đại các vua Hùng được phản ánh trong sử sách quá ít, mơ hồ. Tục người Việt xăm mình để tránh loài thủy quái làm hại, hoặc tục nhuộm răng ăn trầu, sự tích bánh chưng, bánh dầy, dưa hấu… không rõ được hình thành vào đời vua Hùng thứ mấy?

Hoặc theo sử chép vào đời Hùng Vương thứ 6 có truyện Thánh Gióng 3 tuổi ở hương Phù Đổng đã cưỡi ngựa sắt, mặc giáp sắt, đội nón sắt, múa gươm sắt đánh tan giặc Ân; sau đó bay lên trời ở núi Sóc, huyện Kim Hoa (nay là xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Hiện ờ làng Phù Đổng huyện Gia Lâm, Hà Nội còn miếu thờ Phù Đổng Thiên Vương.

Vào đời Hùng Vương thứ 18, sử sách chép truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Hùng Vương kén rể cho con gái là Mỵ Nương. Sơn Tinh mang lễ vật đến trước nên đã đón được Mỵ Nương về núi Tàn Viên. Thủy Tinh chậm chân đến sau không lấy được Mỵ Nương bèn tức giận dâng nước tràn ngập, đem các loài thủy quái đuổi đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh dâng núi lên cao đánh bại Thủy Tinh. Nhưng Thủy Tinh vẫn chưa chịu thua. Hàng năm vẫn dâng nước vào mùa mưa đánh Sơn Tinh để báo thù.

Thục Vương cũng muốn cưới Mỵ Nương, nhưng bị can ngăn, từ chối. Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương căm giận dặn lại con cháu nhất định phải kiêm tính Văn Lang. Đến đời cháu là Thục Phán dũng lược đã chiếm được Văn Lang, dựng nước Âu Lạc.

Như vậy, Ngoại kỳ Hồng Bàng tính từ Kinh Dương Vương cùng thời với Đề Nghi năm Mậu Tuất (2879 TCN), truyền đến cuối đời Hùng Vương, ngang với Chu Noãn vương năm thứ 57 là năm Quý Mão (258 TCN, cộng được 2.622 năm (2879 – 258).

Sử chép là như thế, nhưng chính các nhà viết sử cũng không khỏi băn khoăn, hồ nghi về chính những điều mà mình viết ra. Ngô Sĩ Liên từng bàn: “Đời Hùng Vương, đặt chư hầu làm phên giậu, chia nước làm 15 bộ, ngoài 15 bộ ấy đều có Trưởng và Tá, các con cứ theo thứ tự chia nhau để trị. Cái thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu không phải là thế? Vì mẹ làm quân trưởng, các con đểu làm chủ một phương. Cứ xem như Tù trưởng

Man ngày nay, xưng là nam phụ đạo, nữ phụ đạo. Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”15Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 63..

Sau Ngô Sĩ Liên 300 năm, Sử gia Ngô Thì Sĩ khi xét xử cũ cũng không khỏi nghi ngờ: “…Họ Hồng Bàng khởi từ năm Nhâm Tuất, đến hết năm Quý Mão, Hùng Vương mất nước, An Dương (Vương) nổi lên, đích xác thuộc về năm 57 đời vua Chu Noãn. Lại lấy con toán mà kể xem từ khoảng đời Kinh, đời Hùng, 20 đời vua 2.622 năm, nhiều ít trừ đi bù lại, mỗi vua được 120 tuổi. Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thể?”16Việt sử tiêu án, Sđd, tr. 18.

Sang thế kỷ XX, Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược có tham khảo sách truyện chép về đời thượng cổ ở nước ta và cho rằng: “Chang qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả”17Việt Nam sử lược, Sđd, tr. 27..

Như vậy, từ xưa đến nay nhiều thế hệ các nhà sử học đều đã chọn lựa tài liệu để đưa Hùng Vương vào chính sử. Tuy vậy, nhiều điều vẫn còn hoài nghi nêu trên. Tính chân xác của lịch sử chưa thực sự có sức thuyết phục.

Trong khi đó, những tài liệu thư tịch được biết đến sớm như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái đều không phải là sách sử. Đấy là những tập truyện truyền kỳ dân gian, ít nhiều phản ánh lịch sử, song tính chất hoang đường càng rõ nét hơn. Trong điều kiện tài liệu nghèo nàn, thiếu độ tin cậy như vậy khiến các nhà sử học thời quân chủ khi chép về thời đại mở đầu lịch sử nước nhà còn hoài nghi là lẽ đương nhiên. Vì thế, việc sử dụng kết quả của phương pháp mới – nghiên cứu tổng hợp liên ngành có thể làm sáng tỏ dần những vấn đề lịch sử của thời đại Hùng Vương đang đặt ra.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam- Vũ Duy Mền

Xem thêm: