Tử diêu y thoại – Cang hại thừa chế

Đã là Đông y, ai cũng biết học thuyết Ngũ hành là một phần rất quan trọng. Trong học thuyết Ngũ hành thì quy luật “Cang hại thừa chế” lại rất phức tạp.

Đã là Đông y, ai cũng biết học thuyết Ngũ hành là một phần rất quan trọng. Trong học thuyết Ngũ hành thì quy luật “Cang hại thừa chế” lại rất phức tạp. Có nắm vững được qui luật đó, khi lâm sàng biện chứng luận trị mới đúng, mà tiến hành liệu pháp mới khỏi sai lầm. Đối với qui luật đó, tôi chưa dám nói là đã nắm vững, nhưng cũng xin thử phân tích sơ qua mấy nét ra sau đây:

Con người dựa vào khí để thành hình; nếu khí mất sự quân bình thì sẽ sinh bệnh. Cho nên một khi Can mộc vượng quá, Can sẽ thành “cang”. Can “cang” thì hại Tỳ; Tỳ bị hại thì không sinh được Kim, đồng thời không phòng được Thủy. Cho nên Mộc “cang” thì Kim Thủy đều bị thương. Lúc đó nên phù Kim làm chủ yếu. Kim được phù thì chế được Mộc mà Mộc sẽ bình; Mộc được bình, thì sẽ hòa với Thổ mà Thủy không tràn lên được; Kim sẽ được sinh.

Nếu Phế Kim vượng quá, thì Phế sẽ thành “cang”. Phế “cang” thì không sinh được Thủy mà hại Mộc. Mộc bị bệnh thì Tỳ cũng bị tổn. Lúc đó, nên phù Hỏa để chế Kim; Hỏa vượng thì Kim sẽ ấm mà bình; Kim bình thì sinh được Thủy, đồng thời lại chế được Mộc; Mộc có sự chế thì sẽ hòa mà không hại đến Tỳ.

Lại như Tỳ Vị bị thấp nhiệt và ăn uống, nghĩ ngợi quá độ thì khí của Tỳ Vị sẽ “cang”; Tỳ Thổ “cang” thì sẽ làm hại đến Thận mà không sinh được Kim, Kim yếu thì “hóa nguyên” của Thủy sẽ bị tuyệt, do đó Thận lại càng suy. Lúc đó nên “sơ” Mộc để chế Thổ, Thổ được bình thì Kim với Thủy đều được bình.

Lại như Thận bị “cang” thì Thủy tràn; Thủy tràn thì sẽ mất cái chức năng lưu hành của nó mà không sinh được Mộc, Mộc bị thương thì “tà” sẽ xâm phạm sang Thổ, do đó Tỳ Vị cũng bị thương. Lúc đó nên bổ Hỏa để sinh Tỳ; Tỳ vượng thì Thủy có cái chế mà được bình.

Tóm lại, Hỏa cang, Thủy cang, Mộc cang, Kim cang… đều có thể làm lụy đến Tỳ. Tỳ bị lụy thì khí của Hậu thiên sẽ bị thương; khí của Hậu thiên bị thương, thì Tiên thiên cũng không hoàn thành được cái nhiệm vụ “sinh sinh”. Cần phải dùng phương pháp nạp khí để điều trị. Bởi Vị khí là dương của Trung Thổ, Tỳ khí là âm của Trung Thổ. Tỳ không nhờ được dương của Vị khí, thì phần nhiều “hạ hãm”; Vị không nhờ được âm của Tỳ khí thì không lấy gì vận hóa mà “chuyển du” tới 5 tạng. Tỳ đã không “chuyển du”, thì Tâm cũng không lấy gì phụng dưỡng để hóa thành sắc đỏ; Tâm không hóa được thành sắc đỏ, thì Tâm Hỏa yếu không chế được Kim; Kim không có cái chế, thì cái chức năng hạ giáng không tiến hành được… đến lúc đó thì trong 5 tạng sẽ có thể đều mất mức độ quân bình. Lại như: Tỳ khí do Tâm mà đến Phế; Phế được khí sẽ phát triển được cái chức năng “hạ giáng”, vào Tâm thành huyết, vào Can và Tỳ cũng thành huyết, vào Thận thì thành tinh, ở chính bản tạng thì thành “dịch” – (tức chất lỏng, cũng là huyết).

Năm tạng đều hòa mới có thể cùng sinh khấc lẫn nhau, cùng sinh, khắc, chế, hóa mà không có “quá” và “bất cập”, như vậy gọi là khí được quân bình. Sở dĩ có sự không được quân bình, hoặc do cảm nhiễm phải lục khí, thì là “ngoại thương” mà mất sự quân bình, hoặc do uống ăn, tình dục và thất tình thì là “nội thương” mà mất sự quân bình. Tiên thiên mất sự quân bình, sẽ ảnh hưởng đến Hậu thiên; Hậu thiên mất sự quân bình sẽ ảnh hưởng đến Tiên thiên. Hễ có sự ảnh hưởng, thì phần nhiều đi đến tình trạng Thận không “nạp khí” Cho nên y giả trước hết phải xét rõ nguyên nhân phát bệnh đồng thời lại phải xét xem tạng nào “cang”, tạng nào yếu. “Cang” thì lấy “thừa” để chế, bởi con có thể báo được thù cho cha; “yếu” thì tìm về phương diện “sinh hóa”, bởi “chế” thì sẽ sinh ra hóa, mà lấy Tỳ làm chủ chốt. Vì khí của 5 tạng, đều phải dựa vào Tỳ Thổ để dồn khí tới nơi nguồn gốc của Tiên thiên, do đó mà mọi bệnh đều tiêu tán.

Xem thêm: